phần còn lại của sự nghiệp. Cuộc sống của ông đến thời điểm đó đầy mâu thuẫn và căng thẳng tài chính, khiến ông rất cẩn trọng với danh tiếng của mình. James Watson, vào năm 1953 là một trong số những người phát hiện ra cấu trúc của DNA, đã tham gia khóa học của Muller về di truyền học nâng cao tại Indiana vào cuối những năm 1940 và kể về Muller, “các tổn thương quá khứ không bao giờ được chôn chặt, và hết lần này đến lần khác ông không hiểu sao mình lại là người đầu tiên phải chịu hậu quả cho thí nghiệm của mình. Nhưng… số phận luôn luôn có vẻ đã định rằng ông sẽ là người đầu tiên.”[33] Muller tin vào sự hoàn hảo của con người thông qua “lựa chọn mầm mống” tự nguyện, như cách ông gọi nó. Ông cũng biết từ nghiên cứu di truyền học của mình rằng đột biến là ngẫu nhiên và chủ yếu là ác tính: chúng gây hại thường xuyên hơn nhiều so với cải thiện gen.[34] Đột biến nhân tạo, ông nói trong bài giảng Nobel của mình, cho phép ông “bằng cách chiếu xạ trong nửa giờ, có gấp hàng trăm lần đột biến trong một nhóm các tế bào mầm được xử lý so với tốc độ đột biến tự nhiên trong quá trình của cả một thế hệ.” Trong điều kiện thí nghiệm của mình với ruồi giấm, tần suất đột biến như vậy tỉ lệ thuận với liều lượng bức xạ được sử dụng. Sau đó, ông lập luận, “không có lối thoát nào khỏi kết luận rằng không có ngưỡng chính xác”: mọi sự chiếu xạ đều gây ra đột biến, hầu hết các đột biến đều gây tổn hại hoặc gây chết người, và chúng không thể bị đảo ngược và tồn tại vĩnh viễn.[35] Đối với cá nhân Muller, điều đó có nghĩa là nghiên cứu, y học, và thậm chí với công nghiệp nói chung, đặc biệt là với “việc sử dụng năng lượng nguyên tử ngày càng tăng,” đều phải gánh vác một nghĩa vụ khẩn cấp: thực hiện các “biện pháp phòng ngừa đơn giản” để bảo vệ cơ quan sinh sản khỏi bức xạ. Ông “biết chắc chắn” từ những thí nghiệm trên các sinh vật bậc thấp hơn chủ yếu là ruồi giấm rằng tất cả các bức xạ năng lượng cao sẽ tạo ra những đột biến như vậy trên con người.[36] Khi Muller đến Stockholm vào tháng 12 năm 1946 để nhận giải thưởng Nobel, tự tin khẳng định rằng bất kỳ sự phơi nhiễm phóng xạ nào, dù có
giới hạn đến đâu, sẽ gây hư hại di truyền, ông cố tình tránh đề cập rằng mình vừa được chứng kiến bằng chứng ngược lại. Vào giữa tháng 11, ngay trước khi Muller đi Thụy Điển, một đồng nghiệp mà ông cộng tác trong dự án thử nghiệm di truyền của Dự án Manhattan tên là Curt Stern đã gửi cho ông một bản thảo nghiên cứu của một nhà khoa học Dự án Manhattan khác, nhà nghiên cứu hành vi côn trùng Ernst Caspari. Nghiên cứu của Muller, và của những người khác trong những năm qua, khám phá những ảnh hưởng của liều phóng xạ cao và trung bình. Caspari mở rộng nghiên cứu về phạm vi liều thấp và đặt câu hỏi cụ thể liệu rằng hiệu ứng sẽ giống nhau khi liều được lan truyền trong một khoảng thời gian (“kinh niên”) thay vì cho phơi nhiễm tất cả trong một lần (“cấp tính”). Người tiền nhiệm của Caspari đã phát hiện với chiếu xạ cấp tính thì đột biến tăng tỉ lệ thuận với liều phóng xạ, từ 4.000 r (45) xuống đến 25 r. Phát hiện mới đáng ngạc nhiên của Caspari là ruồi giấm tiếp xúc với liều 2,5 r hằng ngày trong 21 ngày liên tục, với tổng số 52,5 r, cho thấy không có sự gia tăng tỉ lệ đột biến nào. “Kết quả này,” ông viết, “có vẻ như mâu thuẫn trực tiếp với phát hiện trước đó rằng chiếu xạ cấp tính với 50 r và thậm chí 25 r gây gia tăng đáng kể tỉ lệ đột biến.”[37] Phát hiện mới của Caspari đặt Muller vào một tình thế nan giải. Ông đang chuẩn bị nhận giải thưởng Nobel cho phát hiện ra đột biến nhân tạo mà ông tuyên bố sẽ xảy ra với bất kỳ liều phóng xạ nào lớn hơn không. Kết quả mới của Caspari mâu thuẫn với tuyên bố đó, hoặc ít nhất là làm dấy lên nghi ngờ về nó. Ông nên làm gì?[38] Những gì ông đáng ra phải làm là giới hạn lại bài giảng Nobel của mình. Ông hiểu rằng bằng chứng của Caspari đã chỉ ra ngưỡng phóng xạ liều thấp có thể chịu được tác hại phóng xạ. Muller viết phản hồi Stern vào ngày 12 tháng 11 rằng đã nhận được bản thảo, cáo lỗi vì quá bận rộn với công việc trước khi đi Stockholm vào đầu tháng 12 nhưng hứa sẽ “đọc thật kỹ vào thời gian hợp lý” vì “nó có tầm quan trọng vô cùng và kết quả dường như trái ngược hoàn toàn với những gì bạn và những người khác đã thu được.”[39] Tuy nhiên, tại Stockholm, Muller đã nhận giải thưởng Nobel và sau đó cố tình bỏ qua những phát hiện của Caspari trong bài giảng của mình. Trở lại Indiana vào tháng 1 năm 1947, Muller đã đánh giá bài báo của Caspari một cách cẩn thạn hơn. Bài báo hầu như không có điểm nào để phê phán - ông nói với Stern rằng “gần như không có gì để nói về bản thảo đó”
- mặc dù ông nghĩ rằng ai đó nên làm lại thí nghiệm để xem họ có thu được kết quả giống vậy hay không. Sau đó, ông tham gia với tư cách là phản biện cho bài báo này khi được nộp đăng trên tạp chí Genetics. Khi bài báo này được đăng vào tháng 1 năm 1948, nó phản ánh hai thay đổi: tên Muller nay xuất hiện trong