hồi chấn thương tủy sống, c n thức cập nhật về y khoa. Anh đã ngừng chú ý nhiều tới dòng thác thông nỗi ám ảnh đối với những vụ án anh nhận xử lý cho Cơ quan Điều tra L ng và sở Cảnh sát New York hạn chế đáng kể thời gian đọc thêm của ang hạn chế việc anh rong ruổi khắp nước tìm kiếm phương pháp điều trị mớ Susan nói:“Tôi đã tham gia vài Chương trình ở đó. Một số người thuộc ức tương trợ Chấn thương Tủy sống của tôi cũng tham gia.” Tổ chức tương trợ Chấn thương Tủy sống. Rhyme cảm thấy thất vọng. At tiếp theo sẽ là gì. Nhưng Susan lại lần nữa bước trước một bước. “Yên tâm, tôi không định b h tham gia đâu. Anh trông không có vẻ sẽ là thành viên thích hợp.” Cặp m lánh ánh hài hước trên gương mặt hình trái tim của cô. “Đối với bất cứ ức nào.” “Đúng vậy.” “Tẩt cả những gì buổi tối hôm nay tôi đề nghị chỉ là anh lắng nghe tôi nói.” “Tôi có thể thực hiện việc ấy.” “Nào, Pembroke là sự tấn công ồ ạt vào điều trị chấn thương tủy sống. Họng tẩt cả các phương pháp.” Có nhiều kỹ thuật hứa hẹn sẽ giúp đỡ những người bị khuyết lật nghing. Nhưng vấn đề là tiền bạc. Mặc dù thuộc loại tổn thương nghiêm trọng, chứng ảnh hưởng suốt cuộc đời, thực tế là so với các bệnh tật khác, nhữ thương nghiêm trọng về tủy sống tương đối hiểm gặp. Điều đó có nghĩah phí chính phủ và doanh nghiệp chi cho nghiên cứu vốn vẫn chạy v ững chỗ có thể đưa ra các phương pháp, các dược phẩm cứu được nh ười hơn. Vì thế, hầu hết các phương pháp hứa hẹn cải thiện đáng kểt ng sức khỏe bệnh nhân vẫn chỉ ở mức độ thử nghiệm và chưa được ch ận tại Mỹ. Một số kết quả đạt được hết sức khả quan. Trong các phòng thí nghi hiên cứu, những con chuột bị tổn thương tủy sống nghiêm trọng thực tế
ớc đi trở lại được. Giải pháp mấu chốt để giảm thiểu hậu quả của chấn thương tủy sống là xử u vực bị tổn thương ngay lập tức sau tai nạn bằng các thứ thuốc có tác dụ ống phình và ngăn chặn các dây thần kinh dần dần ngừng hoạt động ởk c này. Nhưng cửa sổ cơ hội cho việc ấy rất nhỏ, thông thường chỉ vài tiếng hồ hay vài ngày sau tai nạn. Vì đã chịu tổn thương nhiều năm, Rhyme và Susan Stringer chỉ có thểt ng các kỹ thuật khắc phục hậu quả. Tuy nhiên, hướng đó cũng luôn luôn g ải vấn đề cực kỳ khó giải quyết: Những tế bào hệ thần kinh trung ương - ững tế bào não và tủy sống - không tái sinh theo cái cách của những tế b ngón tay ta khi bị đứt. Đây là trận chiến hằng ngày đối với các bác sĩ, các nhà nghiên cứu vềch ương tủy sống, và Pembroke là đội quân tiên phong. Susan mô tả một loạt c thuật đầy ấn tượng mà trung tâm đưa ra. Họ đang làm việc với các tế b c, thực hiện định tuyến lại các dây thần kinh - sử dụng các dây thần k oại biên (bất cứ dây thần kinh nào nằm bên ngoài cột sống có thể tái sin u trị khu vực bị tổn thương bằng thuốc và các chất thúc đẩy tái sinh tế b thậm chí đang xây dựng những “cầu nối” không có cấu tạo tế bào để chuyng động thần kinh giữa não và các cơ. Trung tâm cũng có khoa cấy lắp các bộ phận giả khá quy mô. “Thật đáng kinh ngạc.” Susan nói với Rhyme. “Tôi đã xem video về một cô thân dưới, được cấy lắp thiết bị điều khiển vi tính hóa và một loạt dây đi ta đã có thể bước đi gần như bình thường.” Rhyme đang đăm đăm nhìn vào chiều dài đoạn cáp Bennington mà Galt dụng trong vụ tấn công thứ nhất. Dây điện… Susan mô tả một sản phẩm được gọi là hệ thống Không Máy móc Hỗ trợ, c sản phẩm tương tự, sử dụng kỹ thuật cấy lắp các kích thích tố và các đ c vào cánh tay. Bằng cách nhún vai hay quay cổ theo một cách nhất đị ười ta có thể tạo ra các động tác phối hợp giữa cánh tay và bàn tay. Một nh nhân liệt toàn thân, như cô nói, thậm chí có thể tự xúc ăn. “Không phải các chiêu bịp bợm bẩn thỉu, bác sĩ ăn xương uống máu nhữn người vốn đã rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng đâu” Susan giận dữ nhắc t bác sĩ ở Trung Quốc đã đút túi hai mươi nghìn đô la khi khoan lỗ vào đầu sống của bệnh nhân để cấy các mô lấy từ bào thai. Mà, tất nhiên, chẳm đến tác dụng rõ ràng nào ngoài việc khiến bệnh nhân đứng trước nguy ử vong, bị tổn thương nhiều hơn, bị phá sản.
Đội ngũ làm việc tại Pembroke, cô nói, tất cả đều tốt nghiệp các trường oa hàng đầu trên thế giới. Và những khẳng định được đưa ra một cách thực tế - tức là, khiêm tốn. M nh nhân liệt toàn thân như Rhyme sẽ không thể nào đi được trở lại, nhưh sẽ có thể cải thiện chức năng phổi, cử động thêm các ngón tay khác, an trọng nhất, lại kiểm soát được đại, tiểu tiện. Điều này sẽ làm giảm ều nguy cơ anh bị các triệu chứng tăng phản xạ tấn công - huyết áp lên c n vụt có thể dẫn đến đột quỵ, khiến anh thậm chí liệt nặng hơn. Hoặc m ng. “Họ đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi cho là vài năm nữa tôi sẽ lại đi được.” Rhyme gật đầu. Anh không thể nghĩ ra điều gì để nói. “Tôi không làm việc cho họ. Tôi không phải một người ủng hộ quyền c ười khuyết tật. Tôi là một biên tập viên tình cờ là một bệnh nhân liệt hai châng vang vọng này khiến Rhyme phải nở nụ cười yếu ớt. Susan tiếp t hưng khi Thám tử Sachs nói cô ấy đang làm việc với anh, tôi nghĩ, Số Ph được số phận định đoạt phải tới nói với anh về Pembroke. Họ có thể giúp h.” “Tôi… rất biết ơn.” “Tất nhiên, tôi từng được đọc về anh. Anh đã làm nhiều điều tốt đẹp c nh phố. Có lẽ chẳng còn sớm nữa để anh làm điều gì đó tốt đẹp choch n thân mình.” “Chà, phức tạp đấy.” Rhyme không biết câu ấy có nghĩa là gì, càng không b sao anh nói nó ra. “Tôi biết, anh lo lắng về rủi ro. Và anh nên thế.” Đúng, phẫu thuật có thể rủi ro cho anh, một bệnh nhân liệt mức C4, nh n cho Susan. Anh dễ dàng gặp những diễn biến phức tạp về huyết áp, hôh nhiễm trùng. Vấn đề là sự cân bằng. Liệu cuộc phẫu thuật có đáng ông? Cách đây mấy năm, anh đã suýt trải qua một cuộc phẫu thuật nhưt vụ án đã khiến kế hoạch bị chệch đường. Anh đã hoàn tất cả các phươ áp điều trị y khoa loại này vô thời hạn. Còn bây giờ? Rhyme cân nhắc: Cuộc đời anh có diễn ra theo cái cách anh c không? Lẽ dĩ nhiên là không. Nhưng anh hài lòng. Anh yêu Sachs, và u anh. Anh sống vì công việc của mình. Anh không háo hức với chuyện n cả những thứ ấy đi để đuổi theo một giấc mơ không có thật. Mặc dù vốn thường hay giữ kín cảm nghĩ riêng, Rhyme đã nói với Sus inger điều này, và cô hiểu. Rồi anh tự khiến mình ngạc nhiên bằng việc nói thêm một điều anh chưa với nhiều người. “Tôi cảm thấy tôi và tâm trí của tôi hầu như là một. Tôi sống tâm trí tôi. Và tôi thi thoảng nghĩ rằng đó là một trong những lý do đểm nhà hình sự học như tôi bây giờ. Không có những sự xao lãng. Sức mạ a tôi xuất phát từ tình trạng khuyết tật của tôi. Nếu tôi thay đổi, nếu tôi trởn ng mở ngoặc, bình thường, liệu điều ấy có ảnh hưởng đến nhà khoah ám nghiệm hiện trường trong tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi khô ốn thử.” Susan ngẫm nghĩ về điều này. “Suy nghĩ thú vị đấy. Nhưng tôi băn khoăn phải chăng đó là một chiếc nạng để dựa, một cái cớ để không chấp nhận ” Rhyme đánh giá cao nhận xét đó. Anh thích lối nói chuyện thẳng thắn. A đầu chỉ chiếc xe lăn của mình. “Một chiếc nạng cũng đã là bước tiến tro àn cảnh của tôi rồi.” Susan bật cười. “Cảm ơn những suy nghĩ của cô.” Rhyme nói thêm, vì anh cảm thấym ải nói, và cô đăm đăm hướng vào anh một cái nhìn thấu hiểu nữa. Cách b đó bây giờ đã bớt gây khó chịu, tuy vẫn gây bối rối. Susan quay xe đi, và nói, “Nhiệm vụ đã hoàn thành.” Rhyme chau mày. Susan nói, “Tôi đã đem tới cho các vị hai sợi vải mà nếu không các vị có lẽ ẳng tìm thấy.” Cô mỉm cười. “Giá được nhiều hơn.” Ánh mắt trở vềp yme. “Nhưng đôi lúc những thứ bé nhỏ lại làm nên cả sự khác biệt. Bâyg nên đi.” Sachs cảm ơn Susan và Thom tiễn cô ra cửa. Sau khi cô đã rời khỏi phòng thí nghiệm, Rhyme hỏi, “Vừa xong là một ưu, phải không?” Sachs đáp, “Phần nào là một âm mưu, Rhyme. Dẫu sao chúng ta cũng c ải phỏng vấn chị ta. Khi em gọi điện để thu xếp, bọn em đã nói chuyện. ta nghe nói em làm việc với anh, chị ta muốn đến thuyết phục anh. Em b ta rằng em sẽ bố trí cho chị ta gặp người hùng xe lăn.” Rhyme thoáng mỉm cười. Rồi nụ cười từ từ biến mất khi Sachs cúi xuống, nói với giọng Mel Coo ông nghe được, “Em chẳng muốn anh khác đi chút nào đâu, Rhyme. Như muốn chắc chắn rằng anh mạnh khỏe. Đó là tất cả những gì em quan tân anh lựa chọn sao cũng được.” Trong giây lát, Rhyme nhớ lại tựa đề ấn phẩm quảng cáo mà Tiến sĩ Kopes ộc tổ chức Chết trong Phẩm giá, để lại. Lựa chọn.
Sachs vươn người hôn Rhyme. Anh cảm thấy lòng bàn tay cô áp vàot ơng mình hơi khác cách bày tỏ tình thương mến. “Anh bị sốt à?” Anh hỏi, mỉm cười nhận ra ý cô. Sachs bật cười. “Tất cả chúng ta đều có nhiệt độ thế nào đó, Rhyme. Còn ông biết anh có sốt hay không.” Cô lại hôn anh. “Thôi, đi ngủ đi. Mel và em đây một lúc. Rồi em cũng sẽ đi ngủ ngay thôi” Cô quay lại với những chứ mình thu thập được. Rhyme lưỡng lự, nhưng sau quyết định rằng anh đã mệt mỏi, quá mệt mỏi trợ được gì nhiều vào lúc này. Anh lăn xe về phía thang máy, Thom đón a đấy và họ bắt đầu đi lên trong cái buồng thang máy tí hon. Mồ hôi vẫn lấm t n trán anh, dường như hai má anh đỏ ửng lên. Đây là những triệu chứng tă ản xạ. Nhưng anh không đau đầu, không thấy xuất hiện cái cảm giác b ớc cơn bệnh. Thom sửa soạn cho anh lên giường và làm các thủ tục buổi y đo huyết áp và nhiệt kế lúc nào cũng sẵn sàng. “Hơi cao” Anh ta nóing cụ thứ nhất. Về dụng cụ thứ hai, thực tế là Rhyme không sốt. Thom khéo léo đưa Rhyme lên giường và anh hình dung trong tâm trí chs nói mấy phút trước. Tất cả chúng ta đều có nhiệt độ thế nào đó, Rhyme. Anh không thể nào không nghiêm túc nghĩ rằng xét về mặt lâm sàng, đ y là chính xác. Tất cả chúng ta đều có nhiệt độ thế nào đó. Thậm chí cả ngư ết.