phần còn vì qum mà Rhyme đã truyền sang cho cô. Là một nhà khoa học thuần túy, m ười theo chủ nghĩa duy lý, sự tài ba của Rhyme trong lĩnh vực khám nghin trường còn nhờ ở anh có khả năng phi thường đọc được suy nghĩ củat ạm. Nhiều năm trước, ngay lần đầu tiên họ cùng làm việc, một hiện trường khủ ếp cũng liên quan tới hệ thống phục vụ công cộng - trong vụ án đó làng hơi nước nóng - Rhyme đã thì thào với Sachs cái điều cô thuộc nằm lòi khi đi theo ô bàn cờ, “Anh muốn em trở thành hắn,” anh nói về thủ phạ ãy chui vào đầu óc hắn. Em vốn vẫn tư duy theo cách của chúng ta. A ốn em hãy tư duy theo cách của hắn.” Rhyme từng bảo Sachs mặc dù anh tin tưởng rằng khoa học khám nghin trường có thể học được, khả năng thấu cảm này là năng khỉếu bẩm si Sachs tin tưởng rằng cách tốt nhất để duy trì mối liên hệ này - sợi dây đ y, bây giờ cô hình dung như thế, giữa kỹ năng và con tim - là không khin ên đi các nạn nhân. “Sẵn sàng chưa?” Cô hỏi Pulaski. “Tôi nghĩ là rồi!” “Bọn em chuẩn bị rà soát hiện trường đây, Rhyme.” Sachs nói vào micro. “Được, nhưng hãy làm việc ấy mà không có anh nhé, Sachs.” Cô lo lắng. Mặc dù Rhyme phủ nhận, anh không khỏe. Cô có thể dễ dà ận thấy điều này. Nhưng hóa ra có một lý do khác khiến anh rút lui. “A ốn em rà soát hiện trường cùng anh chàng ở Algonquin.” “Sommers?” “Phải!” “Tại sao?” “Một phần, anh thích đầu óc của anh ta. Anh ta có tư duy rộng. Chắc đấy a cạnh của con người phát minh. Anh không biết. Nhưng ngoài ra, có cá không ổn, Sachs ạ. Anh không giải thích được. Anh cảm thấy chúng ta đa qua cái gì đó. Galt ít nhất đã phải lên kế hoạch cho sự việc cả tháng nay y nhiên, bây giờ, có vẻ như các vụ tấn công đang diễn ra nhanh hơn, haing vòng một ngày. Anh không hiểu được.” “Có thể vì chúng ta đã đến gần hắn nhanh hơn hắn nghĩ lúc đầu.” Sachs thiết.
“Có thể. Anh không biết. Nhưng như thế thì hắn cũng muốn chặn bước t úng ta lại.” “Chính xác!” “Bởi vậy anh muốn một hướng nhìn nhận mới. Anh đã gọi cho Charlie, h ta sẵn sàng giúp đỡ… Anh ta lúc nào cũng ăn khi nói chuyện điện thoại à “Anh ta thích đồ ăn vặt.” “Ờ, khi em xem xét lưới điện, hãy bảo đảm rằng anh ta đừng nhai cái gìk rạo. Hễ em sẵn sàng là liên lạc sẽ được kết nối với em. Trở về đây càm càng tốt, đem theo bất cứ thứ gì phát hiện được. Ngay bây giờ, có lẽG ng bố trí một vụ tấn công nữa!” Họ kết thúc liên lạc. Sachs liếc nhìn Ron Pulaski, cậu ta rõ ràng vẫn đang g. Tôi cần cậu tham gia với chúng tôi, cậu tân binh. Cô gọi cậu ta đến. “Ron, hiện trường chính ở dưới gác, nơi hắn có lẽ đã bốc dây điện và thiết bị của hắn.” Cô đập đập vào bộ đàm. “Tôi sẽ trao đổi arlie Sommers. Tôi cần anh khám nghiệm thang máy.” Cô ngừng một c à xem xét các thi thể nữa. Chắc không có nhiều dấu vết để lại. Phương th nh động của hắn là không có bất cứ tiếp xúc trực tiếp nào với nạn nh ưng việc đó là việc cần làm. Anh thấy có vấn đề gì không?” Chàng cảnh sát trẻ gật đầu. “Bất cứ việc gì chị cần, Amelia.” Nghech nh một cách đau đớn. Cô nghĩ cậu ta đang cố chuộc lại lỗi gây tai nạn b oài căn hộ của Galt. “Bắt tay vào việc đi. Và đừng quên Vicks nhé.” “Cái gì?” “Trong hộp dụng cụ ấy. Vicks VapoRub. Nhét một ít vào mũi. Để khỏip ửi cái mùi kia.” Năm phút sau, Sachs được kết nối liên lạc với Charlie Sommers, cảm th t ơn anh ta đã giúp đỡ cô xử lý hiện trường - cung cấp những “hỗ trợ ật,” mà anh ta định nghĩa, theo cách hơi vô duyên, là giúp đỡ cô “giữ lấyn tọa.” Sachs bật ngọn đèn đeo trước trán, bắt đầu đi xuống cầu thang, xuống tầm của tòa nhà, mô tả cho Charlie Sommers chính xác những gì cô trông th bệ đỡ thang máy ẩm ướt, nhớp nháp. Cô chỉ kết nối liên lạc với anh ta q io, không qua video như hay làm với Rhyme. Tòa nhà đã được Đơn vị Phản ứng nhanh kiểm tra an ninh nhưng cô rấ ức về điều Rhyme bảo cô trước đó - rằng Galt rất có thể sẽ quyết định bắt đ ằm vào lực lượng truy đuổi gã. Cô nhìn xung quanh một lát, chỉ thấy mấyc oặt hắt những bóng đen trông ngờ ngợ như bóng người.
Chúng hóa ra chỉ là những bóng đen nhang nhác giống bóng người mà thô Sommers hỏi, “Chị có thấy cái gì được bắt vào hệ thống ray dẫn hướ ông?” Sachs tập trung quan sát lần nữa. “Không, không có gì. Nhưng… cóm ạn cáp Bennington được bắt vào tường. Tôi.. “Kiểm tra điện áp cái đã.” “Cũng đang định bảo như thế!” “A, thợ điện bẩm sinh.” “Không hề. Sau vụ án này, tôi thậm chí sẽ chẳng còn dám tự thay ắc-quy ô a.” Sachs quét thiết bị phát hiện điện áp. “Zero.” “Tốt. Đường dây chạy như thế nào?” “Một đầu, nó nối với một thanh dẫn đang lủng lẳng trong trục thang máy. ạy sát phía dưới đáy buồng thang máy. Chỗ có tiếp xúc cháy đen. Đầu kia một sợi cáp dày chạy vào một bảng điện màu be trên tường, giống nhưm thuốc lớn. Sợi cáp Bennington được đấu với đường dây chính bằng thiết uyển mạch điều khiển từ xa, giống như ở hiện trường vừa rồi ấy.” Sommers hướng dẫn chính xác cách gỡ những sợi cáp và bảo cô cần đ gì. Tuy nhiên, trước khi lấy bất cứ thứ gì ra, Sachs đều đặt số và chụp ải cô cảm ơn Sommers, nói rằng hiện tại cô mới chỉ cần đến thế. Họ kết th n lạc và cô rà soát hiện trường theo ô bàn cờ, bao gồm cả các lối vào và r a ra quả là có một cái cửa ở gần đó thông ra con hẻm. Ổ khóa mỏng mản đây đã bị nạy. Cô cũng chụp ảnh cái cửa. Cô chuẩn bị lên gác với Pulaski thì dừng lại. Đã có bốn nạn nhân trong thang máy này. Sam Vetter và bốn người khác thiệt mạng tại khách sạn, một số đang n nh viện. Luis Martin. Và nỗi sợ hãi lan khắp thành phố, nỗi sợ hãi đối với kẻ sát nhân vô hình. Sachs tưởng tượng ra Rhyme nói, “Em phải trở thành hắn.” Sachs đặt vật chứng xuống bên cạnh cầu thang bộ và quay lại bệ đỡ tha y. Mình là hắn. Mình là Raymond Galt… Sachs gặp khó khăn khi hình dung ra kẻ cuồng tín, kẻ thập tự chinh đó, vìt h cảm ấy, trong suy nghĩ của cô, không phù hợp với sự tính toán vô cùnh xác mà gã đã thể hiện cho tới lúc bấy giờ. Bất cứ kẻ nào khác cũng sẽ một phát súng vào Andi Jessen hay ném một quả bom cháy vào nhà máy ận Queens. Nhưng Galt lại tốn biết bao công phu để chế tạo một thứ vũt người đầy phức tạp. Thế nghĩa là sao?
Mình là hắn. Mình là Galt. Đầu óc cô như mặt nước phẳng lặng, rồi câu trả lời như những bọt khí d n nổi lên: Mình bất cần động cơ. Mình bất cần tại sao mình đang hành độ ư thế này. Những cái ấy không quan trọng. Quan trọng là tập trung vào kỹ thuật, ví dụ như tạo ra chỗ đấu nối hayng tắc hoàn hảo nhất có thể để gây ra thiệt hại lớn nhất. Đó là trung tâm vũ trụ của mình. Mình đã nghiện quá trình này, đã nghiện dòng điện… Và từ ý nghĩ ấy xuất hiện một ý nghĩ khác: Ý nghĩ về các góc độ. Hắn ải… Mình đã phải bố trí thanh dẫn một cách chính xác, sao cho nó đụng s ng máy khi thang máy xuống gần đến sảnh nhưng chưa xuống hẳn đ nh. Nghĩa là mình đã phải ở dưới này quan sát thang máy hoạt động từ tất cảc a, để đảm bảo cho đối trọng, bánh răng, động cơ, các cáp của thang m ông hẩy thanh dẫn sang bên cạnh cũng như không động đến sợic nnington. Mình phải nghiên cứu trục thang máy từ mọi góc độ. Mình phải làm việc đó Sachs bò dưới tầng hầm nhớp nháp, xung quanh bệ đỡ trục thang máng ở tất cả những vị trí mà Galt hẳn đã trông thấy được sợi cáp, thanh dẫn c điểm tiếp xúc. Cô không phát hiện ra dấu chân hay dấu vân tay nào. Như quả là đã phát hiện ra những khoảng sàn có dấu vết xáo trộn còn mới, ẳng phải vô lý khi nghĩ gã từng phủ phục tại những chỗ ấy xem xét tác ph t người của mình. Sachs lấy mẫu từ mười vị trí, cho vào các túi riêng biệt, đánh dấu theo vịn la bàn: l0’ tây bắc, 7’ nam… Rồi cô thu tất cả các vật chứng khác, leonh bằng đôi chân nhức nhối vì chứng viêm khớp. Sachs đến chỗ Pulaski, nhìn vào trong thang máy. Hư hại không nghing. Có vài vệt khói - đi kèm là cái mùi kinh khủng ấy. Cô hoàn toàn khô ởng tượng được sẽ như thế nào khi đang ở trong thang máy và đột ngột mư nghìn volt xuyên qua cơ thể mình. Cô đồ rằng ít nhất các nạn nhân cũ ẳng cảm thấy gì nữa sau mấy giây đầu tiên. Cô thấy Pulaski đã đặt số và chụp ảnh, “Anh phát hiện được gì không?” “Không. Tôi cũng đã khám nghiệm buồng thang máy. Nhưng bảng điều kh n đây không bị mở ra.” “Hắn bố trí tất cả các thứ từ phía dưới kia. Còn các thi thể?” Nét mặt Pulaski nghiêm trang, dằn vặt, và Sachs có thể thấy đấy ắt phảt việc đầy khó khăn. Tuy nhiên, cậu ta nói giọng đều đều, “Không có dấu
Nhưng có một chi tiết đáng quan tâm. Tất cả ba người đều bị ướt đế git cả những chiếc giày ấy.” “Do lực lượng cứu hỏa à?” “Không, lúc họ tới thì lửa đã tắt.” Nước. Đáng quan tâm đấy. Để tăng mức dẫn điện. Nhưng hắn làm giàyt bằng cách nào? Rồi Sachs hỏi, “Anh nói có ba thi thể?” “Vâng!” “Nhưng người ở Đơn vị Phản ứng nhanh bảo có bốn nạn nhân.” “Bốn nạn nhân, tuy nhiên chỉ ba người thiệt mạng. Đây.” Pulaski đưac chs mẩu giấy, “Cái gì vậy?” Trên mẩu giấy ghi một cái tên và một số điện thoại “Người sống sót đấy. Tôi nghĩ chị sẽ muốn nói chuyện với chị ta. Chị ta tên san Stringer. Chị ta ở phố Vincent 8. Bị ngạt khói và bỏng một chút. Như ta sẽ không sao. Chừng một tiếng đồng hồ nữa, họ sẽ cho chị ta về.” Sachs lắc dầu. “Tôi không biết bằng cách nào mà ai đó có thể sống sót. V ng điện mười ba nghìn volt.” Ron Pulaski trả lời, “Ồ, chị ta là người tàn tật ngồi xe lăn. Các bánh bằng c chị biết đấy. Tới nghĩ nhờ vậy chị ta đã được cách điện.