phần mình có dây mơ rễ má với nhà Szechenyis ở Vienna và như thế lại có họ xa với nhà Esterhazys ở Galantha. Ông có anh em họ hàng ở khắp nơi, thưa hầu tước. Xin ông đừng lấy làm lạ vì sự thông tỏ của tôi. Khoa học về phả hệ và dòng dõi là bộ môn yêu thích của tôi - hiểu theo nghĩa rộng cũng có thể coi đó là nghề nghiệp của tôi. Giáo sư Kuckuck”, ông ta hoàn chỉnh lời tự giới thiệu của mình, “chuyên ngành cổ sinh học và giám đốc Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên ở Lisbon, một cơ sở chưa được nhiều người biết đến do tôi sáng lập ra.”
277 Ông ta rút ví lấy một tờ danh thiếp trao cho tôi, khiến tôi cũng phải đưa cho ông ta danh thiếp của mình, tức là của Loulou. Trên tờ danh thiếp của ông giáo sư tôi đọc thấy tên ông ta: Antonio José, học vị, chức vụ và địa chỉ nhà ông ta ở Lisbon, cổ sinh học là cái gì thì tôi đã đoán được lờ mờ qua những lời giải thích rất chuyên môn của ông ta về lĩnh vực này. Hai chúng tôi đọc danh thiếp của nhau với thái độ trân trọng và quan tâm thực sự. Rồi chúng tôi người nọ cất mảnh giấy nhỏ của người kia đi, không quên cúi đầu tỏ ý cảm ơn. “Có thể nói, thưa giáo sư”, tôi lễ phép thêm vào, “tôi thật sự may mắn khi được xếp ngồi bàn này.” “Về phần tôi cũng vậy”, ông ta đáp. Cho tới lúc này chúng tôi vẫn trao đổi bằng tiếng Pháp; chợt ông ta lên tiếng hỏi: “Nếu tôi không lầm thì ông cũng thạo tiếng Đức phải không, thưa hầu tước de Venosta? Theo chỗ tôi được biết thân mẫu ông xuất thân người vùng Gotha - tiện đây xin nói thêm rằng đó cũng là quê hương của tôi - và nhũ danh của bà là nam tước tiểu thư Plettenberg, có phải không ạ? Ông thấy đấy, tôi biết tương đối rõ. Vậy chúng ta có thể...” Làm sao Louis có thể quên nói với tôi rằng mẹ chàng vốn dĩ là tiểu thư Plettenberg! Tôi lập tức ghi nhận thông tin mới này để bổ sung vào bộ nhớ còn trống trải của mình. “Được chứ”, tôi trả lời và chuyển sang nói tiếng Đức theo đề nghị của ông ta. “Lạy chúa, hồi nhỏ tôi suốt ngày lải nhải tiếng Đức, không chỉ với Mama mà còn với anh xà ích Klosmann nhà chúng tôi.” “Tôi thì”, Kuckuck đáp lại, “gần như đã quên mất tiếng mẹ đẻ, nên tôi rất mừng khi có cơ hội ôn lại một chút. Tôi đã năm mươi bảy tuổi, hai mươi lăm năm đã trôi qua kể từ ngày tôi đặt chân đến Bồ Đào Nha. Tôi đã kết hôn với một phụ nữ địa phương - nhũ danh của nhà tôi là da Cruz, tiện thể chúng ta đang bàn về họ tên - bà ấy mang dòng máu thuần chủng Bồ Đào Nha, và dân tộc này, nếu bắt buộc phải dùng ngoại ngữ thì họ có xu hướng thiên về tiếng Pháp hơn là tiếng
278 Đức. Cả con gái chúng tôi, mặc dù rất yêu quý cha nhưng cháu nó cũng không chịu học tiếng cha đẻ và ngoài tiếng Bồ Đào Nha, chỉ thích liến thoắng tiếng Pháp. Tiện đây cũng xin nói thêm rằng cháu nó là một cô bé rất dễ thương. Chúng tôi gọi cháu là Zouzou.” “Chứ không phải là Zaza?” “Không, Zouzou. Đấy là tên gọi tắt của Suzanna. Thế Zaza là gọi tắt của tên gì?” “Thú thật là tôi không biết ạ. Tôi chỉ thỉnh thoảng gặp cái tên này - trong giới nghệ sĩ.” “Ông giao thiệp với giới nghệ sĩ?” “Cũng như với nhiều giới khác. Bản thân tôi cũng hơi nghệ sĩ chút đỉnh, cụ thể là họa sĩ, đồ họa. Tôi là học trò của giáo sư Estompard, Aristide Estompard ở Học viện mỹ thuật.” “Ôi, ông còn là nghệ sĩ nữa. Rất hân hạnh.” “Còn ông, thưa giáo sư, chuyến đi Paris của ông hẳn là để phục vụ viện bảo tàng?” “Ông đoán chẳng hề sai. Mục đích chuyến đi của tôi là để đàm phán mua lại của viện cổ sinh học ở đó một vài di tích xương quan trọng - xương sọ, xương sườn và xương bả vai của một loài heo vòi đã tuyệt chủng từ lâu, thủy tổ loài ngựa của chúng ta ngày nay sau nhiều bậc thang tiến hóa.” “Sao cơ ạ, ngựa xuất thân từ heo vòi ư?” “Và từ tê giác. Đúng thế, thưa hầu tước, con ngựa ông cưỡi đã trải qua rất nhiều hình thức khác nhau trong quá trình tiến hóa. Có những giai đoạn, mặc dù đã là ngựa nhưng chúng vẫn mang kích thước của xứ Liliput*. Ôi, chúng tôi có những cái tên rất bác học cho tất cả các trạng thái từ xưa đến cổ xưa của chúng, những cái tên đều ghép với gốc từ ‘hippos’*!, tức là ‘mã", đầu tiên là ‘Eohippos’ - dòng heo vòi ấy sống ở thế Thủy Tân*.” Xứ sở tưởng tượng của người tí hon trong tác phẩm ‘Gulliver du ký’ của văn hào Jonathan Swift (1667 -1745).
279 Hippos tiếng Hy Lạp cổ có nghĩa là ngựa. Thế Thủy Tân (khoảng 56-33,9 triệu năm về trước) là thế thứ hai của kỷ Đệ Tam Hạ (khoảng 66 - 23,03 triệu năm về trước), kỷ đầu tiên của đại Tân Sinh (khoảng 66 triệu năm về trước cho tới ngày nay). “Thế Thủy Tân. Tôi xin hứa sẽ ghi nhớ khái niệm này, thưa giáo sư Kuckuck. Thế Thủy Tân ở vào thời kỳ nào vậy?” “Mới gần đây thôi. Nó thuộc về đại Tân Sinh, khoảng một vài trăm nghìn năm trước*, khi động vật móng guốc bắt đầu xuất hiện. Còn điều này nữa, là nghệ sĩ có lẽ ông sẽ quan tâm, viện chúng tôi đang giao trách nhiệm cho các chuyên gia trong lĩnh vực của ông, các họa sĩ bậc thầy, dựa vào những mảnh xương thu thập được tái tạo lại hình ảnh các loài thú đã tuyệt chủng một cách trực quan sinh động nhất, kể cả loài người thời cổ đại.” Tác giả nhầm lẫn, đúng ra là khoảng vài chục triệu năm về trước. “Cả loài người!” “Kể cả loài người.” “Loài người ở thế Thủy Tân?” “Cái ấy thì hơi khó. Chúng tôi phải thú thực là khởi thủy của loài người còn nằm trong bóng tối. Quá trình hình thành của loài người diễn ra tương đối muộn và hoàn chỉnh trong bối cảnh động vật có vú đã khá phát triển, điều đó về mặt khoa học đã rõ như ban ngày. Loài người hiện đại là kẻ sinh sau đẻ muộn, và thuyết Khởi Nguyên của Kinh Thánh hoàn toàn có lý khi khẳng định con người là đỉnh cao sáng tạo của tạo hóa. Chỉ có điều Kinh Thánh rút ngắn giai đoạn một cách quá thể*. Sự sống hữu cơ trên trái đất được ước lượng tuổi khoảng chừng năm trăm năm chục triệu năm*. Cho đến khi loài người xuất hiện thiên nhiên đã khá là đủng đỉnh.” Theo Bài ca sáng thế trong Kinh thánh, Chúa tạo ra trời đất và muôn loài chỉ trong vòng bảy ngày. Khoa học ở thời điểm hiện nay ước chừng sự sống hữu cơ trên trái đất có tuổi thọ lớn hơn nhiều, khoảng 3,5 tỉ năm.
280 “Những điều ông nói thật vô cùng hấp dẫn đối với tôi, thưa giáo sư.” Đó là sự thật. Tôi hoàn toàn bị cuốn hút theo câu chuyện - ngay từ lúc này, và càng ngày càng tăng. Tôi lắng nghe người đàn ông ấy với tâm trạng hồi hộp và đầy hứng thú, say sưa mê mẩn đến nỗi quên cả ăn. Người ta bưng lên hết món này đến món khác, tôi lấy vào đĩa mình, cắt một miếng đưa lên miệng, nhưng hàm không dám nhai để khỏi bỏ sót lời nào, dao nĩa trễ nải trong tay vì mắt mải nhìn như dán vào khuôn mặt, đôi mắt sáng như sao của ông ta. Tôi không tìm được lời nào để tả cảm giác tập trung cao độ của mình, nó giúp tôi hút vào hồn tất cả những điều ông ta đã nói và sẽ nói. Bởi nếu không có nó, không có sự hấp thu tuyệt đối này thì liệu hôm nay đây, sau bao nhiêu năm trời, tôi có khả năng chép lại gần như đúng từng lời, thậm chí tôi tin rằng chính xác từng lời những điểm chính của cuộc đàm thoại này không? Ông ta nói về một dạng tò mò, mà ông ta gọi là ham của lạ, thành phần quan trọng tạo nên hứng thú du lịch, và trong đó, như tôi còn nhớ rõ, ẩn chứa một điều gì thách thức lạ kỳ, da diết xoáy vào cảm xúc. Chính sự thách thức ấy đã chạm vào những sợi tơ thầm kín nhất trong tôi, càng nghe ông ta diễn thuyết sự hưng phấn trong tôi càng mãnh liệt, mặc dù ông ta luôn luôn nói bằng giọng nhỏ nhẹ, khách quan, điềm đạm, thỉnh thoảng trên môi thấp thoáng nụ cười... “Liệu sự sống có còn tồn tại được một thời gian dài như quãng thời gian nó đã trải qua không”, ông ta tiếp tục, “thì chẳng ai có thể nói trước được. Dĩ nhiên sự sống có sức chịu đựng dẻo dai vượt bậc, nhất là sự sống ở những hình thức cấp thấp. Ông có tin không, bào tử của một số vi trùng nhất định có thể sống sót sáu tháng trời trong vũ trụ ở nhiệt độ thấp tới âm hai trăm độ?” “Đáng nể thật.” “Song đồng thời, sự phát sinh và duy trì sự sống lại gắn liền với những điều kiện hạn chế ngặt nghèo không phải thời nào cũng có và không phải sẽ có mãi. Thời gian sự sống hiện diện trên một vì tinh tú chỉ có giới hạn. Sự sống không phải đã luôn luôn có từ trước tới nay và sẽ không luôn luôn có từ nay về sau. Sự
281 sống có thời, nó chỉ tồn tại một giai đoạn mà thôi, và giai đoạn ấy nếu đem so với chiều dài các liên đại* thì chỉ là một khoảnh khắc thoáng qua.” Liên đại là đơn vị phân chia lớn nhất về thời gian trong niên đại địa chất. “Tôi ghi nhận chính thị điều này”, tôi bảo. Tôi dùng từ “chính thị” vì trong trạng thái hưng phấn cao độ tôi muốn sử dụng một từ thật cổ, thật trang trọng*. “Có một bài hát”, tôi thêm vào, “lời của nó như sau: ‘Hãy yêu đời đi, chừng nào ngọn đèn còn cháy sáng.’ Hồi nhỏ tôi đã được nghe và rất thích, nhưng giờ đây những lời ông nói về ‘khoảnh khắc thoáng qua’ mới giúp tôi thấm thìa ý nghĩa sâu xa của nó.” Ám chỉ đoạn đầu của sách Phúc Âm Giăng trong Kinh Tân Ước: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Chính thị Ngài ban đầu ở cùng Thiên Chúa...” “Và sự sống hữu cơ mới gấp gáp làm sao”, Kuckuck nói tiếp, “trong việc phát triển giống loài, cứ như thể nó biết rằng ngọn đèn không cháy sáng vĩnh viễn. Điều đó thể hiện đặc biệt rõ trong giai đoạn sơ khai của nó. Ở kỷ Cambri - đó là cái tên chúng ta đặt cho thời kỳ hình thành địa tầng dưới cùng, lớp kết cấu sâu nhất của đại Cổ Sinh - dĩ nhiên giới thực vật còn rất nghèo nàn: mới có rong biển và tảo, ngoài ra chưa có gì khác. Sự sống phát sinh từ nước mặn, từ biển nguyên sinh ấm áp, ông phải biết thế. Nhưng giới động vật không xuất hiện ngay thành từng loài riêng rẽ, mà bắt đầu từ động vật xoang tràng, giun, động vật da gai, động vật chân khớp, tức là: tất cả các loài trừ động vật có xương sống. Có vẻ như trong năm trăm năm chục triệu năm thiên nhiên không cần đến năm chục triệu năm để cho những con động vật có xương sống đầu tiên bò lên cạn, vì lúc bấy giờ đã có một vài vạt đất nổi lên khỏi đại dương. Và rồi quá trình tiến hóa diễn ra với sự phân chia các loài nhanh đến nỗi chỉ trong hai trăm năm chục triệu năm tiếp theo trên con tàu Arche của già Noah đã góp mặt đầy đủ vạn vật cho tới loài bò sát - chỉ còn thiếu có chim và động vật có vú mà thôi. Và tất cả nhờ vào một sáng tạo của thiên nhiên, phát sinh từ khởi thủy và vẫn được thiên nhiên miệt mài áp dụng cho đến khi xuất hiện loài người.”
282 “Xin ông hãy nói cho tôi biết điều đó!” “Ôi, đó chỉ là sự kết hợp các tế bào sống thành quần thể, thiên nhiên đã nảy ra sáng kiến không để các cục động vật nguyên sinh trong trong nhầy nhầy, phần tử sơ khai nhất của sự sống, tiếp tục tồn tại riêng lẻ mà, mới đầu còn ít, về sau hàng triệu triệu con tập hợp lại với nhau làm thành những tác phẩm cao hơn của sự sống, các động vật đa tế bào, các cá thể lớn hơn, và tạo ra cho chúng máu thịt. Cái mà chúng ta gọi là ‘xác thịt’, bị tôn giáo bài xích là yếu đuối và dễ sa ngã, là ‘thuần túy tội lỗi’, thực ra chẳng phải gì khác ngoài một tập hợp các phần tử hữu cơ đặc biệt nhỏ, các mô đa tế bào. Thiên nhiên đã vô cùng hăm hở thực hiện sáng kiến này, phát minh cơ bản vô cùng quý báu của nó - mặc dù thỉnh thoảng cũng có lúc nhanh nhảu đoảng, đôi ba lần nó đã sa đà vào những sáng tạo quá phóng túng và phải ân hận. Chẳng hạn như trong số động vật có vú nó đã cho phép sự sống phát triển với kích thước quá hạn lệ như ở loài cá voi xanh, một con to bằng hai chục con voi, một thứ quái vật khổng lồ không thể di chuyển và kiếm sống trên mặt đất. Thế là thiên nhiên phải đưa nó trả về biển, ở đó nó là cái thùng mỡ cá vĩ đại với chân sau, vây ngực và cặp mắt thoái hóa vô tích sự, cho con bú trong một tư thế hoàn toàn bất tiện, cả đời ăn tép, chịu một kiếp sống không có gì vui thú, trở thành con mồi cho ngành công nghiệp ép dầu. Nhưng cả trong thời kỳ sớm hơn rất nhiều, khi mới bắt đầu đại Trung Sinh, kỷ Tam Điệp*, từ lâu trước khi có một con chim tung cánh trên bầu trời hay một cái cây lá rộng xanh rờn dưới nắng, nó đã tạo ra những quái vật khổng lồ thuộc họ bò sát, đó là loài khủng long - những sinh vật tốn chỗ đến mức bất nhã trên trần thế. Một con vật như thế cao như cái nhà và dài như đoàn tàu, nặng đến bốn chục ngàn pound*, cổ nó vừa dài, vừa to như một cây dừa, còn cái đầu lại nhỏ đến mức nực cười so với toàn bộ thân thể. Cái thân thể to lớn quá hạn lệ này chắc phải ngu xuẩn lắm. Tuy nhiên nó rất hiền lành, hậu quả tất yếu của sự vụng về...” Đại Trung Sinh (khoảng 252,2 - 66 triệu năm về trước) là đại thứ hai trong liên đại Hiển Sinh, bắt đầu bằng kỷ Tam Điệp (khoảng 252,2 - 201,3 triệu năm về trước).
283 Cân Anh, đơn vị đo khối lượng truyền thống của Anh, Mỹ và một số nước khác, 1 pound = 0,45359237 kg. “Tức là không tội lỗi mấy, mặc dù rất nhiều xác thịt.” “Tội lỗi vì ngu xuẩn thì không. Tôi còn muốn nói gì với ông về loài khủng long nữa nhỉ? Có lẽ điều này: chúng có xu hướng đứng thẳng người lên.” Và Kuckuck ngước đôi mắt sáng như sao lên rọi thẳng vào tôi, dưới ánh mắt ấy tôi bỗng cảm thấy ngượng ngùng bối rối. “Chà”, tôi lên tiếng với vẻ tự nhiên giả tạo, “những vị khổng lồ này hẳn không thể sánh với thần Hermes về mục đi đứng.” “Sao tự nhiên ông lại nghĩ tới Hermes?” “Xin lỗi giáo sư, nền giáo dục tôi được hưởng trong lâu đài của gia đình đặt nhiều giá trị vào thần thoại. Một sở thích cá nhân của gia sư tôi...” “Hừm, Hermes”, ông ta đáp. “Một vị thần lịch lãm. - Tôi không uống cà phê”, câu này ông ta nói với bồi bàn. “Cho tôi thêm một chai Vichy nữa! - Một vị thần lịch lãm”, ông ta lặp lại. “Và rất cân đối về hình thức, không quá nhỏ, không quá lớn, vừa bằng kích thước con người. Một bậc thầy trong ngành xây dựng thời xưa* từng nói, ai muốn xây nhà phải nhận thức được hết sự hoàn hảo của cơ thể con người, vì cơ thể ấy chứa đựng những bí mật sâu kín nhất của sự cân đối về tỷ lệ. Các nhà thần bí theo thuyết tỷ lệ quả quyết rằng, con người - và như thế cả các vị thần linh trong hình dạng con người - nếu xét về kích thước thì đứng ở khoảng giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Họ bảo rằng, con người nhỏ hơn khối vật chất lớn nhất trong vũ trụ, một ngôi sao đỏ khổng lồ, bao nhiêu lần thì cũng lớn hơn phần tử nhỏ nhất của một nguyên tử, một đốm vật chất mà người ta phải phóng đại lên hàng trăm tỉ lần mới mong nhìn thấy được, đúng bấy nhiêu lần.” Ám chỉ Marcus Vitruvius Pollio, kiến trúc sư La Mã sống ở thế kỷ thứI trước công nguyên. “Thế mới biết đứng thẳng người lên thì ích lợi như thế nào, nếu không có được kích thước lý tưởng.”
284 “Cứ theo truyền thuyết”, người ngồi cùng bàn với tôi tiếp tục, “thì thần Hermes của ông trong tấm thân với kích thước lý tưởng cổ Hy Lạp còn có khá nhiều trí khôn nữa. Các tế bào não của ông ta, nếu người ta được phép nói về một vị thần như thế, hẳn phải có những câu trúc đặc biệt thông minh. Song nếu ta không hình dung ông ta được tạc từ đá hoa cương, nặn bằng thạch cao hay dùng toàn thức ăn thần linh bất tử, mà như một thân thể sống của một con người, thì ở ông ta cũng còn khối tàn tích của thiên nhiên từ thời cổ đại. Thật đáng kinh ngạc vì tay chân con người ta, khác với bộ não, trải qua quá trình tiến hóa vẫn còn hết sức thô sơ. Chúng vẫn mang đầy đủ tất cả các đốt xương mà người ta tìm thấy ở động vật nguyên thủy sống trên cạn.” “Cái ấy mới thật là lạ, thưa giáo sư. Đó không phải là điều lạ lùng đầu tiên mà ông tiết lộ với tôi, nhưng chắc chắn là một trong những điều lạ lùng nhất. Những xương chân và tay của một con người mà lại như xương những loài động vật thô sơ nhất trên cạn thời nguyên thủy! Tôi không ghê sợ, tôi chỉ thấy rất lạ mà thôi. Tôi không nói đến đôi chân nổi tiếng của thần Hermes. Nhưng xin ông hãy tưởng tượng một cánh tay phụ nữ thon thả nuột nà, khi ta có cái diễm phúc được nó ôm ấp - quỷ tha ma bắt*, xin lỗi, tôi không có ý vô lễ với ông, nhưng hãy thử tưởng tượng xem...” Trong nguyên bản là câu rủa “zum Kuckuck”, chỉ dịch lấy ý. “Tôi có cảm tưởng, hầu tước thân mến, ông đặc biệt sùng bái tứ chi. Tư tưởng ấy cũng có mặt tích cực của nó, đó là ác cảm của một sinh vật tiến hóa cao đối vối loài giun không chân. Còn về