chương lê dương danh dự, một tay cầm roi ngựa chập với một cây roi chạm trồ cầu kỳ nghe đâu là quà tặng của quốc vương Ba Tư mà ông biết cách vung lên đánh gió thành tiếng ròn tan nghe thật tuyệt. Đôi giày bóng lộn như gương của ông dậm tung cát trên sàn diễn khi ông cất tiếng khe khẽ ra lệnh cho những con tuấn mã kiêu hùng thắng dây cương trắng đầu nghển cao đứng thành vòng tròn xung quanh mình, bắt chúng nhịp nhàng đi những bước nhảy theo tiếng nhạc nền, quỳ gối hay quay vòng, và khi ông giơ cao ngọn roi thì chúng nhấc hai chân trước lên làm một vòng diễu hành trên hai chân sau. Thật là một cảnh ngoạn mục, nhưng tôi chỉ nghĩ đến Andromache. Những tấm thân thú vật đẹp tuyệt vời. Con người, tôi nghĩ, là trung gian giữa thú vật và thiên thần. Gần với thú vật hơn, phải thừa nhận là như thế. Nhưng nàng, đối tượng tôn thờ của tôi, mặc dù cùng có một tấm thân, song thật trong trắng và không vương chút con người, nàng ở gần về phía thiên thần hơn. Rồi sân khấu được quây rào sắt, chuồng sư tử được đẩy ra, cảm giác an toàn hèn nhát có tác dụng tăng khẩu vị cho đám đông hiếu kỳ. Người dạy thú, Monsieur Mustafa, một người đàn ông tai đeo khuyên vàng, mình trần tới thắt lưng, mặc quần thụng đỏ và đội mũ đỏ, bước lên sàn diễn qua một cánh cửa nhỏ được mở ra và đóng lại chớp nhoáng sau lưng ông, vào đứng giữa năm con mãnh
201 thú. Bầu không khí nồng nặc mùi thú rừng hoang trộn lẫn mùi mồ hôi ngựa. Những con thú thấy ông lùi cả lại, rồi miễn cưỡng theo tiếng gọi của ông lần lượt tới ngồi lên năm chiếc ghế đẩu để rải rác xung quanh, chậm rãi ngoác họng ra ngáp, mũi nhăn nhúm rất gớm ghiếc, bàn chân trước xòe móng quào quào về phía ông - rất có thể đó là một cử chỉ đùa giỡn thần mật, nhưng bên trong vẫn ẩn chứa nhiều căm hận ngấm ngầm, chừng như chúng biết rằng lại sắp bị buộc phải làm những điều hoàn toàn trái ngược vởi bản năng tự nhiên của chúng như nhảy qua vòng, tệ hại nhất là cuối cùng phải nhảy qua vòng lửa. Một vài con rống lên làm không gian rung chuyển, tiếng gầm từng khiến các loài thú trong rừng run sợ đâm đầu bỏ chạy. Người dạy thú đáp lại bằng một phát súng lục bắn chỉ thiên, những con dã thú rụt cổ lấm lét chỉ còn gầm gừ khe khẽ, chúng đã nhận ra rằng tiếng rống chúa sơn lâm của mình chẳng nhằm nhò gì so với tiếng nổ điếc tai kia. Mustafa dương dương tự đắc châm một điếu thuốc lá, những con thú tức tối không rời mắt theo dõi từng cử chỉ của ông. Rồi người dạy thú cất tiếng gọi tên từng con, Achille hay Néron, bằng giọng nhỏ nhẹ nhưng đanh thép và đưa ra những mệnh lệnh đầu tiên. Từng con mãnh sư lừng khừng tụt xuống khỏi chiếc ghế đẩu của mình lấy đà nhảy qua một cái vòng treo cao, một lần nhảy đi, một lần nhảy lại, và lần cuối cùng, như đã nói, nhảy qua chiếc vòng quét hắc ín cháy đùng đùng. Dù muốn dù không chúng phải thực hiện cú nhảy qua vòng lửa, đối với chúng không khó, nhưng là một sự khuất phục đầy nhục nhã. Chúng gầm gừ quay trở về chỗ ngồi thực ra cũng rất gò bó và nhục nhã của mình, mắt chăm chăm dán vào người đàn ông mặc quần đỏ đứng giữa sân khấu, đầu cảnh giác không ngừng quay tứ phía, cặp mắt đen thẫm đón bắt và bẻ gãy tia nhìn sợ hãi trộn lẫn căm hờn bắn ra từ những con ngươi xanh lè thu hẹp chỉ còn một khe nhỏ của chúng. Chỉ cần thoáng nghe tiếng chộn rộn đằng sau lưng là ông ta quay phắt lại, và chỉ cần ông ta quắc mắt hay cất tiếng khẽ khàng nhưng đanh thép gọi một cái tên là trật tự được phục hồi. Ai cũng cảm nhận rõ ràng cái lưới hiểm nguy không thể lường trước được bủa vây quanh người dạy thú, và đó chính là cảm giác giật gân mà đám đông
202 hiếu kỳ ngồi trong sự an toàn bỏ tiền ra mua. Ai cũng biết rằng khẩu súng lục sẽ chẳng cứu nổi ông ta, nếu năm con dã thú kia bừng tỉnh khỏi cơn tê liệt tinh thần khiến chúng trở nên bất lực, và lao vào xé xác ông ta. Tôi có cảm tưởng chỉ cần ông ta vì lý do nào đó bị một vết thương, chúng nhìn thấy máu chảy và thế là xong. Tôi chợt hiểu ra rằng ông ta để trần nửa thân trên bước vào giữa bầy thú cũng là có tính toán, nhằm phục vụ sự khát máu của đám tiện dân: ông ta phơi bày da thịt trước mắt bầy thú dữ để thổi bùng thêm dục vọng hèn nhát của họ, để họ thầm hy vọng - ai mà biết được, nhỡ đâu điều đó xảy ra - móng vuốt sắc như dao của những con thú cắm phập vào đó. Tâm trí vẫn để cả nơi Andromache, tôi hình dung ra nàng là người tình của Mustafa và cảm thấy thực tế rất có thể trùng khớp với tưởng tượng của mình. Chỉ cần nghĩ đến đó thôi, ghen tuông đã nổi lên như một mũi dao bén nhọn đâm trúng tim tôi, làm tôi ngạt thở, và tôi vội dập ngay hình ảnh ấy trong đầu. Họ có thể là những đồng đội sánh vai cận kề cái chết, nhưng không thể là một cặp tình nhân, không, không đời nào, như thế chỉ càng thêm tai hại cho cả hai người! Ái tình làm mềm yếu trái tim, những con sư tử sẽ nhận ra ngay và sẽ không phục tùng ông ta nữa. Còn nàng, nàng sẽ hụt tay, tôi tin chắc thế, vì thiên thần liều lĩnh đã bị giáng cấp thành một người đàn bà, và nàng sẽ rơi xuống đất trong một cái chết đê nhục... Còn gì nữa nhỉ, sau đó và trước đó, trong rạp xiếc Stoudebecker? Những tiết mục rất phong phú, đầy rẫy những điều kỳ diệu. Có kể hết ra đây cũng chẳng hơn gì. Tôi biết thế, vì thỉnh thoảng tôi vẫn liếc mắt nhìn sang phía người đồng hành, anh bạn Stanko của tôi. Hắn ngồi ngây người, như tất cả đám đông xung quanh chúng tôi, trong một trạng thái hưởng thụ lười biếng và đần độn, bị nhấn chìm trong cơn lũ sắc màu lộng lẫy, bị dòng thác các gương mặt nghệ sĩ và nghệ thuật tuyệt vời của họ làm cho quáng mắt, mê mẩn. Nhưng đó không phải là tình trạng của tôi, không phải là cảm nhận của tôi, không phải là cái cách tôi hấp thụ. Đương nhiên tôi cũng không bỏ sót điều gì, đương nhiên tôi cùng háo hức tiếp thu một cách có chọn lọc từng chi tiết. Tôi cũng say mê, nhưng niềm say mê của tôi - biết nói thế nào đây - chứa đựng một sự nổi loạn, sống lưng tôi cứng lại,
203 trong linh hồn tôi một sức mạnh phản kháng trỗi dậy chống lại những ấn tượng ùa tới áp đảo các giác quan, đó là - tôi nói không đúng hẳn, chỉ gần đúng - với tất cả lòng ngưỡng mộ, tôi vẫn giữ được phần nào lý trí sắc bén khi quan sát những tiết mục nghệ thuật kia. Đám đông vây quanh tôi sôi lên sùng sục, kích động và đầy hứng thú - nhưng tôi, ở một mức độ nhất định, không tham dự vào sự thèm khát và bốc đồng của họ, cảm thấy mình vẫn tỉnh táo và lạnh lùng như một người nắm vững chuyên môn. Dĩ nhiên tôi không nói đến kỹ thuật làm xiếc, giả tỉ như kỹ thuật nhào lộn trong không trung, mà là một hình thức chuyên môn nói chung, nghệ thuật tâm lý làm con người vừa hạnh phúc vừa bị mê hoặc. Vì thế trong thâm tâm tôi tự tách mình ra khỏi đám đông nạn nhân của ham mê hưởng thụ đến quên cả bản thân, và không bao giờ nghĩ đến chuyện đem mình ra so sánh với họ. Họ chỉ biết hưởng thụ, mà hưởng thụ là một trạng thái thụ động, trong đó một người sinh ra với bản chất ham hành động, muốn tự mình đóng góp sẽ không thể nào cảm thấy thỏa mãn. Đám đông vây quanh tôi, và cả Stanko với tâm hồn đơn giản của mình, không hề có những ham muốn giống tôi, và như thế chúng tôi là những kẻ đồng sàng dị mộng, khó lòng duy trì một mối quan hệ gắn bó lâu dài. Khi dạo phố, khác với hắn tôi để mắt nhiều hơn đến bức tranh toàn cảnh thành phố Paris, hào hoa phong nhã tuyệt vời từ mọi góc độ, lòng không khỏi chạnh nhớ tới người cha tội nghiệp của mình với câu cửa miệng: “Magnifique! Magnifique!”*, giọng nói run run cảm động mỗi khi nhắc đến đô thị phồn hoa này. Song bởi tôi không ưa thổ lộ tình cảm nên hắn hầu như chẳng thấy sự khác biệt về nhận thức trong tâm hồn hai chúng tôi. Hắn chỉ dần dần nhận ra rằng tình bạn giữa chúng tôi cứ dậm chân tại chỗ một cách khó hiểu - đối với hắn - mà không tiến xa hơn được nữa, không trở thành một mối quan hệ thực sự gắn bó và tin cậy lẫn nhau. Điều này đúng ra chẳng có gì là khó hiểu mà đơn giản chỉ vì bản tính khép kín thiên về nội tâm của tôi, vì nhu cầu cô độc, thói quen khách sáo và giữ khoảng cách trong quan hệ với người xung quanh mà tôi đã trình bày ở những phần trên, đó là một
204 điều kiện cơ bản có ý nghĩa sống còn đối vối tôi, giả sử có muốn tôi cũng không thể thay đổi được. “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu!” (tiếng Pháp) Nói cách khác, đó là cảm giác ngấm ngầm tự kiêu của một cá nhân tin tưởng rằng mình được số phận ưu đãi, cho rằng mình có một cái gì đó đặc biệt hơn người, nó như một vầng hào quang lạnh lẽo tỏa ra bao bọc lấy anh ta, chặn đứng mọi biểu hiện gần gũi chân thành của tình bạn và tình đồng đội, điều đó đôi khi bản thân đương sự cũng thực sự cảm thấy tiếc, còn người kia không hiểu tại sao thiện cảm của mình bị khước từ. Đó chính là tình cảnh của Stanko và tôi. Hắn đối xử với tôi một cách đầy tin cậy và chắc bất mãn lắm khi thấy tôi chịu đựng sự tin cậy ấy hơn là đáp lại. Một buổi chiều nọ, lúc cùng nhau ngồi bên ly rượu trong một tiệm ăn nhỏ, hắn vui miệng thổ lộ với tôi rằng trước khi đến Paris hắn đã phải ngồi tù một năm ở quê nhà vì tội đột nhập tư gia. Vụ trộm bị đổ bể không phải do lỗi của hắn mà do sự đần độn của thằng đồng lõa, hắn kể. Tôi ngồi nghe lời tự thú đối với tôi chẳng chút bất ngờ ấy một cách chăm chú và đầy thông cảm, tưởng như không gì có thể làm lung lay mối quan hệ gắn bó giữa chúng tôi. Nhưng lần sau hắn dấn xa hơn và lấp lửng để lộ ra rằng đằng sau lời tâm sự ấy ẩn giấu một tính toán nhất định mà tôi không tán thưởng. Hắn nhìn thấy ở tôi một thằng nhóc tinh ranh và số đỏ có thể tiếp tay cho hắn trong những phi vụ làm ăn chung. Chủ quan đến mức mù quáng, không nhận thức được rằng tôi sinh ra chẳng phải để trở thành lưu manh trộm cắp vặt, hắn thẳng thắn rủ tôi cùng đánh quả ở một ngôi biệt thự trong khu Neuilly mà hắn đã tăm tia đâu vào đấy, theo lời hắn đập hộp dễ như bỡn và gần như không có rủi ro gì. Bị tôi thản nhiên từ chối, hắn rất cay và hậm hực hỏi tôi còn cành cao cái nỗi gì, hắn đã biết tỏng con người tôi rồi. Bởi tôi luôn khinh bỉ những kẻ tưởng rằng đã biết rõ về tôi nên tôi chỉ nhún vai trả lời rằng, rất có thể tôi cành cao, nhưng tôi không thích đánh quả. Chuyện kết thúc ở chỗ hắn tặng cho tôi danh hiệu “thằng khùng” hay “đồ ngu” gì đó.
205 Sau lần bị tôi từ chối thẳng thừng, hắn chưa đoạn tuyệt với tôi ngay nhưng mối quan hệ giữa chúng tôi cứ nguội lạnh và lỏng lẻo dần, rồi cuối cùng đi đến chỗ chấm dứt hẳn, khiến chúng tôi, mặc dù không trở thành kẻ thù của nhau, nhưng cũng không cùng đi chơi phố nữa. Chương hai Tôi làm công việc điều khiển thang máy suốt cả mùa đông, và mặc dù được hưởng sự ưu ái đặc biệt của khách khứa ra vào khách sạn, tôi vẫn bắt đầu cảm thấy chán. Tôi có đầy đủ lý do để sợ rằng tình hình sẽ cứ thế tiếp diễn không có gì thay đổi, và tôi sẽ bị người ta bỏ quên trong cái xó này cho đến khi đầu bạc răng long. Những điều Stanko tâm sự với tôi càng củng cố thêm nỗi sợ này. Hắn ôm mộng một ngày nào đó được chuyển sang làm trong bếp chính, đứng vung muôi bên cạnh hai dãy bếp, bốn cái lò nướng, một lò quay và một lò đốt cồn, để từ đó dần dà leo lên những nấc thang cao hơn, nếu không giành được chân bếp trưởng thì chí ít cũng phải làm trợ lý cho ông ta, cai quản công đoạn nhận bông đặt món từ tay đám bồi bàn ngoài phòng ăn và chuyển tiếp vào trong cho đội quân đầu bếp nấu. Song theo lời Stanko thì hắn có rất ít hy vọng thực hiện ước mơ này, khả năng lớn hơn là hắn sẽ bị cầm chân lâu dài tại chỗ làm hiện nay; và hắn cũng tiên đoán cho tôi một tương lai đen tối kéo dài mãi mãi trong thang máy, may mắn lắm thì không phải vĩnh viễn làm nhân viên tập sự, nhưng cũng sẽ chẳng bao giờ được thấy hoạt động của tòa nhà quốc tế này dưới một góc độ nào khác ngoài mấy cánh cửa thang máy chật hẹp. Đó chính là điều làm tôi sợ nhất. Tôi thấy mình như bị nhốt trong buồng thang máy, mọi hoạt động hạn chế ở việc điều khiển cho cái lồng ấy chạy lên chạy xuống trong lòng một cái ống, mà không có cơ hội để ném một cái nhìn hay thậm chí chỉ một cái liếc mắt vụng trộm vào bức tranh xã hội thu nhỏ sang trọng ngoài đại sảnh vào cữ trà chiều lúc năm giờ, khi âm nhạc nổi lên bồng bềnh lăng đãng trong không gian, các diễn giả ngâm thơ hay độc tấu trong khi các vũ nữ Hy Lạp nhảy múa mua vui cho thế giới thượng lưu giàu và đẹp ngồi trong ghế mây bên những chiếc bàn thanh lịch, nhấm nháp bánh ngọt và bánh mì kẹp với nước
206 trà vàng óng, những ngón tay lịch thiệp xoa xoa trong không khí phủi vụn bánh như một động tác bắt nhịp nhẹ nhàng. Những người khác theo cầu thang nhỏ trải thảm leo lên một cái ban công lưng chừng trang hoàng lộng lẫy chậu hoa cây cảnh, giữa những tàu lá cọ mọc lên từ các chậu cảnh như những tác phẩm điêu khắc cầu kỳ họ chào hỏi nhau, làm quen với nhau, nét mặt cử chỉ vô cùng tao nhã và đầy học thức, họ trao đổi vài câu đùa dí dỏm và cất lên những tiếng cười trong trẻo vô ưu. Sung sướng biết bao những kẻ được đi lại phục vụ ở đó, trong phòng đánh bài bridge của các bà hay trong phòng ăn tối, nơi tôi có trách nhiệm điều khiển thang máy đưa các quý ông mặc lễ phục đuôi tôm và các quý bà treo đầy nữ trang lóng lánh xuống. Tóm lại, tôi bồn chồn mong mỏi được tháo cũi sổ lồng để mở mang tầm mắt, để có nhiều cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài hơn, và quả thực vận may lại một lần nữa tỏ ra hào phóng với tôi. Nguyện vọng thoát khỏi cái lồng thang máy và khoác lên người một bộ đồng phục mới với một nhiệm vụ mới để mở rộng chân trời nhận thức của tôi đã được đáp ứng: vào dịp lễ Phục sinh tôi được cất nhắc sang bên phòng ăn, sự thể diễn ra như sau. Ông sếp nhà hàng, tên gọi Monsieur Machatschek, là một người đàn ông oai vệ ngày ngày vác cái bụng bự bọc trong áo sơ mi hồ bột lượn qua lượn lại, ban phát uy quyền trong hội trường kiêm phòng ăn của khách sạn. Gương mặt trăng rằm với cái cằm ngấn mỡ râu ria nhẵn nhụi của ông lúc nào cũng bóng nhẫy. Ông có động tác vẫy tay rất đỗi thanh lịch lúc phân phối bàn cho khách mới vào, và cái cách ông quở trách những sơ xuất hay lỗi lầm của đám nhân viên cũng tế nhị vô cùng. Mặt lạnh như băng, ông vác cái bụng khổng lồ đi lướt qua người họ, không dừng chân quay đầu mà chỉ ném mấy lời thì thầm qua khóe mép về phía đương sự, càng kín đáo bao nhiêu lại cay độc bấy nhiêu. Một sáng kia vị chúa tể cai quản bàn ăn, tôi đoán là theo chỉ thị của cấp trên, cho gọi tôi lên tiếp kiến trong văn phòng nhỏ của ông kế bên gian Salle à manger* lộng lẫy Phòng ăn (tiếng Pháp, như tất cả các từ in nghiêng trong phần sau). “Kroull?” ông ta cất tiếng oang oang. “Tên thường gọi là Armand? Để coi, để coi. Tốt lắm, tôi đã nghe nhiều về anh - không tệ lắm, không có gì đáng chê
207 trách, đó là ấn tượng đầu tiên của tôi. Ấn tượng đầu tiên có thể sai lầm, dĩ nhiên. Chắc anh cũng rõ công việc anh làm từ trước tới giờ trong khách sạn này chỉ là trò trẻ con và thử thách tối thiểu đối vối những năng lực có thể có của anh? Anh cũng cùng một ý với tôi? Chúng tôi dự định thử xem anh có làm nên trò trống gì không trong lĩnh vực chạy bàn, nếu có thể. Anh cảm thấy mình có khả năng giới thiệu rượu và đồ uống - tôi muốn nói một năng khiếu nhất định chứ không phải tài năng xuất chúng như cách diễn đạt của anh, nói thế là tự quảng cáo một cách quá lố, mặc dù nhiệt tình mặt khác chỉ có lợi chứ không có hại - vậy là anh có một năng khiếu nhất định để có thể tế nhị và lịch thiệp phục vụ khách, ân cần chu đáo đáp ứng mọi yêu cầu của họ? Tối thiểu đủ để làm vừa lòng một công chúng như khách trọ của nhà này? Tài năng thiên bẩm? Dĩ nhiên những năng khiếu ấy là thiên bẩm, nhưng sự tự tin của anh khi khẳng định rằng tất cả những cái ấy từ trên trời rơi xuống đầu anh thật là quá thể. Tuy nhiên tôi phải nhắc lại rằng, tự tin ở mức độ hợp lý không có hại gì hết. Anh cũng đủ kiến thức về ngôn ngữ? Tôi không bảo phải ‘thông thạo’ như anh tự nhận, mà là ‘vừa đủ’. Tốt. Nhưng đấy là sau này. Hẳn anh không ảo tưởng về chuyện mình sẽ phải đi từ dưới đi lên. Công việc của anh trước mắt là đổ bỏ những thức ăn thừa trong bát đĩa đưa ra từ phòng ăn trước khi đem vào rửa trong bếp. Anh sẽ được trả lương bốn mươi franc một tháng cho việc làm này - một mức lương quá hậu hĩnh, như nét mặt anh tiết lộ với tôi. Có điều tiếp chuyện tôi mà cười toe toét trước khi tôi mỉm cười với anh là điều thất lễ. Tôi mới là người quyết định lúc nào nên cười. Tốt. Anh sẽ được nhận áo đồng phục trắng cho công việc vét đĩa. Anh có khả năng tự sắm lễ phục đuôi tôm để phục vụ ngoài bàn không, nếu một ngày nào đó anh được cất nhắc lên làm trong phòng ăn? Chắc anh cũng biết nhân viên chạy bàn phải tự chịu chi phí sắm đồng phục. Anh hoàn toàn đủ khả năng? Rất tốt. Tôi cảm thấy làm việc với anh sẽ không gặp khó khăn. Cả những phần khác thuộc về trang phục như áo sơ mi tươm tất mặc trong anh cũng có? Tôi hỏi này, gia đình anh khá giả lắm hay sao? Cũng tương đối? Tốt lắm, rất tuyệt. Tôi cho rằng, Kroull, chẳng bao lâu nữa chúng tôi có thể tăng lương cho anh lên năm, sáu chục franc. Địa chỉ hiệu may
208 chuyên cung cấp lễ phục đuôi tôm cho chúng tôi anh có thể hỏi ở văn phòng. Anh muốn bắt đầu công việc ở bộ phận tôi lúc nào cũng được. Chúng tôi thiếu người, mà bên thang máy thì có hàng trăm người chầu chực một chỗ làm. Hẹn gặp lại sớm, anh bạn trẻ. Đã gần giữa tháng rồi, vậy tháng này anh có thể lĩnh hai mươi lăm franc, tôi đề nghị mức lương khởi điểm của anh là sáu trăm một năm. Lần này anh cười đúng phép, vì tôi cười trước. Vậy thôi. Anh có thể đi.” Đó là những điều Machatschek trao đổi với tôi. Cuộc nói chuyện trọng đại ấy trước hết dẫn đến một sự xuống cấp về địa vị trong cách nhìn nhận của tôi, đó là điều không thể chối cãi. Tôi phải đem trả bộ đồng phục của người gác thang máy cho nhà kho, đổi lại tôi chỉ nhận được một chiếc áo ngoài màu trắng, thế là tôi phải cấp tốc mua thêm một cái quần phù hợp để mặc khi làm việc, vì tôi không thể cho phép mình hủy hoại chiếc quần com lê của bộ đồ vía mặc đi chơi phố. Công việc mới của tôi được gọi rất kêu là khâu chuẩn bị trước cho công đoạn rửa bát đĩa, trên thực tế chỉ là việc gạt những thức ăn bỏ mứa vào thùng rác, mới đầu tôi cũng thấy tởm và hơi bất mãn vì nó rõ ràng thấp kém hơn việc làm tương đối ga lăng của tôi từ trước tới nay. Cũng phải nói thêm rằng phạm vi hoạt động của tôi bao gồm cả khu bồn rửa trong bếp, nơi bát đĩa được chuyền qua tay nhiều người rửa và tráng rồi cuối cùng tới tay người lau khô, một nhiệm vụ thỉnh thoảng tôi phải đảm nhiệm với một cái tạp dề trắng choàng thêm bên ngoài. Vậy là có thể nói tôi đứng ở vị trí đầu tiên và cuối cùng của công đoạn phục