Lời Nhắn Cuối Cùng

phần mười của

phần mười của

phần mười của luật.” Tôi mỉm cười. “Anh thì biết gì về luật chứ?” “Đủ để biết nếu anh ngồi trên chiếc ghế ấy thì sẽ không ai khác mang được đi đâu.”

XóaSạch LýLịch 10 giờ sáng, quầy cà phê của khách sạn đã đông khách, đèn chỉ sáng mờ. Tôi ngồi ở quầy bar uống nước cam trong khi đa số khách xung quanh đã đang bắt đầu với cocktail sáng - mimosa và Bloody Mary, sâm banh hoặc White Russians. Tôi không rời mắt khỏi dãy màn hình ti vi, mỗi chiếc chiếu một chương trình tin tức khác nhau. Không bật tiếng, chỉ có chữ chạy dưới, đa số đang đưa tin về The Shop. PBS chiếu cảnh Avett Thompson bị cùm tay đưa đi. MSNBS giới thiệu cuộc phỏng vấn của Belle với chương trình Today, trong đó Belle gọi việc giam giữ Avett là trò đùa của công lý. Dòng chữ chạy trên màn hình kênh CNN liên tục cảnh báo sẽ có nhiều cáo trạng mới. Gần như một lời hứa hẹn, sao chép lại hứa hẹn của Grady, rằng Owen sẽ sớm sa thêm vào nhiều rắc rối mới. Rằng dù là gì đi chăng nữa, điều anh đang trốn chạy sắp đuổi kịp anh. Đây chính là điều đang gặm nhấm tôi mỗi khi nghĩ đến chồng mình - rằng điều gì đó sắp xảy đến với anh và với cả ba chúng tôi mà anh không cách nào ngăn lại được. Rằng anh bỏ tôi lại để tôi cố ngăn chặn nó thay cho anh. Tôi lôi sổ ghi chép ra ngẫm nghĩ về những gì Grady nói trên điện thoại - cố nhớ từng chi tiết, cố tập trung tìm điều gì có vẻ quan trọng để tiếp tục khai thác. Tôi luôn trở lại với chi tiết anh ta nói có lẽ Owen đã xóa hết dấu vết trên mạng của mình. Và mặc dù nghe chướng tai lắm nhưng tôi cố buộc mình chấp nhận điều đó, coi giả định ấy là thực để xem bản thân sẽ thấy được gì. Và đó là lúc tôi phát hiện ra. Rằng có những điều ta không thể xóa sạch, có những điều ta để lộ với những người thân thiết nhất dù biết hay không biết mình đang làm thế. Có những điều, tuy không định bụng nhưng Owen đã nói với riêng mình tôi. Vậy là tôi lập một danh sách mới. Danh sách tất cả những gì tôi biết về

quá khứ của Owen. Không phải những chi tiết giả - Newton, Princeton, Seattle. Mà là những chi tiết khác - không hiển hiện: những điều tôi tình cờ biết khi bên nhau, những điều giờ nghĩ lại sao có vẻ lạ lùng. Như anh chàng từ trường trung học Roosevelt. Tôi lên mạng tìm Roosevelt: có tám mươi sáu địa điểm mang tên này rải rác khắp nước Mỹ. Không nơi nào nằm ở Massachusetts. Nhưng tám trong số đó thuộc bang Texas - gần các thành phố như San Antonio và Dallas. Tôi nhớ kỹ điều đó rồi tiếp tục suy nghĩ và bỗng nhớ tới đêm ở khách sạn cùng Owen và con lợn tiết kiệm đặt trên quầy bar. Nghĩ đến đây, tôi chợt nhận ra điều bấy lâu nay tôi vất vả lắm mà không thể nhớ ra về con lợn tiết kiệm ấy. Giờ có phải tôi đang nhớ đúng sự thực, hay nỗi tuyệt vọng khiến tôi tưởng tượng ra mọi thứ? Tôi nhắn tin cho Jules nhờ kiểm tra giùm trong lúc tiếp tục suy ngẫm. Tôi cứ thế lần theo những gì chỉ mình tôi biết: những chi tiết vặt vãnh, những câu chuyện Owen thường kể tôi nghe trước giờ đi ngủ. Chỉ hai chúng tôi. Những gì chúng ta chỉ làm với người được mình chọn để chứng kiến cuộc đời mình. Những câu chuyện ấy, những câu chuyện anh chia sẻ mà thậm chí còn không ý thức rằng mình đang chia sẻ, không thể cũng toàn là giả dối. Tôi từ chối không chịu tin điều ấy. Tôi sẽ từ chối tin, cho tới khi điều ngược lại được chứng minh là đúng. Tôi bắt đầu kiểm chứng những chi tiết nổi bật nhất từ Owen: lần anh cùng cha đi tàu dọc bờ biển Đông Mỹ lúc chưa đầy mười sáu tuổi, lần duy nhất anh đi một mình cùng cha mấy hôm liền. Lần trong năm cuối ở trường trung học anh đưa chú cún của bạn gái ra ngoài chơi khiến nó chạy lạc đâu mất. Owen bị sa thải khỏi công việc đầu tiên bởi dùng hết cả buổi chiều ấy đi tìm chó thay vì quay lại làm việc. Lần anh cùng bạn trốn vé vào xem suất chiếu nửa đêm phim Star Wars và khi mò về đến nhà đã khiến cha mẹ anh thức giấc lúc 2 giờ 45 sáng. Còn một lần anh kể tôi nghe về hồi học đại học, về lý do khiến anh bắt đầu yêu thích ngành kỹ thuật và công nghệ đến thế. Năm đại học đầu tiên, lúc anh chưa đầy mười chín tuổi, Owen chọn lớp toán của một giáo sư anh yêu quý, người mà theo anh nói là đã có công lao trong sự nghiệp hiện tại của mình. Mặc dù vị giáo sư từng nói với Owen anh là sinh viên tồi nhất ông từng dạy. Anh có nói với tôi tên vị giáo sư ấy là gì không nhỉ? Tobias gì

đó. Tobias Newton? Hay là Giáo sư Newhouse? Có phải ông có biệt danh gì không ấy nhỉ? Tôi lao lên gác, quay lại phòng khách sạn đánh thức Bailey - người duy nhất có thể đã từng nghe câu chuyện về vị giáo sư nhiều lần hơn tôi. Tôi kéo chăn rồi ngồi xuống cạnh giường con bé. “Cháu đang ngủ,” nó nói. “Hết ngủ rồi,” tôi nói. Nó miễn cưỡng bò dậy tựa lưng vào thành giường. “Có chuyện gì?” “Cháu có nhớ tên của giáo sư dạy bố cháu không? Người mà bố cháu rất yêu quý, người dạy bố cháu năm đầu đại học ấy?” “Cháu không hiểu cô đang nói gì,” nó nói. Tôi cố giữ kiên nhẫn, nghĩ đến những lần Bailey trợn mắt tỏ thái độ khi phải nghe chuyện này - vì cách mà Owen dùng nó làm bài học mỗi khi có cơ hội. Anh dùng nó để thuyết phục Bailey cần kiên trì với những gì là quan trọng và theo đuổi kế hoạch đến cùng. Anh dùng câu chuyện này mỗi khi cố thuyết phục Bailey làm ngược lại điều mà nó đang làm. “Cháu biết chuyện ấy mà, Bailey. Vị giáo sư dạy môn lý thuyết chuẩn và phân tích đa tạp khó nhằn ấy. Bố cháu rất thích nói về ông ấy. Ông ấy nói với bố cháu rằng bố cháu là sinh viên tệ nhất ông ấy từng dạy. Và hóa ra điều ấy lại khiến Owen muốn học tốt hơn. Khiến bố cháu tập trung hơn?” Bailey dần nhớ ra nên gật đầu. “Có phải người đăng bài thi giữa kỳ của bố cháu lên bảng tin không...” nó nói. “Để bố cháu nhớ phải cố gắng thế nào.” “Chính xác, đúng thế!” “Nhiều khi có đam mê nhưng cũng phải cần cù và chúng ta không nên từ bỏ đam mê chỉ vì thấy không dễ...” Nó giả giọng Owen. “Con gái ạ, nhiều khi chúng ta phải làm việc vất vả hơn để có được chỗ đứng tốt hơn.” “Chính thế. Đúng. Chính là ông ấy. Cô nghĩ tên ông ấy là Tobias nhưng cô cần cả họ nữa. Làm ơn nói với cô là cháu nhớ họ ông ấy đi.” “Tại sao?” nó nói. “Nói đi, cháu có nhớ họ ông ấy không, Bailey?” “Thỉnh thoảng bố cháu gọi ông ấy bằng họ. Biệt danh cho cái họ của

ông ấy. Nhưng bắt đầu bằng chữ J... đúng không nhỉ?” “Có lẽ thế. Cô không biết.” “Không. Chắc không phải... Là Cook... Bố cháu gọi ông ấy là Cook. Vậy có thể là Cooker chăng?” nó nói. “Hay Cookman?” Tôi mỉm cười, xém chút bật cười lên thành tiếng. Nó đúng. Tôi biết ngay khi nghe được cái tên đúng. Thật tốt khi biết mình thậm chí còn không nhớ được gần đúng. “Có gì buồn cười đâu?” nó nói. “Cô khiến cháu sợ đấy.” “Không có gì, tuyệt lắm. Cô chỉ cần biết vậy thôi,” tôi nói. “Cháu ngủ tiếp đi.” “Cháu không muốn ngủ nữa,” nó nói. “Nói cho cháu nghe cô đã tìm được gì đi.” Tôi mở điện thoại, đánh tên họ giáo sư vào hộp search. Liệu có được bao nhiêu giáo sư tên là Tobias Cookman giảng dạy toán đại học chứ? Cụ thể hơn nữa thì là bộ môn lý thuyết chuẩn và phân tích đa tạp? Tôi tìm được một người, ông này dạy toán học lý thuyết, được tuyên dương và nhận vô số giải thưởng trong nghề dạy học. Các bức ảnh hiện ra trên mạng trông hệt như những gì Owen mô tả. Lông mày nhíu lại, trán đầy nếp nhăn. Và vì một lý do nào đó, ông luôn đi đôi bốt cao bồi đỏ trong rất nhiều ảnh. Giáo sư Tobias “Cook” Cookman. Chưa bao giờ giảng dạy ở Đại học Princeton. Nhưng suốt hai mươi chín năm qua chỉ dạy ở Đại học Texas ở Austin.

LàKhoaHọcCònGì? Lần này chúng tôi vẫy taxi. Bailey không rời mắt nhìn xuống hai bàn tay. Mắt không chớp, gọi là sững sờ thôi là chưa đủ. Tôi cũng quay cuồng đầu óc, cố giữ bình tĩnh. Việc một thám tử tư tin rằng chồng bạn mang tên khác, rằng cuộc đời thực của anh hoàn toàn khác không thấm tháp gì so với phát hiện này. Nếu đúng thế - nếu đúng là Owen học lớp toán của giáo sư Cookman này - thì đây sẽ là bằng chứng đầu tiên, bằng chứng thực sự, cho thấy Owen nói dối về cuộc đời anh. Đây là bằng chứng đầu tiên cho thấy trực giác của tôi đã đúng, rằng có thể cuộc đời Owen, cuộc đời thực của Owen, bắt đầu và kết thúc ở Austin. Cảm giác như đó là một thắng lợi khi chúng tôi tiến gần hơn tới sự thực. Nhưng khi sự thực đem tới điều mình không muốn thừa nhận thì chúng ta lại không chắc lắm. Không chắc ta có muốn chiến thắng ấy không. Xe taxi tấp vào trường Khoa học Tự nhiên - tập hợp các tòa nhà lớn hơn và chiếm diện tích lớn hơn hẳn cả khu trường sở và khu ký túc xá ngôi trường nghệ thuật của tôi gộp lại. Tôi quay sang nhìn Bailey. Nó đang đưa mắt nhìn các tòa nhà cùng đám cây cối xanh tươi khắp trường. Kể cả trong hoàn cảnh này cũng không thể không thán phục, đặc biệt sau khi ra khỏi xe đi dưới hàng cây rợp bóng, qua cây cầu nhỏ dẫn tới khoa toán. Tòa nhà Robert Lee Moore là trụ sở của khoa toán, lý và thiên văn học của Đại học Texas. Bức tường thành tích tự hào khoe tòa nhà là nơi hàng trăm sinh viên toán và khoa học xuất sắc nhất nước Mỹ tốt nghiệp hằng năm. Đây cũng là ngôi nhà của những người đoạt giải Nobel, Wolf, Abel, giải thưởng Turing và huy chương Fields. Giáo sư Cookman của chúng tôi cũng từng giành huy chương Fields. Theo thang cuốn lên văn phòng, chúng tôi thấy tấm poster chân dung giáo sư Cookman. Vẫn nhíu trán như thế, vẫn nhăn mày như thế. Tấm poster đề: CÁC NHÀ KHOA HỌC TEXAS THAY ĐỔI THẾ GIỚI.

Bên dưới liệt kê vài nghiên cứu và vài giải thưởng của giáo sư Cookman. Huy chương Fields. Vào chung kết giải thưởng Wolf. Chúng tôi đã đứng trước văn phòng ông. Bailey mở một tấm ảnh của Owen trên điện thoại. Chúng tôi chọn tấm ảnh cũ nhất mang theo đến Texas - hy vọng giáo sư Cookman sẽ đồng ý xem thử. Bức ảnh chụp từ mười năm trước. Owen đang ôm hôn Bailey sau buổi diễn kịch đầu tiên ở trường. Bailey vẫn đang mặc nguyên đồ diễn, Owen tự hào vòng tay ôm vai con gái. Mặt Bailey gần như bị che khuất hoàn toàn bởi bó hoa lớn tướng anh tặng con - cúc đồng tiền, cẩm chướng và hoa loa kèn, bó hoa lớn hơn cả con bé. Bailey cố thò mặt ra nhìn, miệng cười tươi rói. Owen đang nhìn vào máy ảnh. Hạnh phúc. Vui tươi. Thật khó khăn khi phải nhìn vào tấm ảnh, đặc biệt khi tôi phóng to gương mặt Owen. Ánh mắt tươi sáng, hoạt bát của anh. Như thể anh đang có mặt nơi này. Như thể anh có thể hiện diện nơi đây. Tôi cố mỉm cười khích lệ Bailey khi cùng bước vào phòng và thấy một nghiên cứu sinh ngồi sau bàn làm việc ở căn phòng bên ngoài. Cô đeo kính gọng đen và đang tập trung chấm điểm một tập bài sinh viên dày cộp. Cô không ngẩng lên, không bỏ bút mực đỏ xuống. Nhưng hắng giọng. “Tôi giúp được gì?” cô nói, giọng không muốn giúp chút nào. “Chúng tôi hy vọng được gặp và nói chuyện với giáo sư Cookman,” tôi nói. “Rõ rồi,” cô nói. “Để làm gì?” “Bố cháu là sinh viên cũ của giáo sư,” Bailey nói. “Giáo sư đang lên lớp,” cô nói. “Hơn nữa, phải đặt hẹn.” “Tất nhiên rồi, nhưng Bailey có ý muốn nói nó cũng muốn làm sinh viên ở đây. Ở Đại học Texas. Giống bố con bé. Và Nielson Simonson bên bộ phận tuyển sinh gợi ý hôm nay nên tham dự lớp học của giáo sư Cookman.” Cô ngẩng lên nhìn. “Ai bên tuyển sinh cơ?” cô hỏi. “Nielson?” tôi nói, cố tỏ vẻ tự tin với cái tên mình vừa bịa ra. “Anh ấy nói nếu giáo sư Cook không thuyết phục được Bailey nhập học ở đây thì không ai khác làm được việc ấy. Anh ấy nói Bailey nên dự lớp giáo sư hôm nay.” Cô gái nhướng mày. Việc tôi dùng biệt danh Cook khiến cô bớt thắc

mắc hơn, tin tôi hơn. “Lớp đã quá nửa thời gian rồi, nhưng nếu muốn dự nốt nửa còn lại, tôi sẽ đưa cháu xuống...” “Thế thì tuyệt vời,” Bailey nói. “Cảm ơn cô.” Cô không tỏ vẻ quan tâm, chỉ nhướng mắt. “Thế thì đi thôi,” cô nói. Chúng tôi theo cô ra khỏi văn phòng, xuống vài tầng cầu thang cho tới khi đứng trước giảng đường lớn. “Cửa vào nằm ở phía đầu giảng đường,” cô nói. “Đừng dừng chân. Đừng nhìn giáo sư Cookman. Nhằm thẳng cầu thang, lên tới cuối giảng đường. Hiểu chưa?” Tôi gật đầu. “Rồi.” “Nếu hai người làm gián đoạn bài giảng, giáo sư sẽ đề nghị hai người ra ngoài,” cô nói. “Chắc chắn đấy.” Cô mở cửa, tôi định cảm ơn nhưng cô đưa ngón tay lên miệng suỵt. “Không nhớ tôi vừa nói gì à?” Rồi cô bỏ đi, đóng cửa sau lưng khi chúng tôi đã đặt chân vào trong. Chúng tôi nhìn cánh cửa khép kín rồi làm theo lời cô dặn. Mắt tôi nhìn thẳng phía trước khi lên bậc thang về phía cuối giảng đường, đi qua khoảng tám mươi sinh viên ngồi kín chỗ. Tôi chỉ chỗ trống sát tường để cả hai cùng nhằm tới, cố làm sao để không ai thấy. Chỉ đến lúc ấy, chúng tôi mới quay lại quan sát căn phòng. Giáo sư Cookman đứng chính giữa phía đầu giảng đường, sau một bục giảng nhỏ. Nhìn ở ngoài thế này, ông tầm sáu mươi, đi bốt cao bồi đỏ hình như giúp ông cao thêm được năm bảy phân nhưng vẫn không quá mét sáu. Ai cũng đang chăm chú nhìn giáo sư. Ai cũng tập trung. Không ai thì thào với người ngồi cạnh. Không ai kiểm tra email. Không ai nhắn tin. Khi giáo sư Cookman xoay người để viết lên bảng lớn, Bailey ghé lại gần tôi. “Nielson Simonson?” nó thì thào. “Cô bịa đấy à?” “Thì mình đang ở đây còn gì?” tôi nói. “Đúng thế.” “Thế thì bịa hay không bịa có sao?”

Tôi tưởng chúng tôi nói đủ nhỏ, nhưng hóa ra lại đủ to khiến ai đó ngồi ở hàng ghế cuối cùng quay lại nhìn. Tệ hơn thế, giáo sư Cookman cũng dừng tay viết bảng và quay lại nhìn. Ông chằm chằm nhìn chúng tôi, cả lớp làm theo. Cả người tôi nóng bừng, tôi cụp mắt nhìn xuống đất. Giáo sư không nói gì nhưng cũng không ngừng nhìn chúng tôi. Phải đến gần một phút. Một phút mà cảm giác như cả thế kỷ. Ơn trời, cuối cùng ông cũng quay lại bảng đen tiếp tục giảng bài. Chúng tôi im lặng dự nốt giờ học. Thật dễ hiểu vì sao ai cũng tập trung lắng nghe giáo sư Cookman. Dù dáng người thấp bé nhưng ông thực sự gây ấn tượng. Giờ học của ông giống một buổi biểu diễn hấp dẫn với sinh viên. Và có lẽ cũng khiến họ sợ hãi nữa. Ông chỉ gọi sinh viên nào không giơ tay. Khi một người trả lời đúng, ông chỉ đưa mắt nhìn ra chỗ khác, không bày tỏ cảm xúc gì. Khi ai đó không có câu trả lời, ông không rời mắt nhìn kẻ phạm tội. Ông nhìn đến mức ta phải lúng túng, gần như lúc ông nhìn chúng tôi. Chỉ đến lúc ấy ông mới gọi người khác. Sau khi viết phương trình cuối cùng lên bảng, ông tuyên bố giờ học đã hết và giải tán lớp học. Cả lớp kéo nhau ra khỏi giảng đường. Chúng tôi xuống các bậc thang, tới chỗ ông đang đứng sau bàn cất giáo án và giấy tờ vào cặp đeo. Hình như không thấy chúng tôi, ông tiếp tục thu dọn. Nhưng rồi ông lên tiếng. “Hai người có thói quen cắt ngang bài giảng hảp?” ông nói. “Hay tôi là trường hợp đặc biệt?” “Giáo sư Cookman,” tôi nói. “Tôi xin lỗi. Chúng tôi không định thế.” “Cô nghĩ nói vậy làm mọi việc tốt hơn hay tệ đi?” ông nói. “Mà cô là ai mới được chứ? Tại sao lại vào lớp học của tôi?” “Tôi là Hannah Hall. Còn đây là Bailey Michaels,” tôi nói. Ông hết nhìn tôi lại nhìn Bailey, nghĩ ngợi. “Rồi.” “Chúng tôi đang tìm kiếm thông tin về một sinh viên cũ của giáo sư,” tôi nói. “Hy vọng giáo sư sẽ giúp đỡ.” “Tại sao tôi lại muốn giúp?” ông nói. “Đặc biệt khi hai người làm gián đoạn bài giảng của tôi?”

“Vì có lẽ giáo sư là người duy nhất làm được việc đó,” tôi nói. Ông không rời mắt nhìn tôi, như thể đến giờ mới để ý xem tôi là người thế nào. Tôi ra hiệu cho Bailey đưa ông điện thoại, màn hình đã mở sẵn bức ảnh chụp nó với Owen. Giáo sư thò tay vào túi áo lấy kính rồi nhìn xuống màn hình điện thoại. “Người đứng cùng cháu trong ảnh?” ông nói. “Là sinh viên cũ đó hả?” Con bé chỉ gật đầu mà không nói gì. Giáo sư nghiêng đầu ngắm ảnh như thực sự cố nhớ. Tôi giúp ông vài thông tin khơi dậy ký ức. “Nếu năm tốt nghiệp chúng tôi biết là đúng thì anh ấy học lớp của giáo sư hai mươi sáu năm trước,” tôi nói. “Chúng tôi hy vọng ông biết tên anh ấy?” “Cô biết cậu ấy học lớp của tôi hai mươi sáu năm trước, nhưng lại không biết tên cậu ấy?” ông nói. “Chúng tôi biết tên hiện tại của anh ấy, nhưng không biết tên thật,” tôi nói. “Chuyện dài lắm.” “Tôi có đủ thời giờ nghe tóm tắt,” ông nói. “Là bố cháu,” Bailey nói. Câu đầu tiên Bailey thốt ra, khiến giáo sư khựng lại. Ông ngẩng lên nhìn Bailey đang nhìn mình. “Vậy thì có liên quan gì tới tôi?” ông nói. Tôi nhìn Bailey xem nó có muốn trả lời không, nhưng nó vẫn giữ im lặng. Trông nó mệt mỏi quá. Quá mệt mỏi cho một cô bé mới lên mười sáu. Nó nhìn tôi ra hiệu. Nó ra hiệu muốn tôi giúp. “Hóa ra chồng tôi bịa ra rất nhiều chi tiết... về đời anh ấy,” tôi nói. “Trừ một điều, anh ấy có kể về giáo sư và về ảnh hưởng có được từ giáo sư. Anh ấy rất yêu quý giáo sư.” Nghe đến đây, giáo sư lại nhìn ảnh. Hình như ông nhớ ra gì đó khi chăm chú nhìn Owen. Tôi nhìn sang Bailey, tôi biết nó cũng để ý thấy thế. Nhưng tất nhiên rồi, có thể chỉ vì chúng tôi muốn thấy như thế. “Tên hiện giờ của anh ấy là Owen Michaels,” tôi nói. “Nhưng trước đây anh ấy có tên khác,

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 41

Đang tải bình luận...