Hồi cũng nói là ngày tận thế, đại khái đều ở trong giai đoạn này. Chúng ta xem những cuốn sách này, nghe những lời này cũng lo âu bất an! Chúng ta làm sao có thể may mắn vượt qua thảm họa này, làm sao có thể giúp người thế gian vượt qua cửa ải khó khăn này, có khả năng này hay không? Hôm nay, chúng ta đọc Liễu Phàm Tứ Huấn, biết rằng đáp án là khẳng định, có thể. Bản thân chúng ta tu dưỡng đạo đức thì chúng ta sẽ vượt qua. Nhà Phật nói: “Trong cộng nghiệp có biệt nghiệp”, bản thân chúng ta có thể vượt qua. Bản thân chúng ta có năng lực vượt qua thì phải biết giúp đỡ những chúng sanh khổ nạn này. Giúp họ như thế nào? Nhất định phải lấy đức hạnh, phải lấy học vấn để cảm hóa họ, giúp họ giác ngộ, giúp họ hiểu rõ, giúp họ sám hối, họ cũng có thể đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức, vậy thì có thể hóa giải tai nạn này. Mặc dù không thể hóa giải hoàn toàn nhưng cũng có thể giảm nhẹ mức độ thiên tai, rút ngắn thời gian của thiên tai. Hiệu quả này là công đức rất lớn, chúng ta cần phải siêng năng nỗ lực thực hành. Làm sao tu dưỡng đức hạnh của mình, trong sách này đưa ra rất nhiều ví dụ. Chúng ta phải tỉ mỉ mà thể hội, suy nghĩ kỹ càng. Ở dưới ông lại đưa ra một ví dụ:
137 Khi gặp phải sự hủy báng, đều xem như cơ hội để mài dũa ta thành ngọc quý, nên ta phải hoan hỷ đón nhận, làm sao có thể sân giận ? Điều này mỗi người chúng ta từng giây từng phút đều gặp phải, chúng ta có thể làm được hay không? Người khác ác ý hủy báng ta, sau khi nghe xong ta có thể không sanh khởi một chút tâm oán hận nào hay không? Đây là công phu. Có người ở bên ngoài đặt điều sinh sự hủy báng tôi, có đồng tu đến nói với tôi, người đó nói xấu thầy, hủy báng thầy. Họ vừa mở lời, tôi liền ngăn họ lại đừng nói thêm nữa, họ cảm thấy rất ngạc nhiên! Họ hỏi, vì sao vậy? Tôi nói với họ, tôi hy vọng trong tâm tôi luôn giữ được ấn tượng tốt nhất đối với người đó. Tôi không mong muốn đem điều bất thiện và những ngôn hạnh của họ để vào trong tâm mình, tôi không muốn như vậy, tôi vĩnh viễn nhớ điểm tốt của người khác, nhớ điều thiện của người khác. Mắt tôi nhìn thiên hạ đều là người thiện, đều là người tốt. Tuyệt đối không để điều bất thiện của người khác vào trong tâm mình, biến tâm mình thành bất thiện, tổn thất này quá lớn. Người nói xấu tôi, người phá hoại tôi, trước đây đối với tôi rất tốt, tôi luôn cảm ân đội đức đối với họ. Về sau, có nhiều chuyện không tốt xảy ra, đó là có nguyên nhân khác, trong nguyên nhân này đa phần đều là hiểu lầm. Vì sao trước đây họ tốt với tôi, bây giờ lại không tốt với tôi nữa? Vì trước đây tôi có lợi ích với họ, bây giờ dường như tôi không có lợi ích với họ nữa. Do lợi và hại nên khiến tâm lý, thái độ, ngôn hành đều thay đổi, sự thay đổi này tôi biết rõ. Trước đây tôi tốt với họ, bây giờ đối với họ càng tốt hơn, là do họ không hiểu mà thôi. Vì sao vậy? Vì trong tâm họ chỉ có lợi hại của danh văn lợi dưỡng. Hôm nay tôi đã tiến thêm một bước, bây giờ tôi hoàn toàn nói về đức hạnh. Tôi nâng cao mặt đạo đức và buông bỏ mặt danh lợi. Tôi đối tốt với họ nhưng họ không hiểu nên sinh ra hiểu lầm, tôi cần phải tha thứ cho họ. Nói tha thứ
138 cho họ thì tâm lượng của tôi đã rất nhỏ rồi, đã sai rồi, [trong tâm phải] hoàn toàn không có việc đó. Những nơi khác việc này có thể có, còn trong tâm tôi vĩnh viễn chưa từng xảy ra. Như vậy thì chúng ta mới có thể trở về với tự nhiên, trở về với thiên tánh. Vì sao cư sĩ Hứa Triết sống đến 102 tuổi mà vẫn trẻ như vậy, vẫn khỏe mạnh như vậy, suốt đời không sanh bệnh, còn có thể phục vụ cho chúng sanh khổ nạn trong xã hội. Bà phục vụ những người già, thật ra những người già đó còn ít tuổi hơn bà rất nhiều. Người già bảy tám mươi tuổi, còn bà hơn 100 tuổi mà vẫn phục vụ cho họ, nguyên nhân là gì? Vì trong tâm bà không xen tạp chút ý niệm bất thiện nào, tuyệt đối không cho phép có chút bất thiện nào chạy vào trong tâm ta, ta cần phải phòng ngừa. Trong tâm ta chỉ tiếp nhận tâm thiện, hành thiện, đức thiện của hết thảy chúng sanh, đây mới là tu dưỡng đạo đức của chính mình. Cho nên, chúng tôi gặp người hủy báng, sỉ nhục, hãm hại mình, tôi cảm kích, vì sao vậy? Vì từ trong cảnh giới này, khảo nghiệm xem công phu của mình rốt cuộc đã đạt đến trình độ nào. Nếu như tâm tôi vẫn còn một niệm xấu ác, còn một niệm không vui, thì bản thân phải lập tức quay đầu sám hối, đức hạnh của mình chưa đủ, vì sao không vượt qua được thử thách. Cho nên chắc chắn là “phải hoan hỷ đón nhận, làm sao có thể sân giận?” Người ta đối với tôi không tốt, nhưng tôi vẫn dùng thái độ tốt đối với họ, dần dần truyền đến tai đối phương, đối phương sẽ cảm kích, sẽ quay đầu hướng thiện. Ta tự cứu mình, cũng cứu người khác. Nếu ta vừa nghe thấy người khác hủy báng liền nổi nóng, liền có tâm báo thù, thì oan oan tương báo biết bao giờ ngừng dứt, hại mình hại người. Đạo lý này không khó hiểu, lợi hại được mất trong việc này cũng không khó hiểu lắm. Nếu suy nghĩ, tư duy nhiều một chút thì chúng ta có thể cứu mình cứu người, tự độ độ tha, như vậy còn có gì vui hơn mà không làm?
139 Cho nên, một người ở thế gian, hy vọng suốt đời đều có thể giữ được tâm chân thành, đều có thể luôn giữ được tâm yêu thương, yêu thương tất cả chúng sanh. Người yêu thương mình, mình yêu thương họ thì không khó. Người hận mình, mình yêu thương họ, đây mới gọi là công phu thật sự, đức hạnh thật sự, học vấn thật sự. Chúng sanh tạo tội thập ác ngũ nghịch, ta vẫn dùng tâm chân thành bình đẳng để yêu thương họ, vì ta biết họ có Phật tánh. Câu đầu tiên trong Tam Tự Kinh nói: “Nhân chi sơ, tánh bổn thiện”, ta biết tánh của họ vốn thiện, chân tâm chân tánh của họ vốn là thiện. Ta tôn kính họ, yêu thương họ. Họ nhiễm phải những tập khí bất thiện, đó không phải là thật, điều đó có thể sửa đổi. Cho nên, chỉ cần một niệm hồi đầu thì họ chính là người thiện, sẽ khôi phục được bổn lai của họ. Những đạo lý và chân tướng sự thật này không thể không biết. Tiên sinh Liễu Phàm nói tiếp: Lại nữa, nếu ta nghe lời phỉ báng mà không nổi giận. Giống như không có việc gì xảy ra vậy. Dù lời phỉ báng có ngang ngược ngất trời thì cũng chỉ như châm lửa đốt hư không mà thôi, cuối cùng lửa sẽ tự tắt. Lúc tôi còn trẻ đã học được điều này, tôi hiểu rõ ràng tường tận. Hình như là năm ngoái, pháp sư Ngộ Đạo gửi cho tôi một số báo và tạp chí của Đài Loan, đồng thời viết cho tôi một lá thư. Đó đều là một số người xuất gia ở Đài Loan, chỉ thẳng tên tôi, hủy báng tôi, nhục mạ tôi. Nói tôi đề xướng bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ là tội rất lớn, hướng dẫn sai rất nhiều người niệm Phật, họ viết một bài văn rất dài. Pháp sư Ngộ Đạo muốn tìm một nhóm đồng học viết bài phản bác lại, tôi lập tức gọi điện nói với thầy ấy, mặc kệ họ chửi mắng, chúng ta một câu cũng đừng nói, vì sao vậy? Vì họ chửi mệt rồi thì sẽ không chửi nữa, không liên quan đến tôi! Họ viết bài thì cứ mặc cho họ viết, họ viết rồi cũng có lúc mệt, chúng ta không có chút
140 phản ứng nào. Thầy Ngộ Đạo cũng nhẫn nhịn, rất tốt, nghe lời, chúng ta cứ mặc kệ họ, bây giờ chẳng phải không có chuyện gì nữa sao? Phải biết việc mắng người, thì hai người càng mắng càng hăng, nếu một người mắng còn một người không lên tiếng. Đến sau cùng mắng mệt rồi thì tự nhiên họ sẽ không mắng nữa, còn người kia ngồi đó rất thoải mái, ở đó làm gì? Ngồi nghe nhạc. Người nào cao, người nào thấp? Người bên ngoài nói, người đó có tu dưỡng, người kia kém phong độ, cứ để người khác phê bình, chúng ta cần gì phải nói? Huống gì mắng người rất mệt, nổi giận sẽ tổn thương thân thể rất nghiêm trọng. Cư sĩ Hứa Triết nói, một lần nổi giận ba ngày sau vẫn chưa hồi phục được, vậy tại sao bạn phải nổi giận? Họ mắng bạn, bạn cảm thấy rất khó chịu, vậy họ mắng người khác tại sao bạn không thấy khó chịu? Họ mắng tôi, Tịnh Không tôi, Tịnh Không là giả danh, rất nhiều người đều có thể tên là Tịnh Không, tôi hà tất phải nhận? Người ta mắng bạn, bạn liền tiếp nhận, vậy là bạn dại, bạn ngu si rồi! Nếu bạn nghe xong, giống như họ mắng người khác vậy, không liên quan gì đến mình, tâm bình khí hòa. Mối oán thù này liền được hóa giải, sự hiểu lầm đối với ta cũng được hóa giải, không cần để ý đến họ. Đánh nhau cũng như vậy, hai người càng đánh càng hăng. Nếu một người đánh còn người kia không đánh trả, người kia đánh mấy cái cảm thấy rất ngượng ngùng. Đánh tiếp mà người ta không đánh trả, còn không đánh nữa thì cũng cảm thấy xấu hổ. Phương pháp này rất có hiệu quả đối với người thích đánh nhau, tôi từng dùng rồi. Lúc trẻ tôi gặp một vài người bạn hay nổi giận, họ đánh tôi nhưng tôi không đánh trả. Họ đẩy tôi ngã, tôi liền nằm xuống đất không đứng lên. Người xung quanh nhìn thấy, họ ở đó rất xấu hổ, rất ngượng ngùng, muốn đánh cũng không đánh tiếp được, còn không đánh dường như cũng không biết làm sao để rút lui. Chiêu này của tôi rất cao minh, không cần tranh với người khác, nhất định duy trì tốt tình hữu nghị. Hy vọng thời gian của những sai trái, hiểu lầm này sẽ được rút ngắn lại, còn tình hữu nghị thì được
141 vĩnh viễn dài lâu. Đây là đạo lý làm người, giúp chính mình, thành tựu người khác. Cho nên, tất cả những lời xằng bậy sẽ tự tan biến, không cần chúng ta biện minh. Càng biện luận càng rắc rối, không biện minh thì tự nhiên sẽ được hóa giải, cách này rất hay! Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây thôi. TẬP 10 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem tiếp đoạn văn bên dưới: Nếu nghe lời phỉ báng mà nổi giận thì dù có khôn ngoan xảo biện đến đâu cũng chỉ như tằm xuân nhả tơ làm kén, tự trói buộc chính mình. Nóng giận chẳng những vô ích mà còn gây hại nữa. Điều này chúng ta cũng thường gặp trong cuộc sống hằng ngày, bản thân chúng ta nhất định phải đề cao cảnh giác, tuyệt đối không được để cảnh giới xoay chuyển, như vậy thì tổn thất của chúng ta sẽ rất lớn. Một lần nổi giận, bất luận thời gian dài hay ngắn, cho dù chỉ ngắn trong chừng một phút, nhưng tâm lý, sinh lý của chúng ta đã bị tổn thương, phải cần thời gian ba ngày mới có thể khôi phục lại được sự bình tĩnh. Chư vị nghĩ thử xem, nếu mỗi ngày đều nổi giận một lần thì sẽ có hại rất lớn cho sức khỏe của chúng ta, điều này không đáng chút nào. “Nghe lời phỉ báng”, người ta hủy báng chúng ta, đây là điều không thể tránh khỏi. Chúng ta chung sống với đại chúng, quả thật không có cách gì khiến tất cả mọi người cảm thấy hài lòng đối với lời nói và hành động của chúng ta. Chẳng những phàm phu chúng ta không làm được, mà ngay đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni cũng không làm được. Bạn xem, lúc ngài còn tại
142 thế có Đề-bà-đạt-đa thường gây phiền phức, hủy báng sỉ nhục ngài, thậm chí hãm hại ngài. Có Đề-bà-đạt-đa, có lục quần tỳ-kheo trong nội bộ tăng đoàn thường gây phiền phức, bên ngoài có lục sư ngoại đạo, đây đều là khi Thế Tôn còn tại thế đã làm tấm gương tốt cho chúng ta. Ngài xử lý sự hủy báng, hãm hại này như thế nào? Dùng tâm bất động, dùng tâm chân thành, bình đẳng, từ bi để xử lý, điều này chúng ta nên học tập. Cho nên, nếu chúng ta nghe người khác hủy báng mà còn nổi giận, thậm chí là cực lực biện hộ cho bản thân, thì đó là tự tìm phiền não. Cho nên, ở đây tiên sinh Liễu Phàm đưa ra một ví dụ: “Như tằm xuân nhả tơ làm kén, tự trói buộc chính mình”, thật sự không cần phải làm như vậy. “Sân giận chẳng những vô ích, mà còn có hại”, hai câu nói này là danh ngôn chí lý. Do đó, nếu chúng ta hy vọng mình suốt đời sống đời sống hạnh phúc mỹ mãn thì quý vị phải biết làm thế nào để cả đời không nổi giận, đây là công phu tu dưỡng đạt tới tiêu chuẩn rồi. Vừa rồi nói nổi giận có hại cho thân tâm của chính mình, cũng có hại cho đối phương, mình và người đều có hại, hai bên đều không có lợi ích. Nếu chúng ta có thể nhẫn nhịn, có thể dùng tâm bất động để xử lý thì chúng ta sẽ được lợi ích, được lợi ích gì vậy? Định tuệ tăng trưởng. Phước đức trong đời của một người là sinh ra từ định tuệ, định tuệ tăng trưởng chính là phước đức tăng trưởng, định tuệ là nhân, phước đức là quả. Đối phương cũng được lợi ích, chúng ta không có tâm oán hận, không có tâm trả thù, không kết oán thù với họ, cho nên mình và người đều có lợi. Đây là Bồ-tát đạo, là điều Bồtát học, chúng ta phải siêng năng học tập. Đương nhiên khi mới học sẽ có những khó khăn nhất định, nhưng bản thân nhất định phải hiểu đạo lý này. Phải khắc phục khó khăn của mình, dần dần sẽ trở thành tự nhiên. Mới đầu phải hết sức nhẫn nại, vài năm sau sẽ làm rất tự nhiên. Đây là đưa ra hai ví dụ để nói.
143 Còn những lỗi lầm khác đều nên y theo đạo lý này mà suy xét. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta xử sự đối người tiếp vật có vô số lỗi lầm, vô số hành vi ác. Phải luôn nghĩ đến những đạo lý này, nghĩ thông suốt đạo lý này. Sáng tỏ đạo lý rồi thì tự nhiên sẽ không phạm lỗi lầm nữa. Bạn chỉ cần hiểu thông suốt tường tận đạo lý thì lỗi lầm tự nhiên sẽ không còn nữa. Đây là phương pháp sửa lỗi thứ hai, phương pháp này thù thắng hơn phương pháp trước rất nhiều. Xem tiếp tiên sinh Liễu Phàm nói phương pháp thứ ba: Thế nào là sửa từ trong tâm? Mặc dù lỗi lầm nhiều vô số, nhưng đều do tâm tạo ra. Nếu tâm ta bất động thì lỗi lầm từ đâu sanh ra. Đây là đạo lý lớn, là đạo lý cứu cánh. Lỗi lầm của con người quá nhiều, nói không cùng tận! Không cần nói lỗi lầm do bạn tạo ra, mà khởi tâm động niệm thì tội lỗi đã hình thành rồi. Thử hỏi trong một ngày, từ sáng đến tối chúng ta khởi bao nhiêu vọng niệm, bao nhiêu ý niệm tự tư tự lợi, bao nhiêu ý niệm tổn người lợi mình? Những lỗi lầm này đều “do tâm tạo ra”, bạn khởi tâm động niệm. Cho nên tu hành trong Phật pháp, then chốt của tu hành chính là thiền định. Quý vị tuyệt đối không được hiểu sai ý này, cho rằng trong Phật pháp tu thiền định chỉ có Thiền tông, vậy thì bạn hiểu sai rồi. Chỉ cần là Phật pháp, bất luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, Hiển giáo hay Mật giáo, Tông môn hay Giáo hạ, rất nhiều tông phái, vô lượng vô biên pháp môn. Nhà Phật thường gọi là tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, tóm lại mà nói đều là tu thiền định. Cho nên thiền định là tu hành trong nhà Phật, là nguyên tắc chung của mọi pháp môn, chỉ là cách thức tu thiền định không giống nhau mà thôi. Ví dụ Mật tông dùng phương pháp trì chú để tu thiền định,
144 Tịnh độ tông dùng phương pháp niệm A-di-đà Phật để tu thiền định, đây là phương pháp trì danh, cũng dùng phương pháp quán tưởng, cũng dùng phương pháp quán tượng. Trong Giáo hạ dùng phương pháp đọc tụng kinh điển, dùng phương pháp trì giới. Phương pháp rất nhiều, nhưng chẳng có một phương pháp nào mà không phải là tu thiền định, nếu không phải tu thiền định thì đó không phải là Phật pháp. Sự thật này chúng ta cần phải hiểu thật rõ ràng. Nếu thật sự được định, thế nào gọi là định? Tâm ở trong hết thảy cảnh giới, thuận cảnh, nghịch cảnh, thiện duyên, ác duyên. Thiện duyên, ác duyên là danh từ Phật giáo, là nói đối với hoàn cảnh nhân sự. Thiện duyên nghĩa là ở cùng với rất nhiều người thiện, ác duyên tức là ở cùng với rất nhiều người tạo ác, là hoàn cảnh nhân sự. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chỉ cần mình không khởi tâm không động niệm, thì đó gọi là thiền định. Cho nên, “nếu tâm ta bất động thì lỗi lầm từ đâu sanh ra”, lỗi lầm sanh ra từ đâu? Khởi tâm động niệm chính là lỗi lầm. Chỉ cần chúng ta ở trong tất cả cảnh giới, rèn luyện cách đối nhân, xử sự, tiếp vật, luyện không động tâm, luyện không khởi tâm động niệm. Trong tất cả các phương pháp, thực tế mà nói phương pháp niệm Phật là hay nhất, tiện lợi nhất, dễ dàng nhất. Vì sao vậy? Vì khi ý niệm vừa khởi lên thì lập tức niệm A-di-đà Phật, dùng câu A-di-đà Phật đánh tan ý niệm đó, dụng ý của phương pháp niệm Phật là ở chỗ này. Nếu vừa niệm Phật vừa vọng tưởng, vậy thì bạn hoàn toàn sai rồi. Niệm Phật chẳng qua là dùng câu Phật hiệu này để đoạn trừ vọng niệm, cũng chính là nói dùng một ý niệm thay thế tất cả vọng niệm. Không thể không khởi ý niệm, nếu bạn không khởi ý niệm thì bạn chính là thánh nhân, không phải phàm phu. Phàm phu đối diện với cảnh giới bên ngoài, làm sao có đạo lý không khởi ý niệm cho được? Cho nên, các bậc cổ đại đức thường nói: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”. Ta phải giác ngộ thật nhanh, giác ngộ nhanh nghĩa là phải khống chế ý niệm này. Phương pháp của Tịnh
145 độ tông chính là dùng câu Phật hiệu này để chuyển nó lại, ý niệm vừa khởi lên, đừng quan tâm ý niệm này là thiện hay là ác, hãy lập tức dùng câu A-di-đà Phật thay thế ý niệm đó, để trong tâm chỉ có ý niệm này, không cho phép có niệm thứ hai. Đây gọi là niệm Phật, gọi là công phu. Lâu ngày chầy tháng, ý niệm tự nhiên không khởi nữa, vậy thì công phu của bạn đã đắc lực rồi. Nếu vẫn khởi ý niệm, thì công phu của bạn chưa đắc lực. Giống như hằng ngày đọc sách, đọc rất chăm chỉ, nhưng khi đi thi thì đều không đạt chuẩn, bạn không lấy được thành tích. Cho nên người học Phật, người tu hành, tu hành nghĩa là sửa đổi tư tưởng sai lầm của chúng ta, sửa đổi hành vi sai lầm của chúng ta. Ngày nay, chúng ta áp dụng phương pháp trì danh niệm Phật, dùng phương pháp này, ở mọi lúc mọi nơi giữ gìn tâm thanh tịnh của chúng ta. Hay nói cách khác, giữ cho chúng ta không tạo ác nghiệp. Bên dưới đưa ra mấy trường hợp: Học giả. “Học giả” chính là người học Phật, là đệ tử của đức Phật Thíchca Mâu-ni. Tuy hiện nay Thích-ca Mâu-ni Phật không còn nữa, nhưng kinh điển của ngài vẫn lưu hành ở thế gian. Chúng ta y theo lý luận và phương pháp trong kinh điển để tu học, thì đó đều là đệ tử của Thích-ca Mâu-ni Phật. Người tu học mắc những lỗi lầm như ham sắc, ham danh, ham tài vật. “Hóa” tức là hưởng thụ vật chất. Hay sân giận. Phàm phu không sao tránh khỏi những điều này. Cảnh giới này hiện tiền, chúng ta khởi tâm tham, tham sắc, tham danh, tham hưởng thụ, tâm sân giận khởi lên, nổi giận, tham sân si hiện tiền rồi. Đây chính là tội lỗi, gọi là tạo nghiệp. Lúc này phải làm sao? Vừa khởi ý
146 niệm này thì lập tức đổi thành A-di-đà Phật, đánh tan ý niệm háo sắc, dập tắt ý niệm háo danh, đoạn trừ ý niệm tham hưởng thụ, cũng dập tắt ý niệm sân giận, công đức niệm Phật là ở đây. Đương nhiên cũng có thể dùng các phương pháp khác, nhưng phương pháp niệm Phật là tiện lợi nhất, đơn giản nhất, cũng có hiệu quả nhất. Trong rất nhiều tông phái và pháp môn của Phật giáo, tôi cũng có nghiên cứu sơ qua, sau cùng tôi vẫn chọn pháp môn niệm Phật này. Pháp môn này đơn giản dễ dàng, cũng rất có hiệu quả, chính là dùng một câu Phật hiệu này để thay thế các vọng tưởng và ý niệm, đổi nó lại, dần dần vọng niệm sẽ ít đi. Luyện đến khi những cảnh giới này hiện tiền, nhưng bạn vẫn như như bất động. Không phải nói mắt không thấy, tai không nghe, không tiếp xúc, không phải vậy. Mắt mình vẫn thấy, tai vẫn nghe, vẫn tiếp xúc như thường, tiếp xúc nhưng không động tâm. Ở thế gian này, sáu căn tiếp xúc với cảnh giới cũng giống như xem phim, xem tivi vậy. Những cảnh giới này, trong kinh Bát-nhã đức Phật nói rất hay: “Như mộng huyễn bọt bóng, như sương cũng như điện, nên quán sát như vậy”. Đây là đức Phật dạy chúng ta quán sát từ trên lý, quán sát từ trên lý, sửa đổi từ trong tâm, vô cùng có hiệu quả. Mọi lỗi lầm, không cần phải sửa từng điều một. Không cần phải nghĩ từng điều một, nếu sửa đổi từng điều một, như vậy quá phiền phức, quá tốn công! Chỉ cần nhất tâm hướng thiện, chánh niệm hiện tiền thì tà niệm tự nhiên không ô nhiễm được. Lời này nói rất hay! Chỉ cần chúng ta nắm bắt được, giữ vững được “nhất tâm hướng thiện”. Thế nào gọi là “hướng thiện”? Là mỗi niệm đều vì lợi ích chúng sanh, lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia. Nhất tâm hướng thiện, tuyệt đối đừng nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Chư vị nên biết, nếu xen tạp một ý niệm lợi ích chính mình, thì thiện
147 của bạn không thuần, trong thiện có xen tạp, xen lẫn bất thiện. Phải hiểu đạo lý này. Tâm mình thuần thiện thì hành vi của mình đương nhiên cũng thuần thiện. Muốn đạt đến thuần thiện thì tuyệt đối không được có chút ý niệm tự tư tự lợi nào, như vậy chúng ta mới có thể thành tựu.“Chánh niệm hiện tiền”, chánh niệm là nói đối với tà niệm. Tà niệm chính là tư tưởng sai lầm, kiến giải sai lầm, hành vi sai lầm. Sai lầm này gây tổn hại cho xã hội, cũng vô cùng bất lợi cho chính mình. Quý vị gây tổn hại cho xã hội, gây thương tổn người khác thì tương lai quả báo ở trong ba đường ác. Mặc dù trước mắt được một chút lợi ích nhỏ, nhưng quả báo phải chịu sau này, nếu đem ra so sánh một chút thì bạn sẽ biết, cái được không bù nổi cái mất! Quý vị đạt được quá ít, nhưng cái giá bạn phải trả quá đắt, thật không đáng! Cho nên phải luôn duy trì chánh niệm, niệm thuần chánh chính là “tâm ta bất động” mà ở trước đã nói. Hoàn toàn thấu triệt cảnh giới bên ngoài, đây là chánh niệm. Tu chánh niệm, tôi dùng một ví dụ đơn giản để nói. Hiện nay, các gia đình thông thường đều có tivi, từ trẻ em đến người lớn dường như thời gian xem tivi ở nhà là nhiều nhất. Xem tivi có thể tu hành được không? Có thể. Trước đây tôi dạy không ít người, viết bốn câu kệ của kinh Kim Cang dán bên cạnh màn hình tivi. Bốn câu này là: “Hết thảy hữu vi pháp, như mộng huyễn bọt bóng, như sương cũng như điện, nên quán sát như vậy”. Chúng ta dùng bốn câu này trong lúc xem tivi, đó chính là tu hành. Chúng ta thấy rất rõ ràng hình ảnh trên tivi, âm thanh trên tivi cũng nghe rất rõ ràng, bạn học cái gì ở trong đó? Học như như bất động, đừng để mình bị xoay chuyển. Họ diễn cảnh an vui, họ cười bạn cũng cười theo họ, họ khóc bạn cũng khóc theo họ, vậy là bạn xong rồi, bản thân bạn không làm chủ được, bạn bị họ xoay chuyển. Người tu hành nên như thế nào? Ta không bị họ xoay chuyển, mà ta chuyển họ, vậy bạn đã thành công. Trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu chuyển được cảnh tức đồng Như Lai”. Cảnh giới hiện tiền, bạn không bị họ chuyển, mà
148 bạn có thể chuyển họ. Xoay chuyển họ là bạn có thể dạy họ, bạn có thể thay đổi họ, giúp họ cải tà quy chánh. Nếu bản thân bạn không có năng lực này, không có định lực này, không có trí tuệ này, chính mình còn không giữ được mình thì làm sao có thể chuyển hóa người khác cho được? Bạn hiểu được xem tivi là tu hành, là tu giới định tuệ, sau đó bạn sẽ biết từng li từng tí trong đời sống hằng ngày của chúng ta, tất cả đều là chỗ học của Bồ-tát, tất cả đều sẽ thành tựu vô thượng đạo. Vấn đề là bạn có biết làm không. Các bậc đại đức của Thiền tông thời xưa, trong Ngữ Lục chúng ta thường thấy, họ trắc nghiệm học trò, thường hỏi học trò: “Biết không!” Ý nghĩa hai chữ này sâu rộng vô cùng, nếu bạn thật sự biết thì từng li từng tí đều là Phật pháp. “Mọi việc đều như ý, đâu đâu cũng là đạo”, đây mới là thật sự thành tựu. Đây cũng chính là “lý sự vô ngại, sự sự vô ngại” được nói trong kinh Hoa Nghiêm. Tông môn và Giáo hạ dùng thuật ngữ không giống nhau nhưng ý nghĩa hoàn toàn tương đồng. Quý vị nghĩ xem, Tông môn nói: “Mọi việc đều như ý, đâu đâu cũng là đạo”. Giáo hạ nói: “Lý sự vô ngại, sự sự vô ngại”, không phải cùng một ý nghĩa ư? Pháp môn tuy khác nhau, phương pháp không giống nhau, phương pháp khác nhau nhưng kết quả thì như nhau. Nếu chúng ta hiểu rõ điều này rồi thì chúng ta đối với tất cả tông phái, tất cả pháp môn đều phải dùng tâm cung kính để đối đãi. Không có cao thấp, tuyệt đối không được nói pháp môn niệm Phật của tôi rất cao, pháp môn của bạn không bằng tôi, vậy là sai rồi! Tâm bạn không thanh tịnh, tâm bạn không bình đẳng, bạn đã mê rồi, bạn không giác ngộ. Người giác ngộ thật sự là bình đẳng, “pháp môn bình đẳng không có cao thấp”, như vậy là đúng, là chắc chắn chính xác. Cho nên, “nhất tâm hướng thiện, chánh niệm hiện tiền” là điều quan trọng! Giả dụ xã hội hiện nay, quốc gia hiện nay, mỗi người đều có thể “nhất tâm hướng thiện, chánh niệm hiện tiền” thì trong xã hội này
149 làm gì có tà giáo? Làm gì có tà tri tà kiến? Tự nhiên sẽ biến mất không còn dấu vết, cổ đức thường nói: “Phá tà hiển chánh”. Hôm nay, chúng ta đảo ngược câu này lại để nói, hiển chánh thì tà không thể tồn tại. Vì sao trong xã hội có nhiều tà tri tà kiến đến như vậy? Vì không có sự giáo dục về chánh tri chánh kiến. Do đó tà tri tà kiến vừa xuất hiện thì mọi người sẽ hiếu kỳ liền học tập theo nó, [học theo] mù quáng. Ngạn ngữ nói: “Không sợ không biết hàng, chỉ sợ hàng so với hàng”. Nếu có thể đề xướng chánh pháp, nhân dân tự biết cách phân biệt, biết so sánh; khi bày hai vấn đề ra trước mắt, so sánh một chút họ sẽ nhận thức được, tự nhiên họ sẽ biết lựa chọn. Ngày nay, trên toàn thế giới tà giáo lan tràn khắp xã hội, nguyên nhân là gì vậy? Vì trong thời đại này không có người đề xướng chánh pháp. Nhà Nho thì bị khẩu hiệu “lật đổ học thuyết Khổng tử”. Nho giáo là chánh pháp, là dạy người về hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, dạy người ngũ luân bát đức, hiện nay không cần chánh pháp nữa. Phật pháp là chánh pháp, Phật pháp dạy người: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm không giết, tu thập thiện nghiệp”. Hiện nay mọi người cho rằng Phật pháp là mê tín, phá trừ mê tín, lật đổ mê tín, điều này đã sanh ra một sự hiểu lầm lớn. Phật không mê tín, khẩu hiệu của Phật là “phá mê khai ngộ”. Coi phá mê khai ngộ thành mê tín để lật đổ, vậy thế nào gọi là không mê tín? Vậy thì nhất định sẽ cho rằng tà pháp là không mê tín, tà giáo là không mê tín, vậy đương nhiên cả xã hội sẽ như ong vỡ tổ, đều chạy đi học theo tà giáo. Điều này chúng ta phải suy nghĩ thật tường tận, làm thế nào mới có thể “hiển chánh phá tà”. Ngày nay trên toàn thế giới, rất nhiều quốc gia khu vực đều áp dụng. Xem tiếp đoạn văn bên dưới, đoạn văn này dùng ví dụ để nói. Như mặt trời rực sáng giữa hư không, yêu ma quỷ quái thảy đều lẩn trốn hết.
150 Hai câu này là ví dụ, ví “mặt trời” là chánh pháp, ví “yêu ma quỷ quái” là tà pháp, “võng lượng” là yêu quái. Ban ngày yêu quái tự nhiên không thể tồn tại được, đạo lý này là tương đồng. Phần sau tiên sinh Liễu Phàm đưa ra kết luận. Đây là phương pháp sửa lỗi chân truyền tinh thuần duy nhất. “Tinh” là tinh thuần, “nhất” là duy nhất, độc nhất. Từ xưa đến nay, thánh thánh tương truyền, đây là chân truyền. Lỗi do tâm tạo cũng từ nơi tâm mà sửa. Đây là sửa từ gốc, như vậy mới có thể sửa được cứu cánh, mới có thể sửa được triệt để. Như chặt cây độc, chỉ cần trực tiếp chặt tận gốc rễ của nó, đâu cần phải chặt từng cành, bẻ từng lá. Đây là dùng ví dụ để nói, ví như chúng ta chặt cây, cây này có độc, không phải cây tốt, chúng ta phải nhổ tận gốc của nó. Phải chặt tận gốc, không cần phải chặt từng cành, bẻ từng lá; chặt từng cành, bẻ từng lá thì quá phiền phức! Nhổ tận gốc là xong rồi, cành lá tự nhiên sẽ khô héo. Đây là nói sửa lỗi lầm, phía trước là nói sửa từ trên lý giống như chặt cây, là chặt từ thân cây. Sửa từ trên sự thì giống như chặt từ lá cây vậy, điều này rất phiền phức, rất khó. Sửa từ tâm, chính là nhổ tận gốc cây, việc này thì dễ dàng, hơn nữa thật sự làm đến triệt để. Xem tiếp đoạn văn bên dưới, đây là tổng kết. Phương pháp sửa lỗi cao minh nhất là trị tâm, khiến tâm luôn luôn thanh tịnh. Khi tà niệm vừa khởi liền phát giác, ngay đó tà niệm sẽ không còn nữa. Chúng ta học Phật, lúc dụng công cũng phải nắm được cương lĩnh, nắm được cương lĩnh, bắt đầu tu từ căn bản thì sẽ không khó.
151 Hôm nay, chúng ta nói đến Phật pháp, kinh điển của Phật pháp nhiều như vậy, cổ nhân hình dung là “mênh mông như biển”. Kinh sách lưu truyền từ Ấn Độ sang Trung Quốc, trên lịch sử ghi chép, sớm nhất là vào năm Vĩnh Bình thứ 10, thời Hán Minh Đế, tức năm 67 sau công nguyên. Năm nay là công nguyên 2001, điều này lịch sử có ghi chép. Trên thực tế, Phật pháp do cá nhân lưu truyền đến Trung Quốc, thời gian đó còn sớm hơn nữa, có thể sớm hơn hai, ba trăm năm. Còn quốc gia chính thức phái sứ giả đi thỉnh mời, nghênh đón là vào năm Vĩnh Bình thứ 10, thời Hán Minh Đế. Ở Trung Quốc, Phật pháp đã có hơn 2.000 năm lịch sử. Kinh điển không ngừng lưu truyền đến Trung Quốc, đại khái trễ nhất là vào thời Nam Tống. Thời Nam Tống, việc phiên dịch, khắc in Đại tạng kinh đã hoàn thành rồi, tổng cộng có hơn 7.000 quyển. Hiện nay còn thu thập thêm những trước tác của các bậc tổ sư đại đức xưa vào trong bộ tùng thư này, hiện nay Đại tạng kinh bằng Hán văn tổng cộng có hơn 30.000 quyển. Nếu chúng ta muốn học Phật, nhưng nhiều kinh sách như thế, bạn đều muốn xem qua, đều muốn nghiên cứu, đều muốn học tập, thì đó chính là tìm cành hái lá, việc này quá phiền phức. Như vậy biết đến năm nào chúng ta mới có thể nhập môn? Người biết học, bắt đầu học từ gốc rễ, điều này rất quan trọng. Tôi học Phật được 50 năm, tôi giảng kinh cũng được 42 năm rồi. Trong cả cuộc đời học Phật, tôi tổng kết tinh túy của Phật pháp thành 20 chữ. Chúng ta giữ tâm, tức là nói đối nhân, xử sự, tiếp vật trong đời sống hằng ngày, chúng ta dùng tâm như thế nào? Trong kinh điển đức Phật dạy chúng ta dùng tâm chân thành. “Chân” thì tuyệt đối không có giả, “thành” tức là không hư dối, dùng tâm chân thành. Dùng tâm thanh tịnh, thanh tịnh chắc chắn không có ô nhiễm. Dùng tâm bình đẳng, bình đẳng thì không có cao thấp. Dùng tâm chánh giác thì tuyệt đối không có mê hoặc. Dùng tâm từ bi, yêu thương tất cả chúng sanh, trong tâm từ bi không có tự tư tự lợi. Chúng ta phải dùng năm loại tâm này, năm loại tâm này trong Phật
152 pháp đại thừa gọi là tâm đại Bồ-đề. Nếu dùng tâm đại Bồ-đề để nói thì rất nhiều người không hiểu lắm. Nói theo chú giải trong kinh điển, cũng rất khó hiểu. Tôi nói như vậy thì mọi người dễ lý giải hơn,“chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, từ bi” là tâm Phật! Phật dùng tâm này để xử sự, đối người, tiếp vật. Việc làm của Phật là gì? Việc làm, tôi cũng dùng mười chữ là “nhìn thấu, buông xuống, tự tại, tùy duyên, niệm Phật”. Niệm Phật, Phật nghĩa là giác, tức là niệm niệm giác mà không mê, niệm niệm chánh mà không tà, niệm niệm tịnh mà không nhiễm. Đó gọi là niệm Phật, niệm tự tánh Phật. Nắm được cương lĩnh này thì tu hành sẽ rất dễ, quả nhiên có thể khế nhập cảnh giới. Tất cả kinh điển của nhà Phật bày ra trước mắt bạn, bạn sẽ không cảm thấy khó khăn nữa, bạn đều có thể thông đạt, học tập được. Cho nên, thế xuất thế gian pháp đều phải biết căn bản, đều phải nắm được tinh yếu của nó, cương lĩnh của nó, có như vậy chúng ta mới hiểu rõ được. Đại khái, cao nhất là tu từ căn bản, là “trị tâm”, hiệu quả là “tâm luôn thanh tịnh”, làm gì có nhiều chuyện phiền phức như thế? “Tà niệm vừa khởi liền phát giác, ngay đó tà niệm sẽ không còn nữa”. Tâm này vừa động lập tức phát giác ngay, vừa phát giác thì ý niệm này liền biến mất. Cổ đức nói: “Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm”, bạn phải giác thật nhanh, đừng để cho ác niệm nối tiếp nhau. Ác niệm vừa khởi lên thì niệm thứ hai chính là chánh niệm, đây là phương pháp tốt nhất. Nếu chưa thể làm được như vậy. Nếu như bạn không làm được, phương pháp cao nhất không làm được, vậy thì bất đắc dĩ phải áp dụng phương pháp thứ hai, bất đắc dĩ phải cầu phương pháp thứ hai, thứ hai là gì? Là hiểu lý. Thì nên dùng phương pháp hiểu rõ lý để trừ bỏ tà niệm. Hiểu rõ ràng tường tận đạo lý rồi thì tự nhiên sẽ xa lìa ác niệm, tà tư.
153 Nếu sửa theo lý cũng không làm được. Điều này cũng không làm được, không làm được thì sao? Thì nên sửa theo sự để ngăn chặn tà niệm. Vậy thì chỉ còn cách hạ công phu từ cành lá. Ba tầng này, thực tế mà nói thì nhà Phật gọi là ba loại căn tánh khác nhau. Hàng thượng căn hạ thủ từ gốc, từ chỗ khởi tâm động niệm, đoạn tất cả ác. Hàng trung căn là dùng “phương pháp hiểu rõ lý để trừ bỏ tà niệm”. Hàng hạ căn thì chỉ có cách “sửa theo sự để ngăn chặn tà niệm”. Cho nên, đức Phật vì hàng hạ căn này nên chế định rất nhiều điều giới. Chư vị nhất định phải hiểu những điều giới này là vào thời Ấn Độ cổ 3.000 năm trước, lúc Thích-ca Mâu-ni Phật còn tại thế, đó là quy phạm cuộc sống của xã hội thời đó. Về mặt thời gian, đã cách chúng ta 3.000 năm rồi. Về hoàn cảnh địa lý, chúng ta ở đây là Trung Quốc, ở đó là Ấn Độ. Nếu bạn hiểu được đạo lý này, sau đó bạn nghiên cứu giới luật mới thật sự có tâm đắc. Có cần căn cứ theo từng điều giới luật để thực hành hay không? Không cần, vì sao vậy? Vì rất nhiều phương thức sinh hoạt hoàn toàn khác với chúng ta hiện nay, cần phải biết điều này. Phải hiểu được tinh thần của giới luật. Phải học tinh thần đó, trên sự tướng thì nên dùng phương thức sống thời hiện nay, không thể học theo phước thức sống của Ấn Độ cổ 3.000 năm trước được, như vậy là sai rồi! Đức Phật Thích-ca Mâuni thấy vậy cũng phải cười, sao bạn lại ngốc đến như vậy. Bởi vậy trong Phật pháp, cho dù là giới luật, mỗi điều đều rất linh hoạt, không chết cứng. Nhưng giới căn bản thì siêu việt thời không, siêu việt thời gian, siêu việt không gian, mọi lúc mọi nơi đều chính xác, không thể thay đổi được. Giới căn bản này là gì? Là năm giới, chỉ có năm điều là “không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu”. Năm điều này bất luận là thời đại nào, bất luận ở khu vực nào, đều áp dụng được. Năm điều luật này là siêu việt thời không, cần phải tuân thủ. Rất nhiều những điều giới khác,
154 nhất định phải xem có thích hợp với thời đại hiện nay của chúng ta hay không. Trong thời đại hiện nay của chúng ta, phải biết làm thế nào để sửa đổi mà không trái với tinh thần của nó. Nhưng về mặt sự tướng, nhất định phải tu sửa thêm. Ở Trung Quốc lần đầu tiên làm công tác tu đính quy mô lớn là thời nhà Đường. Phật pháp thời nhà Đường, có người nói Phật pháp thời nhà Đường đã khởi lên một cuộc vận động cách mạng, cũng có thể dùng cách nói này. Đó chính là chế độ tòng lâm ở Trung Quốc đã được hưng khởi. Mã Tổ dựng tòng lâm, Bách Trượng lập thanh quy. Hai vị đại sư này đề xướng cộng tu, nương chúng tựa chúng. Hai người này là sư huynh đệ, là tổ sư đời thứ 8 của Thiền tông, hai vị đều là đời thứ 8. Nói theo cách thông thường thì các ngài là đồ tôn của đại sư Huệ Năng. Kiến lập tòng lâm chính là chế độ hóa giáo học và tu hành của Phật pháp, chính thức chế độ hóa. Tòng lâm giống như trường đại học hiện nay vậy, tổ chức rất nghiêm mật. Chủ tịch của tòng lâm chính là phương trượng, như hiệu trưởng của trường học vậy. Hòa thượng thủ tọa của tòng lâm, tương đương với giáo vụ trưởng của trường học. Hòa thượng duy-na của tòng lâm tương đương với huấn đạo trưởng. Giám viện của tòng lâm tương đương với tổng vụ trưởng. Danh xưng không giống với lãnh đạo chấp sự của trường học hiện nay nhưng công việc mà họ được phân công hoàn toàn tương đồng. Cho nên giáo vụ, huấn đạo, tổng vụ trong tòng lâm, đó là trường học, lập trường chính quy để dạy học, giúp mọi người cùng nhau công phu sửa lỗi tu thiện, đây gọi là tu hành. Tóm lại mà nói, tu hành chính là sửa lỗi tu thiện mà thôi. Hiện nay có rất nhiều người hiểu lầm, cho rằng tu hành nhất định phải ăn chay trường, nhất định phải hằng ngày gõ mõ tụng kinh, như vậy là hoàn toàn hiểu sai. Đó là hình thức, hình thức có thể thay đổi, còn tinh thần và nguyên lý nguyên tắc không thể thay đổi.
155 Hiện nay có rất nhiều đồng tu thường đến gặp tôi, họ xây dựng chùa chiền ở khắp nơi, tôi không tán thành. Vì sao vậy? Vì chùa là thời đại 2.000 năm trước, hoặc là trước thời nhà Thanh còn có thể nói được. Hiện nay là xã hội tự do dân chủ cởi mở, không thể khiến người ta trở lại thời đại chuyên chế được, đây là điều không thể. Đạo tràng hiện nay nên kiến lập như thế nào? Phải kiến lập theo phương thức trường học. Phật giáo vốn là giáo dục, cần phải trở về với giáo dục; bởi vậy thành lập trường học, không nên thành lập chùa, như vậy mới được. Nếu nói hoằng dương Phật pháp, đạo tràng hoằng dương Phật pháp tốt nhất, lý tưởng nhất, đó chính là truyền bá trên truyền hình vệ tinh thời nay. Chúng tôi giảng kinh thuyết pháp trong phòng thu hình, dùng vệ tinh để truyền bá, toàn thế giới đều có thể nghe được, bạn nói hiệu quả này lớn biết bao! Dùng phương pháp này hoằng pháp lợi sanh, đưa giáo học Phật pháp đến từng gia đình. Đem những lý luận, phương pháp tu học của Phật pháp, tận dụng khoa học kỹ thuật để truyền tải [Phật pháp] đến những người muốn học Phật. Như vậy là chính xác, không cần xây dựng chùa chiền nữa, thời đại xây chùa đã qua rồi. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây. TẬP 11 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Chúng ta xem tiếp đoạn văn bên dưới. Dùng cách sửa đổi tâm đồng thời kèm theo những phương pháp còn lại, như vậy không có gì sai lầm. Nếu chỉ chấp vào những phương pháp kém hiệu quả mà không biết đến phương pháp vượt trội hơn thì thật là khờ dại.
156 Đây là thái độ học tập, cũng rất quan trọng. Hàng thượng căn tuy sửa đổi từ tâm, bắt đầu sửa từ chỗ khởi tâm động niệm, nhưng tuyệt đối không thể lơ là sự tướng. Không thể nói tâm tôi rất thanh tịnh, không cần tuân thủ giới điều nữa, đây là sai lầm. Sai ở đâu? Mặc dù bạn có công phu, nhưng công phu của bạn không phải chân thật, vì sao vậy? Vì người có công phu chân thật thì nhất định có lòng từ bi. Bạn có lòng từ bi thật sự thì bạn nhất định sẽ làm ra tấm gương, làm ra mô phạm tốt cho mọi người noi theo. Đây là lợi tha, tự lợi lợi tha, cho nên điều này là đúng, là chính xác. Nghĩa là hàng thượng căn nhất định phải từng giây từng phút chăm sóc hàng hạ căn. Chúng ta phải tuân thủ mọi giới luật mà đức Thế Tôn đã chế định. Từ giới điều suy rộng ra thì pháp luật của quốc gia, chúng ta cũng nhất định phải tuân thủ. Nói theo nghĩa rộng thì trì giới chính là tuân thủ pháp luật. Trong giới kinh của đại thừa, đức Phật đã nói rất rõ ràng rất tường tận. Trong kinh Phạm Võng nói với chúng ta, Bồ-tát nhất định phải tuân thủ, “không hủy báng quốc chủ”. Quốc chủ hiện nay gọi là người lãnh đạo quốc gia, tuyệt đối không được hủy báng. Trong Anh Lạc Bồ-tát Giới Kinh nói: “Không trốn thuế quốc gia”. Từ xưa đến nay, Trung Quốc hay nước ngoài, nhân dân có nghĩa vụ nộp thuế cho quốc gia, không được trốn thuế. Như những điều này đều thuộc về trì giới. Những điều lệ hiến pháp, pháp luật của quốc gia là hữu hình. Vô hình là những quan niệm đạo đức, phong tục tập quán của chúng ta, đều phải tuân thủ. Trong xã hội hiện nay, do giao thông thuận tiện, nhanh chóng, truyền thông phát triển, chúng ta thường có cơ hội ra nước ngoài du lịch. Đến quốc gia khác, pháp luật của họ không giống với chúng ta, phong tục tập quán của họ không giống chúng ta, nên phải “nhập gia tùy tục”, đến đất nước người ta nhất định phải tuân thủ pháp luật và quy định của họ, tuân thủ phong tục tập quán của họ, đó đều ở trong phạm vi trì giới. Cho nên, trong giới luật bao hàm rộng lớn vô biên, chúng ta đều phải hiểu.
157 Nếu “chấp vào những phương pháp kém hiệu quả mà không biết đến phương pháp vượt trội hơn”, chấp trước vào những pháp luật, quy định này “tôi tuân thủ mọi thứ” nhưng không hiểu rõ lý, cũng không hiểu sửa đổi từ tâm. Cách sửa như vậy rất ngu ngốc, đây không phải là cách làm thông minh. Nhưng cũng là cách hay, có thể tuân thủ như vậy thì lỗi lầm thường sẽ tương đối ít. Sai lầm là điều không thể tránh, nhưng lỗi lầm có thể giảm đi rất nhiều. Cho nên ông nói với chúng ta, sửa lỗi lầm phải có ba loại tâm, cũng có ba loại công phu khác nhau, điều này nói rất rõ ràng, rất tường tận. Đoạn bên dưới nói về hiệu quả của việc sửa lỗi, sau khi sửa lỗi sẽ xuất hiện những cảnh giới như thế nào. Cũng chính là nói, chúng ta thấy được hiệu quả như thế nào, thành tích ra sao. Mời xem đoạn văn này: Nhưng phát nguyện sửa lỗi thì chỗ sáng cần có bạn tốt nhắc nhở, chỗ tối cần quỷ thần chứng minh, phải hết lòng sám hối, ngày đêm không giải đãi. Chữ “cố” nói như hiện nay nghĩa là “nhưng”, nhưng đã phát nguyện sửa lỗi thì cần phải có sự giúp đỡ. “Minh” là rõ ràng, cần “bạn tốt nhắc nhở”, phải có những người bạn tốt chân thật thường xuyên nhắc nhở bạn. Vì sao vậy? Vì phàm phu hay quên, chớp mắt là quên rồi. Chư vị thử nghĩ xem, nếu có một người ở trước mặt bạn, là bạn tốt của bạn, thường xuyên nhắc nhở bạn, vậy bạn có chê họ nhiều chuyện hay không? Thật vậy, chắc chắn bạn sẽ chê họ nhiều chuyện, chê họ phiền phức. Cho nên, giáo học trong Phật giáo khiến chúng ta không thể không khâm phục sự thông minh trí tuệ của Thích-ca Mâu-ni Phật, ngài dùng phương pháp gì? Phương pháp này, hiện nay trong trường học gọi là công cụ dạy học. Ngài dùng danh hiệu, ngài dùng nghệ thuật để thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta.
158 Về danh hiệu, ví dụ danh hiệu Thích-ca Mâu-ni Phật, đây không phải là danh hiệu của bản thân ngài. Tên chính của ngài, trong kinh điển ghi chép là Tất-đạt-đa, nhưng ngài có thói quen dùng danh hiệu này, danh hiệu này là nhắc nhở chúng ta. Nhưng thời xưa, cổ nhân dịch kinh hoàn toàn là dùng âm tiếng Phạn, dịch là Thích-ca Mâu-ni Phật, không dịch ý nghĩa của danh hiệu đó ra. Người thời nay chúng ta khi nghe đến danh hiệu này cảm thấy mù mờ không hiểu nghĩa là gì, nhưng cổ nhân hiểu. Thời xưa nhiều người giảng kinh, nhiều người dạy học, vì các tự viện thông thường đều là trường học. Pháp sư xuất gia chính là thầy giáo, họ ngày ngày ở đó tự nghiên cứu, rồi giảng dạy, dạy học cho đại chúng. Tự viện là trường học, cho nên mọi người đều hiểu. Thích-ca nghĩa là nhân từ. Chúng ta đối người tiếp vật thiếu nhân từ, thường nghĩ đến tự tư tự lợi, tổn người lợi mình. Đều khởi ý niệm này, làm những chuyện này, như vậy là sai rồi. Cho nên Thế Tôn dùng danh hiệu Thích-ca này, nghe đến danh hiệu này, khi ta đối đãi với người phải nhân từ, phải có thể quên mình vì người. Hai chữ Mâu-ni nghĩa là thanh tịnh, phải thanh tịnh đối với mình, phải nhân từ đối với người khác. Dùng danh hiệu này thường nhắc nhở chính mình, chúng ta niệm danh hiệu này để nhắc nhở chính mình. Nghe người khác niệm danh hiệu này, cũng là nhắc nhở chính mình. Trong nhà mình có Phật đường nhỏ, hoặc có một phòng khách, trong phòng khách chúng ta đặt một tôn tượng Phật, viết tên của Phật hai bên giống như câu đối vậy. Đây là tràng phan mà mọi người thấy ở trong chùa, trên phan đều viết danh hiệu Phật Bồ-tát, có tác dụng gì vậy? Nhắc nhở chính chúng ta. Trong Phật giáo là dùng phương pháp này, tượng Phật, tượng Bồ-tát cũng là nhắc nhở chúng ta, khiến chúng ta vừa nhìn thấy liền biết nó biểu thị ý nghĩa gì. Thích-ca Mâu-ni Phật biểu thị cho nhân từ, thanh tịnh. Nước ta thờ Bồ-tát Quán Thế Âm nhiều nhất, Bồ-tát Quán Thế Âm đại biểu từ bi, đại từ đại bi. Đại từ đại bi nói như hiện nay là tâm yêu thương
159 không có điều kiện, yêu thương tất cả chúng sanh. Chúng sanh có khổ có nạn, toàn tâm toàn lực giúp họ một cách vô điều kiện, đây là Bồ-tát Quán Thế Âm. Thấy tượng Bồ-tát Quán Thế Âm liền nghĩ, tôi phải từ bi đối với tất cả chúng sanh, cũng giúp đỡ tất cả chúng sanh vô điều kiện giống như Bồ-tát Quán Thế Âm vậy. Bồ-tát Quán Thế Âm là ai? Bồ-tát Quán Thế Âm chính là ta. Nhắc nhở mình, dùng tôn tượng này, dùng danh hiệu này nhắc nhở chính mình, mình phải học theo Bồ-tát Quán Thế Âm, mình phải học làm Bồ-tát Quán Thế Âm, chính là ý này. Cho nên công đức thờ tượng Phật rất lớn, công đức lớn ở đâu vậy? Chính là lớn ở chỗ này, thường nhắc nhở bạn. Thờ tượng Bồ-tát Địa Tạng Vương, Bồ-tát Địa Tạng Vương đại biểu hiếu, hiếu thân. Địa là đại địa, Tạng là bảo tạng. Chúng ta sống trên địa cầu này, không thể tách rời đại địa, việc ăn ở, đi lại của chúng ta đều nhờ vào đại địa cung cấp. Bất luận là sinh sống ở đâu trên địa cầu, cuộc sống hằng ngày của chúng ta đều cần đến ngũ cốc, lương thực, đây là bảo tạng do đất sanh ra. Tài nguyên cất giấu dưới lòng đất rất nhiều, đều là kim ngân châu bảo, cung cấp cho nhu cầu cuộc sống của chúng ta. Đức Phật dùng “địa” tượng trưng cho “tâm địa” của chúng ta. “Tạng” là trong tâm địa, chân tâm của chúng ta có vô lượng trí tuệ, có vô lượng năng lực, đức chính là năng lực, có vô lượng tướng hảo, cần chúng ta đi khai thác. Dùng phương pháp gì để khai thác? Dùng hiếu thân tôn sư, chính là hiếu đạo và sư đạo. Kinh Địa Tạng Bồ-tát Bổn Nguyện chính là nói về hiếu đạo và sư đạo, dùng điều này để khai thác. Cho nên, chúng ta nhìn thấy tượng Bồ-tát Địa Tạng, nghe đến danh hiệu Bồ-tát Địa Tạng, chúng ta phải biết hiếu thân tôn sư, nó luôn nhắc nhở chúng ta. Bồ-tát Văn Thù nhắc nhở ta về trí tuệ, phải cầu trí tuệ. Bồ-tát Phổ Hiền nhắc nhở ta phải thực hành trong đời sống. Như nhân từ và thanh tịnh của Thíchca, từ bi của Quán Âm, hiếu kính của Địa Tạng, trí tuệ của Văn Thù, tất cả đều phải thực hành trong đời sống hằng ngày của chúng ta,
160 thực hành trong công việc, thực hành trong xử sự, đối người, tiếp vật, đó gọi là Phổ Hiền. Bạn xem nhà Phật dạy học có tuyệt diệu hay không? Cho nên, tất cả hình tượng chư Phật Bồ-tát trong Phật giáo, tất cả hình tượng của thần minh, tất cả đều là dạy học, là biểu pháp. Tuyệt đối không phải mê tín, tuyệt đối không thể xem các ngài như thần minh để cung phụng, như vậy là hoàn toàn sai lầm. Dùng phương pháp này để nhắc nhở chúng ta. Nếu như ngày nào cũng có một người ở bên cạnh nhắc nhở thì chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, chán ghét họ, thậm chí còn hận họ. Nhưng bày những tác phẩm nghệ thuật này ở trước mắt bạn, có thể thưởng thức, lại có thể nhắc nhở, bạn nói xem tốt biết bao! Lần trước tôi đến thăm Đài truyền hình Phụng Hoàng, gặp Thường tiên sinh, trong phòng làm việc của ông đặt rất nhiều tượng Bồ-tát Di-lặc. Tôi nhìn thấy ông có chút giống Bồ-tát Di-lặc, bụng to, mập mạp. Bồ-tát Di-lặc biểu thị cho tâm hoan hỷ. Nhà Phật thường gọi là bình đẳng, từ bi. Sanh tâm bình đẳng, thì sẽ có tướng hoan hỷ. Chúng ta xử sự, đối người, tiếp vật tâm phải bình, sắc tướng phải nhã nhặn, phải hoan hỷ. Đây là dạy chúng ta làm sao để chung sống với đại chúng, hoàn toàn là biểu pháp. Danh hiệu người xuất gia chúng ta cũng không ngoại lệ, tôi xuất gia sư phụ đặt cho tôi pháp danh là Tịnh Không, tôi rất hoan hỷ. Mọi người vừa gọi đến tên này, tôi liền nghĩ mình có thanh tịnh hay không? Mình có buông bỏ hay không? Buông bỏ là không. Gọi đến tên này, tôi liền nghĩ xem mình đã làm được hay chưa? Danh có đúng với thực hay không? Nếu danh không xứng với thực thì chúng ta phải sanh tâm hổ thẹn, chúng ta đã có lỗi với cái tên này rồi. Cho nên, danh hiệu của Phật vô lượng vô biên, là tiêu biểu cho tánh đức vô lượng vô biên trong chân tâm bản tánh của chúng ta. Danh hiệu của Bồ-tát vô lượng vô biên, là tiêu biểu cho tu đức của chúng ta. Tánh đức, phàm phu chúng ta đã mê mất tự tánh, nên tánh đức không hiển lộ, phải
161 dựa vào tu đức. Tu đức có công thì tánh đức liền hiện tiền, chính là ý như vậy. Phật giáo không đơn thuần chỉ biểu pháp thông qua tên gọi, qua nghệ thuật tạo tượng, mà mọi thứ trang trí đều là biểu pháp. Ngay đến kiến trúc cũng không ngoại lệ, nếu quý vị chú ý, khi đến các ngôi chùa Phật giáo, bạn xem điện thờ Thích-ca Mâu-ni Phật, gọi là “Đại Hùng Bảo Điện”. Bạn xem kiến trúc của nó, nhìn từ bên ngoài có hai tầng, ở trong có một tầng, đều là nhắc nhở chúng ta. Bên ngoài hai tầng là dạy chúng ta phải thuận theo thế tục, “Phật pháp ở thế gian, không hoại thế gian pháp”. Ở trong phải bình đẳng, bên trong không được có hai thứ. Bên ngoài có thể không bình đẳng, nhưng bên trong tuyệt đối phải bình đẳng. Nếu bên ngoài mà bình đẳng thì trật tự xã hội này sẽ bị phá hoại. Bên ngoài nhất định phải có tôn ti, có cha con, có anh em, có lớn nhỏ, nó có trật tự, không được phá hoại trật tự này. Bên ngoài có hai tầng là tiêu biểu cho trật tự xã hội, tuyệt đối phải tuân thủ, bên trong nhất định phải bình đẳng, ý nghĩa quá hay! Những phẩm vật thờ cúng đều là biểu pháp, chúng ta thắp một cây hương cúng Phật, hương tiêu biểu điều gì? Trong bài Tán Hương nói: “Giới định chân hương”, chân hương không phải cây hương bạn thắp, thấy cây hương đó phải biết mình phải tu giới, phải tu định, phải tu tuệ. Giới, định, tuệ là hương trong chân tâm tự tánh của mình, dạy ta ngửi thấy mùi hương này, nhìn thấy cây hương này, thì nghĩ ta phải tu giới định tuệ, ta phải đoạn tham sân si, không có điều gì mà không phải nhắc nhở. Những đồ thờ cúng trước Phật, quan trọng nhất, đơn giản nhất là phải cúng một ly nước, các vật dụng khác như hương hoa đều có thể không có, không thắp hương cũng không sao, nhưng nước nhất định phải cúng một ly. Nước tiểu biểu điều gì? Nước tiêu biểu cho tâm, thấy ly nước này hãy nghĩ xem, tâm mình có trong sạch như nước không, có nhiễm chút bụi
162 nào không, có bình đẳng như nước không, nước bình lặng mà. Cho nên, nước tượng trưng cho thanh tịnh bình đẳng, lấy ý nghĩa này. Nước không phải để Phật uống, mà là để ta thấy, để mọi người thấy. Khi nhìn thấy ly nước này phải nghĩ rằng tâm tôi phải thanh tịnh, phải bình đẳng. Dùng những phương pháp này để nhắc nhở chúng ta. Tất cả mọi thứ, các ngài đều phải nhọc lòng nghĩ ra phương pháp để dạy chúng ta. Sau đó chúng ta mới thể hội được, ân đức lớn lao của Phật đối với chúng ta, suy nghĩ rất chu đáo, chúng ta không thể không phục sát đất, làm gì có mê tín! Chư vị phải biết, dùng nước trong cúng Phật, không được cúng trà. Trà có màu, như vậy thì không thanh tịnh, nó biểu thị trong tâm có ô nhiễm, vì vậy phải cúng nước trong. Nước trong là dùng nước máy hoặc nước sôi đều được cả, chỉ cần nước tinh sạch, trong nước không có những thứ vẩn đục, như vậy là được. Bạn phải hiểu ý nghĩa của nó là biểu pháp. Cũng chính là “chỗ sáng cần phải có bạn tốt nhắc nhở”, thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta. Trong phút chốc mà không nhắc là chúng ta sẽ mê ngay, sẽ làm sai việc, sẽ bị hồ đồ. Cho nên, thiết bị dạy học trong Phật giáo rất tuyệt diệu. Đến nửa sau thế kỷ 20, sau thế chiến thứ hai, chúng ta mới thường nghe đến nghệ thuật, ngay cả đánh trận cũng chú ý đến nghệ thuật, có khẩu hiệu nghệ thuật hóa. Chúng ta liền nghĩ đến mấy ngàn năm trước Phật dạy học đã đi vào nghệ thuật rồi, dùng phương pháp nghệ thuật để dạy học. “Chỗ tối cần quỷ thần chứng minh”. Quỷ thần chứng minh chính là cảm ứng, những câu chuyện về cảm ứng có rất nhiều. Những chuyện mà đời này tôi đích thân trải qua và các bạn đồng tu kể cho tôi nghe về những chuyện cảm ứng của họ, rất phong phú. Tu học Phật pháp là học làm người tốt, học làm người hiểu biết, vẫn cần phải có thiện căn, phước đức, nhân duyên. Nếu không đầy đủ ba điều kiện này, thì đời này bạn không có duyên gặp được, gọi là không có cơ hội để gặp. Bạn có cơ hội gặp
163 được, chứng minh trong đời quá khứ bạn có thiện căn, phước đức, nhân duyên. Trước đây khi tôi ở Mỹ, hội Phật giáo của chúng tôi ở Dallas, có một vị hội trưởng là cư sĩ Thái Văn Hùng, ông kể cho tôi nghe về nhân duyên học Phật của ông. Ông thường sống ở nước ngoài, là Hoa Kiều, không tin điều này. Năm đó cha ông qua đời, ông đến Đài Loan để tang đưa tiễn cha mình. Khi cha ông lâm chung, ông đứng bên giường, ông nhìn thấy có một tôn tượng Phật, tượng Phật này ở cửa sổ. Cửa sổ đó giống như khám thờ Phật vậy, tượng Phật đặt ở trong đó. Ông nói ông nhìn ít nhất 15 phút, thời gian dài như vậy tuyệt đối không nhìn lầm, ông ấn tượng rất sâu sắc, ông cảm thấy rất kinh ngạc! Ông hỏi người mọi người, mọi người không nhìn thấy, ông tín tâm học Phật bắt đầu từ đấy, đây là Phật đến độ ông. Về sau ông làm kinh doanh, kiếm được tiền, có lúc đi vào tiệm đồ cổ, ông thích mua đồ cổ. Trong tiệm đồ cổ ông nhìn thấy một tượng Phật, điêu khắc bằng đá. Ông vừa thấy tượng Phật này, chính là tượng Phật hiện ra ở cửa sổ ngày cha ông mất, ông lập tức mua về. Đó là mua ở Trung quốc, sau khi mua xong, đem đến Mỹ. Đầu tiên thờ ở nhà, sau đó đem chuyện này kể với tôi, tôi đến xem, xem xong cũng rất hoan hỷ. Tôi khuyên ông đem tượng Phật này thờ trong đạo tràng, vì ông là hội trưởng của đạo tràng này, hội Phật giáo Dallas, hiện nay tượng Phật này vẫn thờ trong đạo tràng đó. Đây là ông kể lại nhân duyên học Phật của mình, “chỗ tối cần quỷ thần chứng minh”. Ông lại kể với tôi một chuyện nữa, thật không thể nghĩ bàn. Ông nói có một lần, ông và mấy người bạn ở San Francisco. Họ đến một thành phố nhỏ ngoài San Francisco, khi trên đường trở về San Francisco. Họ lái xe, đi lạc đường đến một trấn nhỏ. Quả thực trong đời, ông chưa từng đến trấn nhỏ đó lần nào, nhưng khi xe chạy đến gần trấn này, đột nhiên ông cảm thấy trấn này rất quen thuộc, như ông đã từng sống ở đây vậy. Ông có thể lập tức nhớ lại, đem tình hình đường sá và kiến trúc ở nơi này nói với những người ngồi trong
164 xe. Sau đó họ chạy xe vào trấn, hoàn toàn giống với những gì ông nói, ông vô cùng kinh ngạc. Vấn đề này bao nhiêu năm nay, ông không có câu trả lời. Khi gặp tôi ông hỏi: “Thưa pháp sư, chuyện này rốt cuộc là thế nào vậy?” Tôi nói: “Từ đây thấy được chắc đời trước ông từng sống trong thành phố này. Đời trước ông từng ở trong thành phố này, hơn nữa còn ở thời gian khá dài, nếu không thì ông không thể biết được tình trạng trong thành phố này được”. Ông nghĩ cũng rất có lý, rất có thể đời trước ông làm thợ mỏ ở San Francisco, có lẽ là thợ mỏ người Trung quốc. Sống ở nơi đây, chết cũng ở nơi đây, coi như cũng không tệ, không làm việc gì xấu, đời này lại được thân người. Kinh doanh cũng rất tốt, lại có thể học Phật, chứng thực đây là nghiệp nhân của đời trước. Những chuyện giống như vậy, tôi từng gặp rất nhiều, bản thân tôi cũng gặp rất nhiều lần, đến một nơi ở nước ngoài mà xưa nay chưa từng đến, vừa đến đột nhiên cảm thấy nơi đây rất quen, hoàn cảnh ở đây không xa lạ gì. Nếu không có đời trước thì làm sao lý giải được điều này. Bạn nói đột nhiên có linh cảm, vậy tại sao không có linh cảm này với những nơi khác mà nhất định là ở nơi đây? Do đây có thể biết, con người chắc chắn có đời quá khứ, đã có đời quá khứ thì chắc chắn có đời vị lai, nhân quả thông ba đời. Cho nên, việc này cần quỷ thần giúp chúng ta. “Hết lòng sám hối, ngày đêm không giải đãi”, đây là công phu. Sám hối chính là sửa lỗi, mỗi niệm của chúng ta đều có sai lầm, hễ không giác liền mê ngay, mê rồi thì sẽ có sai trái. Vì vậy nhất định phải thường xuyên nhắc nhở, ngày đêm đều không thể gián đoạn. Cho nên có người hỏi tôi, chúng con ở nhà có thể thờ tượng Phật trong phòng ngủ được không? Có một số pháp sư nói, thờ tượng Phật trong phòng ngủ, đó là đại bất kính! Nói như vậy chỉ đúng một nửa, không thể đúng hoàn toàn. Tại sao lại nói đúng một nửa? Bạn không phải là người tu hành, bạn không chịu nỗ lực sửa sai làm mới,
165 vậy thì bạn thờ tượng Phật trong phòng ngủ là bất kính, đó là lỗi lầm. Còn nếu bạn là người tu hành chân chánh, ngày đêm không gián đoạn, muốn người khác nhắc nhở mình. Như vậy trong phòng ngủ không có tượng Phật thì bạn sẽ quên mất, sẽ mê mất. Vậy tôi có thể thờ không? Nên thờ. Cho nên, đối với người tu hành chân chánh mà nói, kính hay bất kính là chuyện nhỏ, nhắc nhở mình giác ngộ mới là chuyện lớn. Ta thật sự giác ngộ chính là cung kính, còn như mê hoặc thì đó là đại bất kính. Vấn đề này cần phải thông tình đạt lý, nếu chấp trước vào giáo điều thì không thông suốt được. Bạn chỉ có thể đúng được một nửa, không thể đúng hoàn toàn. Cho nên, đối với một người thật sự hạ quyết tâm thay đổi tự làm mới, thì phải noi theo Phật Bồ-tát, học tập Phật Bồ-tát, bất kỳ ở đâu đều có thể thờ Phật. Người đồng tâm này, tâm đồng lý này, cần phải biết vấn đề là chúng ta có thật làm hay không? Có thật học hay không? Bên dưới là nói hạn định thời gian để chứng nghiệm. Trải qua bảy ngày, mười bốn ngày. Bảy ngày, trải qua bảy ngày, hoặc nhị thất, tức là 14 ngày. Cho đến một tháng, hai tháng, ba tháng, nhất định sẽ thấy hiệu nghiệm. Nếu thật sự có thể kiên nhẫn thì sẽ có cảm ứng, cảm ứng thế nào vậy? Bên dưới ông đưa ra mấy ví dụ để nói với chúng ta, nghiệp chướng chúng ta được tiêu trừ, tội lỗi không còn nữa. Nó có dự báo, có điềm lành. Tiếp theo là đưa ra mấy trường hợp: Hoặc cảm thấy tâm an vui, rộng mở. Trước đây trong lòng luôn không vui, luôn cảm thấy u uất buồn bực. bây giờ trong lòng rộng mở, thường vui vẻ, không giống trước đây nữa. Đây là cảm ứng, là hiệu quả. Hoặc cảm thấy trí tuệ bỗng khai mở.
166 Trước đây xử sự, đối người, tiếp vật luôn cảm thấy mình rất hồ đồ, mơ hồ không có trí tuệ. Bây giờ trải qua một thời gian đoạn ác sửa lỗi, sau một thời gian tu trì cảm thấy bây giờ mình có trí tuệ hơn. Xử sự, đối người, tiếp vật không còn mê hoặc nữa, có trí tuệ, rất rõ ràng tường tận, đây đều là hiệu quả. Hoặc khi gặp những việc phiền nhiễu lộn xộn, nhưng trong tâm đều sáng suốt. “Nhũng đạp” là công việc bận rộn. Trước đây công việc bận rộn, bản thân cảm thấy rất mệt, rất chán nản, không có tinh thần, mọi thứ đều có trở ngại. Sau khi trải qua sự tu trì như vậy, sau khi đoạn ác sửa lỗi, hiện nay xử lý những công việc phức tạp này không như trước nữa, cảm thấy mọi việc đều rất thuận lợi. Dù công việc có phiền phức hơn, bận rộn hơn cũng đều cảm thấy có phương pháp, có thứ lớp, vô cùng dễ dàng, không cảm thấy phiền phức, cũng không thấy mệt mỏi. Hoặc khi gặp kẻ oán thù, tâm không sân giận mà lại hoan hỷ. Đây là công phu không hề đơn giản, oan gia đối đầu, ngày trước nhìn thấy họ là chán ghét, oán hận họ, phải mắng họ vài câu. Bây giờ nhìn thấy những oan gia đối đầu này, chẳng những không mắng mà còn hoan hỷ, còn hành lễ với họ, dùng thiện tâm, dùng lễ tiết đối đãi họ, đây đều là điềm lành, đây là nói về phương diện nhân sự. Tiếp theo là nói về cảnh giới trong mộng của bạn, không giống như trước đây. Khi chưa tu hành thường hay gặp ác mộng, điều này bản thân tôi có kinh nghiệm. Khi tôi chưa học Phật thường hay gặp ác mộng, thường giật mình tỉnh giấc trong những giấc mộng. Sau khi học Phật, mười năm đầu vẫn còn gặp ác mộng, sau mười năm thì không còn ác mộng nữa. Đây đều là điềm lành, đều là cảm ứng tốt.
167 Hoặc mộng thấy nôn ra những thứ màu đen. Trong mộng nôn ra những thứ màu đen, đen là những thứ dơ bẩn, đây là đưa ra ví dụ. Hoặc mộng thấy các bậc cổ thánh tiên hiền. Vì tôi thường xuyên giảng kinh, cho nên không ít lần mộng thấy Phật, Bồ-tát giảng kinh, tôi tham gia vào những pháp hội giảng kinh này. Đến dìu dắt tiếp dẫn. Trong mộng thấy Phật, Bồ-tát thuyết pháp cho bạn, giúp đỡ bạn, dạy dỗ bạn, đây là một loại. Bên dưới nói thêm một loại nữa: Hoặc mộng thấy bay lượn, dạo chơi trên hư không. Mộng này rất tốt, lúc nằm mộng thấy mình bay lên, bay trong không trung, cưỡi mây đạp gió. Hoặc mộng thấy tràng phan bảo cái. Mộng đến thiên cung, mộng đến cõi nước Phật, đây đều là những điều rất tốt. Những việc tốt như vậy. Những việc thù thắng, những dự báo này. Đều là những điềm báo tội chướng đã được tiêu trừ. Thế nên mới có những hiện tượng này. Mặc dù tội nghiệp của chúng ta chưa hoàn toàn được tiêu trừ, nhưng cũng tiêu trừ được một phần, nên mới xuất hiện những hiện tượng này. Những hiện tượng tốt này xuất hiện, nhất định phải nhớ.
168 Nhưng cũng không được bám chấp vào đó mà sanh tâm kiêu ngạo tự phụ, như vậy sẽ ngăn cản khiến ta không tiến bộ được. Sợ nhất chính là điều này. Cho nên mọi tướng lành xuất hiện, đối với một người chân thật dụng công thì thấy mà như không thấy, không cần nói với người khác, không cần khoe khoang thành tựu của mình, làm vậy là hoàn toàn sai lầm. Cần phải nhớ lời trong kinh Phật đã nói: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”, không để ở trong lòng. Bản thân vẫn thường phải hết lòng sám hối, vẫn phải ngày đêm không gián đoạn, như vậy công phu của chúng ta mới tiến bộ. Nếu có những cảnh giới này hiện tiền, bản thân cảm thấy mình rất giỏi, cảm thấy mình cao hơn người khác, sanh khởi tâm cống cao ngã mạn. Chẳng những không thể nâng cao mà còn lập tức bị đọa lạc xuống. Đây là sai lầm, là sai lầm nghiêm trọng. “Như vậy sẽ ngăn cản khiến ta không tiến bộ được”, họa là dừng lại, ngay chỗ này, họa là không thể tiến về phía trước được nữa, điều này rất đáng tiếc. Cho nên, khi những cảnh giới thù thắng này hiện tiền, hãy xem như không có chuyện gì xảy ra. Mặc dù cảm thấy trí tuệ của mình đã khai mở rồi, nhưng vẫn xem như chưa khai, như vậy mới tốt, chúng ta mới có thể tiến bộ được. Tiên sinh Liễu Phàm nói một đoạn dài như thế, tiếp theo mới đưa ra ví dụ, ví dụ về cách người xưa sửa đổi lỗi lầm, khuyên dạy con trai mình. Xưa có ông Cừ Bá Ngọc, năm 20 tuổi đã biết xét lại những lỗi lầm trước đây của mình và sửa đổi tất cả. Cừ Bá Ngọc là đại phu nước Vệ thời Xuân Thu, ông sửa lỗi làm mới rất có hiệu quả; trong lịch sử, ông đã lưu lại một tấm gương tốt cho hậu thế. Người này cũng là bậc thánh nhân, 20 tuổi, rất trẻ, ông đã biết tầm quan trọng của việc sửa lỗi, đoạn ác tu thiện nên rất siêng năng nỗ lực thực hành.
169 Đến năm 21 tuổi ông mới biết những lỗi lầm trước đây vẫn chưa sửa hết. Tuy ngày ngày đều sửa đổi, rất siêng năng nỗ lực sửa đổi, sửa được một năm cảm thấy một năm trước sửa đổi chưa triệt để, sửa đổi chưa viên mãn. Năm 22 tuổi nhìn lại năm 21 tuổi, vẫn giống như ở trong mộng [hồ đồ phạm lỗi]. Như vậy lại thêm một năm nữa. Năm này qua năm khác, ông vẫn kiên trì sửa đổi, đến năm 50 tuổi ông vẫn thấy những lỗi lầm trong 49 năm trước. Đến lúc mình 50 tuổi hồi tưởng lại và tỉ mỉ suy xét, những gì mình làm trong 49 năm trước vẫn có sai lầm. Người xưa học sửa lỗi như vậy. Rất đáng cho chúng ta noi theo. Lỗi lầm lớn nhất của một người là gì? Là không biết mình có lỗi, đây là lỗi lớn nhất. Vì bạn không biết lỗi của mình nên sẽ không có tâm sửa đổi, không có ý niệm sửa đổi. Những lỗi lầm này tích lũy lại, từ lỗi nhỏ tích lũy thành lỗi lớn, từ lỗi lớn tích lũy thành lỗi cực lớn, quả báo về sau không thể tưởng tượng được. Rất nhiều phàm phu, vì sao sau khi chết bị đọa vào ba đường ác? Nguyên nhân chính là ở đây, không biết lỗi của mình, không biết sửa đổi. Từ đó thấy được, lời Liễu Phàm tiên sinh nói ở phía trước là: “Ở chỗ sáng cần có bạn tốt nhắc nhở”, điều này vô cùng quan trọng! Bạn tìm đâu ra một người bạn tốt chịu nhắc nhở mình đây? Nói thật, cha mẹ cũng không làm được. Nếu quả thực cha mẹ ngày ngày nhắc nhở bạn thì bạn nhất định sẽ oán hận họ, sẽ cảm thấy cha mẹ quá nhiều chuyện, quá phiền phức.
170 Cho nên, chư Phật Bồ-tát nghĩ ra phương pháp hay, rất tuyệt diệu! Dùng mọi cách biểu pháp để nhắc nhở chúng ta, nhưng bạn phải hiểu ý nghĩa biểu pháp. Như ở trước, tôi nói về cách cúng nước, cúng trước Phật một ly nước, bạn vừa thấy là hiểu tâm mình phải thanh tịnh giống như nước vậy, phải bình đẳng như nước vậy, mãi mãi duy trì tâm thanh tịnh, bình đẳng. Rời khỏi Phật đường lại quên mất thì sao, ai nhắc nhở bạn đây? Bạn phải biết rằng, chỉ cần nhìn thấy nước là bạn liền nghĩ ngay đến điều này. Bình thường chúng ta uống nước, rót một ly nước ở đây, lập tức nhắc nhở chính mình. Đi làm khách ở bên ngoài, người ta chiêu đãi bạn, đơn giản nhất cũng là một ly trà. Nhìn thấy nước thì cũng nghĩ tâm chúng ta phải thanh tịnh, phải bình đẳng. Nếu bạn chỉ biết ly nước cúng trong Phật đường là biểu pháp, ngoài ra đều không phải. Như vậy thì bạn không học được gì cả, bạn ngốc quá đi, bạn phân biệt chấp trước quá mức rồi. Ví như đốt hương, bạn phải biết hương này là đại biểu cho giới định tuệ. Ở bất kỳ nơi nào, ngửi thấy mùi đều phải nghĩ đến giới định tuệ, hương là nhắc nhở căn mũi. Bất luận mùi như thế nào đều dùng “hương” làm đại biểu. Chỉ cần có mùi, ngửi thấy mùi liền nghĩ đến giới định tuệ. Sau đó bạn mới hiểu khắp hư không pháp giới có nơi nào mà không phải là chỗ Bồ-tát học tập đâu? Nơi nào mà chẳng phải là đạo tràng để tu tập? Thì ra, mọi lúc mọi nơi đều là đạo tràng. Đạo tràng không phải chỉ ở tự viện am đường, nơi nơi đều là đạo tràng! Chúng ta dùng hoa quả để cúng Phật, hoa tiêu biểu cho “nhân”. Hoa nở đẹp là nhân tốt, nhân tốt quả nhất định sẽ tốt. Quả tiêu biểu cho “quả”, hoa tiêu biểu cho “nhân”. Nhân thiện được quả thiện, nhân ác kết quả ác, nó tiêu biểu cho ý này. Nếu chúng ta hiểu được ý nghĩa cúng hoa quả trước Phật thì bất kỳ lúc nào nhìn thấy hoa đều phải hiểu rằng tôi cần tu nhân tốt, bất luận khi nào, thậm chí thấy
171 người ta mặc y phục, trên áo quần có thêu hoa, nhìn thấy hoa này liền nghĩ ta phải biết tu nhân tốt. Bất luận ở đâu nhìn thấy quả, chúng ta mong cầu được quả báo tốt, quả báo tốt nhất định phải tu nhân tốt. Đây chẳng phải đều là phương pháp dạy học của nhà Phật hay sao? Không phải đều là giáo huấn của Như Lai hay sao? Đâu cần phải nói một lời nào! Tận hư không khắp pháp giới, những gì mắt nhìn thấy, tai nghe được, mũi ngửi được, lưỡi nếm được, thân thể tiếp xúc, có pháp nào mà không phải Phật pháp? Thì ra nơi nơi đều là Phật pháp, cho nên nhà Phật thường nói Phật pháp vô biên! Bạn hiểu ý câu này không? Bởi vậy phải biết cách học! Nếu biết cách học thì mọi lúc mọi nơi chắc chắn sẽ không mê, vì sao vậy? Vì nó đều đang biểu pháp, đều đang nhắc nhở bạn, như vậy bạn làm sao mê cho được? Người không biết mới mê, người chấp trước mới mê. Chấp trước rằng: nhất định những thứ cúng trước Phật mới là biểu pháp, rời khỏi Phật đường thì không hiểu cái gì là biểu pháp nữa. Học như vậy thì quá ngu ngốc. Khổng tử nói: “Nêu một góc mà không biết xét đến ba góc kia” thì Khổng tử sẽ không dạy, vì quá ngốc. Nói với bạn một điều mà chỉ biết điều đó, bạn không thể suy luận ra những điều khác. Phật pháp là dạy một thứ, khi đã hiểu thì tất cả đều hiểu, mọi thứ đều thông đạt, đây là Phật pháp, Cho nên, dạy học trong Phật pháp đã đạt đến cảnh giới nghệ thuật cao nhất rồi. Về phương diện công phu mà nói, Cừ Bá Ngọc là một điển phạm tốt nhất, chúng ta cần học tập ông. Điều này tuyệt đối không được lơ là! Lúc về già, tiên sinh Liễu Phàm cũng học theo, học theo Cừ Bá Ngọc. Đây là công phu đã có nền tảng, mới biết tầm quan trọng của dũng mãnh tinh tấn. Phải tăng tốc độ, không ngừng nâng cao cảnh giới của mình, công hiệu càng ngày càng rõ ràng, đời sống càng ngày càng an vui hơn, sự nghiệp càng ngày càng thuận lợi hơn, đích thực làm được tiêu tai phước đến, không giả chút nào.
172 Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng tới đây. TẬP 12 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem đoạn văn bên dưới: Chúng ta đều là kẻ phàm phu, tội lỗi đầy dẫy như lông nhím, nhưng khi nhìn lại những việc đã qua lại thường chẳng thấy mình có lỗi lầm gì, bởi tâm ý qua loa nên mắt bị che mờ. Đến đoạn này, sau khi đưa ra ví dụ, bây giờ mới chính thức nói. Bản thân chúng ta là phàm phu, lỗi lầm và ác nghiệp quá nhiều. “Vị tập” là ví dụ, giống như lông trên mình con nhím vậy, tụ tập ở một chỗ. “Khi nhìn lại những việc đã qua”, chúng ta nghĩ lại những việc đã qua, dường như thường “không thấy mình có lỗi lầm gì”, không phát hiện thấy mình có sai lầm gì. Cho nên, người thông thường chúng ta hay nói: “Tôi không có tội gì lớn, tôi không có lỗi lầm gì”. Bản thân chúng ta cũng thường có cảm nhận này, đây là nguyên nhân gì vậy? Vì tâm quá thô thiển, mê muội tối tăm không thấy được lỗi lầm của mình. Cho nên thực tế mà nói, Cự Bá Ngọc là tấm gương rất tốt của chúng ta. Đoạn văn bên dưới nói với chúng ta ác nghiệp cũng có điềm báo: Song người có tội ác quá sâu nặng. Trong Phật pháp gọi là nghiệp chướng sâu nặng. Nghiệp chướng quá nặng, nhất định có điềm báo không tốt. Cũng có điềm báo như tinh thần u ám, bế tắc, nói trước quên sau.
173 Chúng ta tỉ mỉ quan sát những người xung quanh, có khi chúng ta có thể phát hiện thấy, người này rất hay quên, hồ đồ, đần độn. Nói với họ chuyện gì họ quên rất nhanh. Hoặc không có chuyện gì mà thường sanh phiền não. Những vấn đề này chúng ta thử nghĩ xem, bản thân mình có hay không? Khi không có vấn đề gì, khi không có ai trêu trọc cũng tự sanh phiền não, chỉ cần bình tĩnh quan sát là có thể phát hiện được. Hoặc gặp bậc hiền nhân quân tử, lại thấy hổ thẹn buồn chán. Đây là sợ gặp bậc chánh nhân quân tử, gặp những bậc chánh nhân quân tử, bản thân cảm thấy rất hổ thẹn. Hiện tượng này, nói thực ra vẫn còn cứu được, vì sao vậy? Vì họ còn có tâm hổ thẹn. Hoặc nghe những lời bàn luận chân chánh nhưng lại không vui thích. Không vui khi nghe người khác nói lời chân chánh, vì sao vậy? Vì bản thân tạo ác đa đoan, dưỡng thành tập khí ác, nên khi nghe những lời chân chánh hoàn toàn tương phản với những gì mình làm, do đó không vui vẻ tiếp nhận. Hoặc giúp người nhưng lại bị người oán trách. Chúng ta bố thí, lấy lễ vật tặng cho người nhưng người ta còn oán trách. Trong tình huống họ bắt buộc phải tiếp nhận, ví dụ họ bị lạnh, bị đói, khi đói lạnh bức bách, chúng ta tặng cho họ một ít áo quần thức ăn đương nhiên là họ nhận. Nhận xong nhưng họ không cảm kích, trái lại còn oán hận bạn, có tình hình này. Trong thế gian hiện nay thường gặp, đây đều là điềm báo ác nghiệp sâu nặng, chúng ta phải thường suy nghĩ. Hoặc đêm ngủ gặp ác mộng.
174 Buổi tối gặp ác mộng, gặp ác mộng chắc chắn không phải điềm báo tốt. Bản thân nhất định phải cảnh giác, biết được ác nghiệp của mình rất nặng nên buổi tối mới gặp ác mộng. Thậm chí nói năng lung tung, thần chí bất thường. Đây là không có tinh thần, nói năng lộn xộn, lung tung. Tất cả những điều này đều là biểu hiện của việc làm ác. Đây là nói sơ lược vài ví dụ, đều là tướng không tốt. Nếu có một trong các biểu hiện như thế, thì phải phát tâm mạnh mẽ, sửa lỗi làm mới, mong mọi người đừng tự gạt mình. Nếu chúng ta tự kiểm điểm thấy mình có một hay hai điều giống như các trường hợp nêu ra ở trên thì chúng ta phải cảnh giác, lỗi lầm và ác nghiệp của mình nhất định rất nghiêm trọng. Phải cảnh giác, phải nhanh chóng quay đầu, lập tức phấn chấn. “Sửa lỗi làm mới”, nghĩa là phải sửa đổi lỗi lầm làm mới bản thân. “Hy vọng mọi người đừng tự lừa gạt chính mình”, câu này là khuyến khích chúng ta, hy vọng ta không làm dở dang chính mình. Điều này bản thân nhất định phải phấn đấu, người khác không giúp được. Phương pháp sửa lỗi chỉ nói đến đây. Tiếp theo chương thứ ba là: “Phương pháp tích thiện”. Mở đầu bài văn, tiên sinh Liễu Phàm trích dẫn hai câu trong kinh Dịch để nói rõ với chúng ta. Kinh Dịch nói: “Gia đình tích thiện ắt thừa niềm vui”. Hai câu này có thể dùng lịch sử để chứng minh, từ xưa đến nay phàm là người trung hậu thật thà, người tích thiện thì đời sau của họ luôn hưng vượng. Cho dù không phát đạt lớn thì cũng có thể sống bình an qua ngày, không đến nỗi gặp phải một số tai họa. Điều này có thể thấy được trên lịch sử, hiện tại chúng ta cũng có thể quan sát
175 được, chỉ cần chúng ta tỉ mỉ để tâm quan sát. Hay nói cách khác, ngược lại tổ tiên gia đình này và bản thân họ tích ác, ức hiếp người, chỉ làm những việc tổn người lợi mình thì gia đình này chắc chắn không thể hưởng được phú quý lâu dài, mặc dù hiện tại họ rất giàu có. Cho nên, có một số người thấy hiện tượng này nghĩ rằng, gia đình này không có việc ác gì mà không làm vì sao vẫn giàu có như vậy? Đó là họ không hiểu đạo lý. Đây là do trong đời quá khứ gia đình họ, hoặc là bản thân họ, tiền bối của họ trong đời quá khứ tu phước báo lớn. Nhà Phật nói: “Tu phước không tu tuệ”, vì họ không có trí tuệ nên đời này họ mới tạo ác nghiệp, tạo ác nghiệp nhất định giảm phước. Ví dụ trong quá khứ họ tu phước, có tài sản bạc tỉ. Đời này tuy phát tài nhưng tâm bất thiện, ở đâu cũng chèn ép người khác, làm những việc tổn người lợi mình. Phước báo của họ bị tổn giảm, của cải ngàn vạn biến thành của cải trăm vạn, tổn thất quá nhiều. Nhưng họ vẫn còn của cải trăm vạn, vẫn giàu có hơn người bình thường rất nhiều. Nhân quả thông ba đời! Đời này họ hưởng hết dư phước này rồi thì tội báo của họ liền hiện tiền. Có một số người đời sau họ mới chịu quả báo, có một số người ngay đời này, đến tuổi già thì mất tất cả, phá sản. Nguyên nhân là gì? Do gia đình họ tích ác nên họ gặp báo ứng như vậy. Con người phải hiểu đạo lý này, hiểu rõ chân tướng sự thật. Nhất định phải biết đoạn ác tu thiện, tích lũy công đức. Đối với cá nhân mình, đối với gia đình mình, đối với dòng tộc mình nhất định có lợi ích lớn. Bên dưới tiên sinh Liễu Phàm đưa ra một ví dụ: Tích. “Tích” là đời quá khứ. Nhà họ Nhan muốn gả con gái cho Thúc Lương Hột. Nghĩa là nhà họ Nhan muốn đem con gái mình gả cho Thúc Lương Hột.
176 Do xét thấy tổ tiên nhà Thúc Lương Hột tích chứa phước đức sâu dày. “Lịch tự” nghĩa là kể rõ tổ tông của Thúc Lương Hột từ đời này qua đời khác đều tích đức, đây là gia đình tích thiện. Nên đoán biết con cháu nhà ấy nhất định sẽ hưng vượng. “Nghịch” là dự đoán, dự đoán con cháu gia đình này tương lai nhất định sẽ hưng thịnh. Thúc Lương Hột là phụ thân của Khổng tử, cho nên ông ngoại của Khổng tử, ông ngoại dự đoán tương lai gia đình ông nhất định sẽ hưng thịnh. Ông đem con gái mình gả cho Thúc Lương Hột, sau đó sinh ra Khổng tử. Ông xem như thế nào vậy? Ông thấy tổ tiên của Khổng tử đời đời tích đức, cho nên gia đình họ sẽ xuất hiện đại thánh nhân. Đây là chuyện đầu tiên nói về tích đức. Điều thứ hai: Khổng tử tán thán vua Thuấn là bậc đại hiếu. Người xưa nói về hiếu đạo, trước tiên phải suy tôn Đại Thuấn, người này là tấm gương trong việc tận hiếu. Chúng ta đọc trong truyện ký lịch sử, nhất định phải noi gương ông. Phụ thân của ông, sau khi vợ chết, tức là mẹ đẻ của Thuấn, cha cưới thêm một người mẹ kế. Sau đó mẹ kế cũng sinh một đứa con, bà đối đãi với Thuấn không tốt. Phụ thân ông bị ảnh hưởng từ mẹ kế, cho nên phụ thân, mẹ kế và em trai là con mẹ kế; trong gia đình bốn người thì ba người dùng tâm ác đối đãi với Thuấn, mấy lần dồn Thuấn vào chỗ chết. Hoàn cảnh gia đình này quá ác liệt, nhưng Thuấn vẫn có thể hiếu thảo. Trong mắt ông không hề thấy cha mẹ và em trai không tốt với mình, mà luôn cảm thấy mình làm không tốt, khiến phụ thân không thích, mẹ kế không thích, em trai không thích, ngày ngày sửa đổi chính mình. Cứ như vậy suốt mấy năm sau mới cảm hóa được cả gia đình mình. Đây gọi là đại hiếu, là hiếu thảo chân thật. Thuấn tùy thuận tất cả, trong tùy thuận có trí tuệ cao độ, nhà Phật gọi là
177 phương tiện thiện xảo. Nên ông có thể tránh được việc người nhà làm thương tổn mình, có thể bảo toàn tánh mạng của mình, nhưng vẫn dùng tâm chân thành và lòng yêu thương chăm sóc cha mẹ và em. Đây là chuyện mà người bình thường không làm được, nhưng ông làm được. Cho nên Khổng tử xưng tán ông rằng: Nói rằng: “Tông miếu tổ tiên được thờ phụng, con cháu đời đời giữ được phước lành, đây đều là sự nhận định vô cùng chính xác”. Ông ngoại của Khổng tử, cho đến Khổng phu tử tán thán Đại Thuấn, đây đều là danh ngôn chí lý. Nay tôi lấy những câu chuyện xưa để kiểm chứng. Ông lại lấy những gia đình tích thiện thuở xưa, bạn xem sự phát đạt của con cháu họ trên lịch sử có ghi chép. Trong xã hội hiện tại chúng ta cũng có thể nhìn thấy. Bên dưới ông đưa ra mười trường hợp. Vị thứ nhất là: Quan Thiếu sư Dương Vinh, người Kiến Ninh. Tổ tiên sống bằng nghề đưa đò. Có lần trời mưa lâu ngày, nước lũ dâng cao cuốn trôi nhà dân. Người chết đuối theo dòng mà trôi xuống, những thuyền khác đều lo vớt của cải trôi trên mặt sông, chỉ riêng ông cố và ông nội của Thiếu sư chỉ lo cứu người, không hề vớt chút tài vật nào. Người trong làng đều cười chê họ là ngu khờ. Chúng ta xem đoạn này trước. Dương Vinh làm quan đến chức Thiếu sư, thời xưa Thiếu sư là thầy của Hoàng đế, thầy của Hoàng đế có Thái sư, Thiếu sư. Thiếu sư đại đa số là thầy của Thái tử, thầy của Hoàng đế gọi là Thái sư, thầy của Thái tử đa phần gọi là Thiếu sư. Cho nên, cách xưng hô dành cho thầy có Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Dương Thiếu sư, tức Dương Vinh, người Kiến Ninh, Kiến Ninh
178 hiện nay là Kiến Âu, tỉnh Phúc Kiến. Tôi từng ở đây 6 năm, từng đến nhà của Dương Vinh, là một tứ hợp viện ba lớp rất lớn. Bây giờ, hình như đổi thành thành phố Kiến Âu rồi. Tổ tiên của họ, đời này qua đời khác đều là “kiếm sống bằng nghề đưa đò”, nghĩa là làm nghề đưa đò, họ làm nghề này. Do đây có thể biết, cuộc sống cũng rất gian khổ. Có lần gặp trận mưa lớn, mưa lâu ngày, nước sông dâng cao. Con sông này hình như là thượng nguồn của sông Mân Giang, nó chảy thẳng từ Phúc Châu ra biển. Nước dâng cao nhấn chìm xóm làng, cũng nhấn chìm rất nhiều người. Người chết trôi theo dòng sông, đương nhiên có rất nhiều người chèo thuyền. Người thông thường chèo thuyền đi vớt những vật dụng trôi trên sông, không quan tâm đến người chìm trong nước, mà đều đi vớt tài vật. Chỉ có tổ tiên của Dương Vinh, chính là ông nội, ông cố của ông là đi cứu người. Đối với những tài vật trôi nổi theo dòng nước, họ không hề lấy một thứ gì, chỉ có cứu người! Người trong thôn thấy họ làm như thế đều nói họ ngu si, cứu người có lợi ích gì đâu? Rất nhiều tài sản của người khác trôi trên sông, vớt được thì là của mình. Họ không cần tài vật, chỉ chuyên tâm cứu người, đây là tích đức. Đến khi cha của Thiếu sư ra đời thì gia đình dần dần khá giả hơn. Khi phụ thân Dương Vinh ra đời thì hoàn cảnh gia đình họ ngày càng sung túc hơn. Có vị thần hóa thành một đạo sĩ đến nói rằng: “Ông nội và cha ông có âm đức lớn nên con cháu sẽ được giàu có vinh hiển. Ông hãy chôn cất họ ở đây”. Cha ông nghe lời bèn an táng họ tại đó. Hiện nay chỗ đó gọi là mộ Bạch Thố. Sau đó sanh ra Thiếu sư, 20 tuổi đã thi đậu tiến sĩ, làm quan đến vị trí Tam công. Hoàng đế còn phong tặng ông cố, ông nội và cha ông như chức
179 quan của ông. Con cháu đời sau đều được hưng thịnh, mãi đến ngày nay vẫn còn rất nhiều người hiền đức. Đây là lấy câu chuyện của Dương Vinh để chứng minh “gia đình tích thiện ắt thừa niềm vui”. Ông cố, ông nội của ông tuy nghèo khó, nhưng đến đời phụ thân ông thì hoàn cảnh gia đình dần dần chuyển biến tốt hơn. Lúc này có một vị đạo trưởng, ở đây chép là thần nhân hóa thành đạo trưởng, chúng ta nói có một vị đạo trưởng nói với phụ thân ông rằng, ông nội và cha ngươi có âm đức, ông nội tức là ông cố của Dương Vinh, từng cứu rất nhiều mạng người, có âm đức, con cháu nhất định quý hiển. “Ông hãy chôn cất họ ở đây”, chỉ cho ông chỗ mai táng, chúng ta gọi đây là phong thủy. Có một mảnh đất phong thủy rất tốt, có thể mai táng ở đó. Phụ thân của Dương Vinh liền đem ông nội mình mai táng ở chỗ đạo nhân chỉ, bây giờ gọi đó là Mộ Bạch Thố. “Sau đó sanh ra Thiếu sư”, sau đó Dương Vinh ra đời; “20 tuổi đã thi đậu tiến sĩ”, nhược quan là 20 tuổi, 20 tuổi thi đậu tiến sĩ. Làm quan đến vị trí Tam công, Thiếu sư là một trong Tam công. Hoàng đế rất cảm kích ông, truy phong ông cố, ông nội và phụ thân ông như chức quan của ông. Chức quan của ông là Thiếu sư, ông cố, ông nội và phụ thân của ông đều được truy phong làm Thiếu sư. “Con cháu đời sau đều được hưng thịnh” mãi đến nay, đến nay tức là thời tiên sinh Liễu Phàm còn tại thế. Thời đại đó là thời nhà Minh, gia đình họ vẫn còn rất nhiều hiền nhân, đời đời đều có hiền nhân, đây là tổ tông tích đức. Vị thứ hai là: Dương Tự Trừng người huyện Ngân. “Ngân” là Ninh Ba, Triết Giang hiện nay, thời xưa gọi là huyện Ngân. Có một người tên là Dương Tự Trừng. Ban đầu vốn là một viên thư biện trong nha huyện.
180 Làm một viên thư biện ở nha huyện, giống như quan thư ký, quan văn thư hiện nay. Người này: Có tấm lòng nhân hậu, nghiêm giữ pháp luật, làm việc công chính liêm minh. Đây là đức hạnh của ông, tâm địa nhân hậu, suy mình ra người. “Nghiêm giữ pháp luật, làm việc công chính liêm minh”, tuyệt đối không nhận hối lộ của người khác. Tri huyện đương thời là người rất nghiêm khắc. Thời là đương thời, quan huyện này rất nghiêm khắc. Ngẫu nhiên đánh một tù nhân. Ngẫu nhiên đánh một phạm nhân. Đến nỗi máu chảy khắp mặt đất mà vẫn chưa nguôi giận. Phạm nhân này khiến quan huyện nổi giận, quan huyện đánh anh ta một trận, đánh đến máu chảy khắp người, mà cơn giận của quan vẫn chưa nguôi. Họ Dương quỳ xuống xin tha. Dương Tự Trừng quỳ xuống đất cầu xin giúp cho phạm nhân này. Vị quan huyện này nói: Quan huyện nói: “Tên phạm nhân này phạm pháp làm những việc trái nghịch đạo lý, làm sao có thể không giận cho được”. Ông cầu xin tha cho phạm nhân, quan huyện nói, tù nhân này làm quá nhiều chuyện xấu. “Làm sao có thể không giận cho được”, quan huyện nói lý do ông nổi giận. Dương Tự Trừng dập đầu thưa rằng.
181 Dương Tự Trừng khấu đầu nói với quan huyện. Bề trên lỗi đạo, nhân dân đã mất lòng tin từ lâu, nếu [họ phạm pháp] tra ra sự tình, thương xót họ còn không hết thì làm sao còn vui được. Vui còn không được huống hồ là nổi giận. Quan huyện nghe xong cảm động mà nguôi giận. Dương Tự Trừng nói rất hay!“Bề trên lỗi đạo”, câu này thật không dễ nói ra. Từ đây thấy được, tâm ông quả thật rất nhân hậu, bản thân không sợ bị mất chức, ông nói lời thật. “Thượng” là chỉ triều đình, hiện nay bản thân triều đình có sai trái, nhân dân đã mất niềm tin đối với triều đình rồi. Do đây có thể biết, nhân dân phạm pháp lỗi do đâu? Lỗi do không có ai dạy họ, ai phụ trách việc giáo dục? Nho giáo dạy học là quan viên địa phương, huyện trưởng. Ngày xưa gọi tri huyện là “quan phụ mẫu”, quý vị là cha mẹ của nhân dân ở địa phương này, quý vị là thầy của nhân dân, là lãnh đạo của nhân dân. Nho giáo nói: “Làm lãnh đạo của dân, làm cha mẹ của dân, làm thầy của dân”. “Chi” là nhân dân. Thủ trưởng của địa phương là lãnh đạo của nhân dân, là cha mẹ của dân, là thầy của dân. Con cháu của quý vị làm càn làm quấy là do quý vị không dạy tốt họ. Trong câu “bề trên lỗi đạo” hàm nghĩa rất rộng. Dương Tự Trừng thật sự rất gan dạ, người này bình thường có đức hạnh, có lòng gan dạ, dám nói lời chân thật. Khi ông thẩm vấn hỏi ra được sự tình, thật sự họ làm rất nhiều chuyện xấu, cần phải phán trọng hình. Ông phải thương xót họ, không thể sanh tâm vui mừng, “vui còn không được huống hồ là nổi giận”, làm sao ông có thể nổi giận cho được? Quan huyện cũng không tệ, nghe Dương Tự Trừng nói xong, cơn nóng giận cũng giảm xuống, không còn giận dữ nữa. Gia đình ông rất nghèo. Gia đình Dương Tự Trừng rất nghèo.
182 Nhưng có ai mang quà biếu, ông đều không nhận. Đương nhiên ông có thể giúp đỡ những người khổ nạn, đặc biệt là những phạm nhân này. Ông có tâm thương người nên thường giúp họ, đương nhiên có một số người đem lễ vật đến để nhờ cậy, nhưng ông không nhận bất cứ thứ gì. Đại công vô tư, làm việc theo lương tâm của mình, tuyệt đối không nhận hối lộ. Gặp lúc thiếu lương thực, tù nhân phải chịu đói. Có khi phạm nhân thiếu lương thực. Ông thường nghĩ mọi cách để cứu tế. Ông ngày ngày nghĩ cách để giúp họ. Đến những nhà có thể hành thiện quyên góp, để giúp những phạm nhân này, khiến họ có thể ăn no. Một hôm. Có một hôm. Có một số tù nhân mới đến bị đói khát. Phạm nhân mới đến, có vài người không được ăn. Gia đình ông lại thiếu gạo. Gạo trong nhà ông không nhiều. Nếu mang gạo cho tù nhân thì cả nhà phải chịu đói. Nếu đem gạo ở nhà cho phạm nhân thì người trong nhà mình không có cơm ăn. Nếu giữ gạo lại ăn thì tù nhân chịu đói rất đáng thương. Nghĩ lại thấy phạm nhân rất đáng thương.
183 Ông liền bàn với vợ chuyện này. Ông bèn thương lượng với vợ. Vợ ông hỏi: “Tù nhân từ đâu đến?” Ông nói: “Từ Hàng Châu đến, dọc đường chịu đói khát, mặt mày xanh xao vàng vọt”. Vợ ông hỏi: “Những phạm nhân này từ đâu đến?” Từ Hàng Châu đến, trên đường đi chịu đói chịu khát, sắc mặt rất kém, xanh xao vàng vọt. Do đó hai vợ chồng liền đem nửa số gạo trong nhà nấu cháo cho tù nhân ăn. Ông đem nửa số gạo của mình chia cho phạm nhân, còn gia đình mình nấu cháo ăn. Sau đó, ông sanh được 2 người con trai. Về sau Dương Tự Trừng sanh hai người con trai. Con trưởng là Dương Thủ Trần, con thứ là Dương Thủ Chỉ, cả hai đều giữ chức Lại bộ Thị lang ở hai miền Nam và Bắc. Đây là quả báo, bản thân tích thiện tích đức, đến đời con cháu thì được quý hiển. Hai người con trai đều làm quan đến chức Lại bộ Thị lang ở hai miền Nam Bắc. “Thị lang”, địa vị này tương đương với Phó Bộ trưởng hiện nay. “Lại bộ”, lúc đó không gọi là Bộ trưởng, mà gọi là Thượng thư. Thượng thư là Bộ trưởng, Thị lang là Phó Bộ trưởng. Cháu lớn làm quan đến chức Hình bộ Thị lang. Hình bộ hiện nay chính là bộ Pháp vụ, bộ Tư pháp, cũng làm đến chức Thứ trưởng.
184 Cháu nhỏ làm quan Liêm hiến ở Tứ Xuyên. Liêm hiến cũng là tên chức quan thời xưa, về sau vào thời nhà Minh gọi là Án sát sứ, thông thường cũng gọi là Khâm sai đại thần. Cũng đều là những vị quan nổi tiếng. Đương thời đều là những vị đại thần hiền đức nổi tiếng. Hiện nay các ông Sở Đình, Đức Chính. Các trước thuật trong lịch sử không ghi tỉ mỉ về họ. “Kim” là cùng thời đại với tiên sinh Liễu Phàm, hai người Sở Đình và Đức Chính, Cũng là con cháu của ông. Cũng là hậu duệ của ông, hậu duệ của Dương Tự Trừng. Đây là ông làm chức thư biện nhỏ trong huyện nha. Do đây có thể biết tích lũy công đức, bất luận hiện tại cuộc sống của chúng ta như thế nào, trong xã hội có địa vị như thế nào, làm ngành nghề gì đều có thể làm, cơ hội rất nhiều. Chỉ cần giữ tâm lợi ích xã hội, lợi ích nhân dân chính là tích lũy công đức. Làm việc thiện không cầu quả báo thì công đức này càng lớn. Không cầu quả báo thì nhất định được quả báo càng thù thắng hơn. Tích được thiện lớn, tích được thiện nhiều thì bản thân mình sẽ cảm nhận được quả báo. Như tiên sinh Liễu Phàm là một ví dụ, cùng thời đại với tiên sinh Liễu Phàm là ông Du Tịnh Ý cũng là một ví dụ. Đến lúc cuối đời thì được hưởng quả báo, quả báo kéo dài đến đời con cháu của họ, đời đời không dứt. Trường hợp thứ ba: Vào khoảng năm Chánh Thống. Chánh Thống là niên hiệu của Anh Tông triều nhà Minh. Trịnh Mậu Thất tạo phản ở tỉnh Phúc Kiến.
185 Lúc đó Trịnh Mậu Thất là một tên thổ phỉ, cường đạo, thổ phỉ, ông làm loạn ở khu vực Phúc Kiến. Rất nhiều kẻ có học và nhân dân đi theo giặc, triều đình cử quan Đô hiến Trương Khải người huyện Ngân xuất quân xuống phía Nam chinh phạt, dùng mưu kế đã bắt được giặc. Hoàng đế Anh Tông sai Trương Khải người huyện Ngân dẫn binh xuống phía nam chinh phạt, bình định cuộc nổi loạn này, bắt được Trịnh Mậu Thất, nhưng vẫn còn một số dư đảng. Sau đó cử viên Đô sự họ Tạ thuộc Bố chánh ty đi truy lùng bắt giết dư đảng của giặc ở phía Đông, Phúc Kiến. Thủ lĩnh của bọn thổ phỉ đã bị bắt, nhưng bên dưới vẫn còn dư đảng. Cho nên, triều đình lại sai Đô sự họ Tạ thuộc Bố chánh ty, Bố chánh ty tương đương với tỉnh trưởng hiện nay, Đô sự là một chức quan dưới Bố chánh ty. Phái Đô sự Tạ tìm giết dư đảng ở phía đông, nghĩa là bình định số tòng đảng còn lại. Đô sự Tạ tìm cách điều tra được danh sách những kẻ dư đảng. Vị Đô sự Tạ này rất hiếm có, trước tiên nghĩ cách lấy được danh sách của nhóm đạo tặc. Phàm những người không có tên trong danh sách. Trong bọn dư đảng, những người không có tên trong danh sách này. Được bí mật trao cho 1 lá cờ nhỏ màu trắng và dặn: “Ngày quân binh truy quét thì cắm lá cờ ấy ở trước cửa”. Đồng thời nghiêm cấm quân binh không được giết người bừa bãi, nhờ vậy mà cứu được cả vạn người dân.
186 Đây là tướng lĩnh thống lĩnh binh lính, ông hiểu cách tích đức, không giết oan người, không lạm sát người. Cho nên, ông dụng tâm đi thu thập tên của nhóm giặc đảng, không phải thực sự nằm trong nhóm giặc đảng thì không được hàm oan người. Quan binh vào thành kiểm tra, ông cho những người không liên quan đến bọn giặc một lá cờ trắng nhỏ, để khi quan binh vào thành thì đem lá cờ này cắm trước cửa, cấm quan binh đến phiền nhiễu. Nhờ vậy nên cứu sống cả vạn người, đây là công đức mà ông tích được. Trong lịch sử từ xưa đến nay, người làm tướng quân, đại tướng quân, rất ít người bảo toàn được hậu duệ, do nguyên nhân gì vậy? Vì sát hại quá nhiều, cho nên hậu duệ đều không tốt. Trong các bậc võ tướng, người có hậu duệ tốt quả thật không nhiều, trong lịch sử thật sự có thể đếm ra được. Những người làm tướng quân nếu đều thương tiếc mạng người, tuyệt đối không lạm sát, kỷ luật quân đội rất nghiêm khắc, như vậy mới bảo toàn được hậu duệ. Về sau con trai của Đô sự Tạ là Tạ Thiên thi đỗ trạng nguyên, làm quan đến chức Tể tướng. Cháu nội là Tạ Phi cũng đỗ thám hoa. Đây là nói quả báo của con cháu Đô sự Tạ, con trai ông là Tạ Thiên đậu trạng nguyên, làm quan đến tể tướng, “tể phụ” là tể tướng. Cháu ông là Phi cũng đậu thám hoa, thám hoa là hạng thứ ba của tiến sĩ. Đây đều là lịch sử chứng minh câu nói “gia đình tích thiện ắt thừa niềm vui”. Lại nói với chúng ta ở Bồ Điền có gia đình họ Lâm: Ở Bồ Điền có nhà họ Lâm, đời trước có một bà lão ưa làm việc thiện, thường làm bánh bột gạo bố thí cho người, ai đến xin cũng cho, không hề chán mỏi. Đây là nói tại Bồ Điền, cũng là ở Phúc Kiến, “đời trước có một bà lão ưa làm việc thiện”, tức là tổ tiên của ông có bà nội rất thích
187 hành thiện. Bà thường làm bánh bột gạo bố thí, bố thí cho những người nghèo khó, ngày nào cũng làm như thế, suốt đời không mệt mỏi. Ngày nào cũng làm bánh bố thí, có người đến xin, bà đều cho hết. Hằng ngày bố thí, không hề mệt mỏi. Làm việc tốt, lượng sức mà làm. Đối đãi tốt với người khác, bản thân nhất định có quả báo thiện. Đừng sợ thiệt thòi, đừng sợ bị lừa gạt, ngạn ngữ thường nói: “Thiệt thòi là phước”. Cho nên, tôi thường nghĩ mình không có cơ duyên này, nếu tôi có cơ hội này, tôi muốn mở một tiệm cơm, mở tiệm cơm miễn phí cúng dường mọi người. Hiện nay ở Cư Sĩ Lâm tại Singapore, tôi đem suy nghĩ của mình nói với cư sĩ Lý Mộc Nguyên, ba năm nay ông thật sự làm được. Hằng ngày mời cơm miễn phí, bình quân một ngày có hơn một ngàn người đến Cư Sĩ Lâm ăn cơm; cuối tuần, ngày nghỉ lễ có đến ba bốn ngàn người, đây là việc tốt! Cư Sĩ Lâm có bị người ăn đến sập tiệm hay không? Không hề, càng ăn càng hưng thịnh. Số người rất đông, rất nhiều người đến ăn cơm! Nói cho chư vị biết, từ khi mở ra đến nay chưa từng mua gạo, chưa từng mua dầu, cũng chưa từng mua rau, hơn nữa còn ăn không hết. Nguyên nhân là gì? Mọi người biết Cư Sĩ Lâm làm việc tốt này, ngày nào cũng có người đem gạo đến, có người đem dầu đến, có người đem rau đến. Đem đến quá nhiều, ăn không hết, ăn không hết thì sao? Chúng ta đem số rau gạo dư này tặng cho viện dưỡng lão và cô nhi viện. Cho nên, ở Singapore rất nhiều viện dưỡng lão và cô nhi viện của các tôn giáo khác đều nhận sự cung cấp của chúng ta. Đây là việc tốt! Nên làm. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây.
188 TẬP 13 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Chúng tôi xin tiếp tục giới thiệu về nhà họ Lâm ở Bồ Điền, đây là trường hợp thứ tư về quả báo hiếu thiện tích đức. Gia đình họ Lâm ở Bồ Điền, trước đây có một bà cụ thích hành thiện thích bố thí, thường làm bánh bố thí cho người nghèo. Quanh năm suốt tháng nhưng bà không hề chán mỏi, hoan hỷ giúp đỡ những người nghèo khổ. Có một vị tiên hóa thành Đạo sĩ. Tiên nhân hóa thành đạo sĩ. Chúng ta không cần suy đoán về ông, chúng ta chỉ biết là có một đạo sĩ nghèo. Mỗi ngày ông đều đến đây xin sáu, bảy cái bánh. Ngày nào ông cũng đến. Bà lão ngày nào cũng cho ông. Ông xin rất nhiều, người khác chỉ xin một hai cái, nhưng ông mỗi ngày lấy sáu, bảy cái. Ba năm như một ngày, tiên nhân biết bà làm thiện bằng tấm lòng chân thành. Ông ngày nào cũng xin như vậy, xin suốt ba năm, bà cụ này đều hoan hỷ cho ông. Từ đây biết được bà cụ bố thí cứu người là xuất phát từ lòng chân thành. Do đó Đạo sĩ nói với bà lão rằng. Hôm đó đạo trưởng nói với bà cụ rằng: Tôi ăn bánh của bà suốt ba năm, biết lấy gì để báo đáp đây?
189 Tôi ăn bánh của bà suốt ba năm, mỗi ngày ăn sáu, bảy cái, ăn hết ba năm, tôi lấy gì để báo đáp bà đây? Sau nhà bà có một mảnh đất, nếu an táng ở nơi đó. Nhà bà có một mảnh đất quý, ông nói sau này bà mất hãy mai táng ở đó. Tương lai con cháu của bà được làm quan nhiều như số hạt mè trong một thăng vậy. Tương lai số con cháu của bà được làm quan nhiều như một thăng hạt mè vậy. Đây là nhờ thành tâm cứu người! Con trai bà mai táng mẹ ở chỗ đạo sĩ chỉ điểm, ngay đời đầu tiên đã có 9 người thi đậu tiến sĩ, đời đời quan tước cực thịnh, ở Phúc Kiến có câu: “Khoa bảng đề danh nhất định có người nhà họ Lâm”. Lời nói này là thật, trước đây tôi từng sáu năm ở Kiến Âu, Phúc Kiến; cho đến thời kỳ kháng chiến, gia đình họ đời đời vẫn có hiền nhân. Con cháu của bà nghe theo lời chỉ điểm của đạo trưởng, đem mai táng bà ở đó. Quả nhiên sau khi mai táng, đời thứ nhất con cháu của bà có chín người thi đậu tiến sĩ, cho nên ở Phúc Kiến có câu: “Khoa bảng đề danh nhất định có người nhà họ Lâm”. Mỗi lần có khoa cử, thi đậu cử nhân, đậu tiến sĩ, người nhà họ Lâm chiếm đa số. Đây là tổ tông của họ, bà cụ này thành tâm bố thí cứu người, quanh năm không thấy mỏi mệt.“Lũy đại” là đời này qua đời khác,“trâm anh” là nói cái mũ thời xưa người làm quan thường đội. Cái đai trên mũ gọi là “anh”, sợi dây để thắt mũ gọi là anh, trâm cài ở hai bên gọi là “trâm”. Điều này chứng tỏ họ làm quan rất lớn, gia tộc này vô cùng hưng thịnh, tất cả đều nhờ tổ tông tích đức. Con cháu cũng không ngừng hành thiện tích đức, duy trì gia phong, đời đời không suy yếu.
190 Trong lịch sử có rất nhiều trường hợp như vậy, nổi tiếng nhất là Phạm Trọng Yêm. Trong văn cổ chúng ta đọc Nghĩa Điền Ký, biết Phạm Trọng Yêm từ nhỏ đã có chí lớn cứu người cứu đời, suốt đời tích lũy công đức không biết mệt mỏi. Đầu năm dân quốc, đại sư Ấn Quang khen ngợi, tổ tông tích được đức lớn ở Trung Quốc có ba người, con cháu đời đời đều được hưởng âm phước của họ. Có ba người, thứ nhất là Khổng tử, hơn 2.500 năm gia đạo không suy, đế vương các triều đại đều tôn kính Khổng Phu tử. Ngày nay vào thời đại Dân Quốc, hậu duệ của Khổng tử ở nước ngoài đều được người nước ngoài tôn kính, đây là dư phước của Khổng tử. Vị thứ hai là Phạm Trọng Yêm, đến đầu năm Dân Quốc, 800 năm không suy yếu, ông là người thời nhà Tống. Vị thứ ba là Diệp Trạng nguyên, từ đầu nhà Thanh cho đến cuối nhà Thanh, 300 năm không suy yếu. Đại sư Ấn Quang lấy trường hợp của ba người này, tổ tông tích đức sâu dày. Xem tiếp người thứ năm: Cha của Thái sử Phùng Trác Am, lúc làm tú tài học ở trường huyện. “Ấp” là huyện, tại trường huyện, “tường” là trường học, cũng coi như trường công lập. Khi làm học sinh trường huyện, “tường sanh” thông thường gọi là tú tài. Vào một buổi sáng mùa đông rét buốt, dậy sớm đến trường học. Vào mùa đông ông dậy sớm đến học đường. Trên đường gặp một người bị ngã nằm trong tuyết, sờ thử thì đã lạnh cóng gần chết rồi. Ông thấy trên đường có một người té ngã nằm trong đống tuyết, ông đến sờ xem thấy chưa chết, nhưng cũng sắp đông cứng rồi. Ông liền cởi áo khoác của mình ra đắp cho người đó.
191 Trên người ông đang mặc áo bông hoặc áo da, ông lập tức cởi áo khoác ngoài ra đắp cho người này. Rồi đưa về nhà cứu sống. Ông dìu người này về nhà cứu sống, đây là cứu một mạng người. Nhà Phật thường nói: “Cứu một mạng người hơn xây tháp bảy tầng”. Ý câu này rất thâm sâu. người thông thường chỉ biết xây chùa miếu, “phù đồ” là bảo tháp, “thất cấp” là bảo tháp bảy tầng, xây tháp bảy tầng công đức rất lớn. Hiện nay lại thịnh hành việc tạo tượng Phật lớn, đại khái tạc tượng Phật lớn công đức lớn hơn xây bảo tháp. Tôi suy nghĩ mãi câu nói này của cổ nhân, cứu một mạng người còn hơn tạo tượng Phật, Bồ-tát 100 mét, không chỉ là bảo tháp bảy tầng. Quý vị tạo tượng Phật, Bồ-tát lớn như vậy có tác dụng gì? Thế gian hiện nay người khổ nạn quá nhiều, biết bao nhiêu người đang chịu đói khát. Không có cái ăn, không có cái mặc, bệnh không có thuốc men, đáng thương biết bao! Đắp một tượng Phật lớn, xây một bảo tháp phải cần bao nhiêu tiền. Nếu bạn đem số tiền này đi cứu tế nhân dân gặp khó khăn, những người đang chịu đói khát này, tôi tin rằng công đức này là vô lượng vô biên. Cứu một mạng người quả báo không thể nghĩ bàn, được phước báo rất lớn. Nếu bạn có thể cứu ngàn vạn sinh mạng, tôi tin rằng con cháu của bạn đều làm quan rất nhiều, như ở trước vị đạo trưởng nói, số người cũng nhiều như một thăng hạt mè vậy, vì sao không làm? Chúng ta phải tư duy thật nhiều, thế nào là công đức chân thật, thế nào là công đức giả. Trong này có một tiêu chuẩn, phàm là thật sự khiến cho tất cả chúng sanh khổ nạn có được chỗ tốt, đạt được lợi ích, thì công đức này là thật. Nếu khiến tất cả chúng sanh không đạt được lợi ích thực sự thì công đức này là giả. Cho nên, tôi không tán thành việc tạo tượng Phật lớn, có người nói tượng Phật lớn này ngồi ở nơi đó thì người ở đây đều được bình an. Chưa chắc, đây là thuộc về mê tín. Vừa được phước, vừa bình an
192 thì phải dựa vào điều gì? Dựa vào việc giáo hóa, dựa vào việc thay đổi nhân tâm. Nhân tâm trong thế gian hiện nay, toàn thế giới hầu như đều không ngoại lệ, tự tư tự lợi ngày càng tăng trưởng, tham sân si mạn ngày càng tăng trưởng, đây là căn nguyên của thiên tai. Tạc một tượng Phật lớn có thể trấn áp được thiên tai, làm gì có đạo lý này! Có thể hóa giải kiếp nạn, phải đề xướng giáo dục, giáo dục Phật giáo. Giáo dục Phật giáo là giáo dục của trí tuệ, là giáo dục của từ bi, là giáo dục của lòng yêu thương. Dạy mọi người buông bỏ tự tư tự lợi, buông bỏ danh văn lợi dưỡng, tham sân si mạn, hy sinh phụng hiến vô điều kiện, giúp đỡ xã hội này, giúp đỡ tất cả nhân dân khổ nạn, đức Phật dạy chúng ta như vậy. Chúng ta hiểu rõ, thật sự chịu y giáo phụng hành thì bản thân chúng ta được độ, cũng thật sự có thể tạo phước cho xã hội, tạo phước cho nhân dân, đây là lời dạy bảo của Phật. Giả như nói xây bảo tháp, tạo tượng Phật công đức lớn như vậy. Vậy năm xưa khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni còn tại thế, vì sao không tạo tượng Phật lớn? Vì sao không xây đại bảo tháp? Chúng ta xem truyện ký của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, lúc ngài tại thế, cả đời giảng kinh thuyết pháp suốt 49 năm. Ngoài giảng kinh thuyết pháp, dạy học ra, ngài không làm việc gì khác. Ngài cũng chưa từng tổ chức những pháp hội thủy lục gì hết, cũng chưa từng bái sám. Thậm chí bây giờ nói tổ chức Phật thất, tổ chức thiền thất, trong kinh điển chúng ta đều không tìm thấy. Toàn là do người đời sau làm ra, Phật, Bồ-tát không làm những việc này. Chúng ta học Phật nhất định phải học theo Phật, Bồ-tát. Phật, Bồ-tát ở đâu? Ở trong kinh điển, chúng ta nhất định phải tu hành theo lý luận và phương pháp trong kinh điển. Noi theo chư Phật, Bồ-tát, học theo chư Phật, Bồ-tát, đây mới là học trò chân thật của Thích-ca Mâu-ni Phật. Ở đây chúng ta thấy Phùng Trác Am cứu một mạng người, ông đạt được cảm ứng: Mộng thấy có vị thần nói với ông rằng.
193 Đây là buổi tối nằm mộng, thấy một vị thiên thần đến nói với ông. Ông đã dùng tâm chí thành để cứu một mạng người, nay ta sẽ sai Hàn Kỳ đến làm con trai của ông. Đây là nói về luân hồi. “Hàn Kỳ” là người thời nhà Tống, thời vua Anh Tông và Thần Tông. Ông từng làm Tể tướng 10 năm, cũng từng làm nguyên soái, là một vĩ nhân tài giỏi, văn võ song toàn. Chúng ta đọc lịch sử thấy được, ông rất được người đương thời và hậu thế tôn kính. Thời đó ông và Phạm Trọng Yêm nổi tiếng như nhau, cả hai người đều là văn võ song toàn. Phụ thân của Phùng Trác Am làm việc tốt này, thần nhân nói: “Ta phái Hàn Kỳ làm con trai ông”. Sau đó sanh ra Trác Am, bèn đặt tên là Kỳ. Trác Am là tự của ông, tên gọi là Phùng Kỳ. Phụ thân ông lấy tên này, chính là do mộng thấy sự việc như vậy. Quả nhiên ông làm quan đến Thái sử, Thái sử chính là Hàn lâm thời xưa. Xem tiếp ví dụ thứ sáu: Quan Thượng thư họ Ứng người Đài Châu. Ở Đài Châu, tỉnh Triết Giang có một quan Thượng thư tên là Ứng Đại Do. “Thượng thư” chính là Bộ trưởng hiện nay, ông làm quan đến chức Bộ trưởng. Thuở còn trẻ học tập ở trên núi. “Tập nghiệp” là đi học, học tập ở trên núi. Ngày xưa, người đọc sách đa phần đều sống nhờ ở trong chùa, tự viện quả thật cung cấp môi trường học tập tốt nhất cho người đọc sách. Thời xưa không có nhiều trường học, thông thường một huyện chỉ có một trường, gọi là học huyện, cho nên rất khó tìm môi trường đọc sách. Ngoài chùa ra
194 thì chỉ có những nhà giàu có, trong các gia đình giàu có cất giữ một số kinh sách, mời thầy giáo đến nhà dạy cho con cháu mình, đây gọi là tư thục. Số lượng kinh sách họ cất giữ không nhiều lắm, cho nên tàng thư có quy mô lớn đều ở Tàng Kinh Các trong các tự viện, Tàng Kinh Các giống như thư viện ngày nay vậy. Tàng Kinh Các của tự viện không chỉ cất giữ kinh Phật. Ở Trung Quốc, các điển tịch của nhà Nho, nhà Đạo, Bách Gia Chư Tử hầu như toàn bộ đều được cất giữ ở đây. Người xuất gia thật sự có học vấn, thật sự tu dưỡng thân tâm và đức hạnh của mình, cho nên họ đều là những người thầy rất tuyệt vời. Người đọc sách, tú tài thời xưa thông thường đều thích đến chùa thân cận người xuất gia. Tự viện có kinh sách phong phú, nếu có điều gì không hiểu đều có thể thỉnh giáo người xuất gia, mà người xuất gia hướng dẫn họ đều là nghĩa vụ. Đây là tu tích công đức, tích lũy thiện hạnh trong nhà Phật. Nhưng tự viện Phật giáo hiện nay đã biến chất rồi, hoàn toàn khác với thời xưa. Ngày xưa tự viện là nơi dạy học, hiện nay biến thành nơi tổ chức kinh sám Phật sự, nơi giao lưu với ma quỷ rồi, chúng ta cần phải phân biệt rõ ràng. Ông học tập ở trên núi, trên núi nhất định là ở trong tự viện. Ban đêm có rất nhiều ma quỷ tụ tập kêu gào. Những nơi này buổi tối có rất nhiều ma. Thường làm người khác kinh sợ, nhưng riêng ông không sợ sệt chút nào. Nơi hoang dã thật sự có yêu ma, người nhát gan đều không dám ở. Ưng tiên sinh rất gan dạ, tâm địa chánh trực không sợ tà ma quỷ quái. Cho nên ông không sợ, vẫn đọc sách ở trên núi. Một buổi tối ông nghe thấy quỷ nói. Có một buổi tối nghe quỷ nói chuyện, nói nhà nào đó.
195 Có một phụ nữ, chồng đi xa đã lâu chưa về, cha mẹ chồng [cho rằng con trai đã chết] nên ép con dâu tái giá, nhưng con dâu không chịu, nên đêm mai sẽ treo cổ tự vẫn ở đây. Vậy là ta có người thế thân rồi. Đây là quỷ đang nói chuyện, họ nói có một người, người phụ nữ này vì chồng của cô rời quê hương đã rất lâu mà chưa về. Cha mẹ chồng cô cho rằng con trai mình đã chết, nên ép người con dâu này cải giá. Con dâu không bằng lòng cho nên khởi lên ý niệm ngày mai đến đây thắt cổ tự tự. Chúng ta biết, con quỷ này là do thắt cổ chết, quỷ thắt cổ muốn tìm thế thân, nếu họ không tìm được thế thân thì không thể đầu thai. Điều này trong Phật pháp nói không nhiều, nhưng trong Đạo giáo nói đến rất nhiều, nói rất nhiều về vấn đề này. Phàm những người đột tử, tự sát đều phải tìm thế thân. Bởi vậy tự sát rất thống khổ, tuyệt đối không được làm điều này! Đạo giáo nói với chúng ta, người tự sát cứ bảy ngày họ phải diễn lại một lần, cho nên khổ vô cùng. Thắt cổ tự tử, cứ bảy ngày họ phải thắt cổ một lần như vậy, khi nào tìm được thế thân thì họ mới được thoát khỏi. Nhảy lầu chết, bảy ngày họ phải nhảy một lần, quý vị nói như vậy có đáng thương hay không? Cho nên, con người dù bất đắc dĩ đến đâu cũng không được có ý niệm tự sát, đây chắc chắn là hành vi sai lầm, tuyệt đối không được! Đến khi bạn tìm được người thế thân, bạn đi đầu thai thì vẫn là tùy nghiệp lưu chuyển, khổ không thể tả! Con quỷ thắt cổ chết này cũng rất khó được, ngày mai có người đến thắt cổ, họ có thể tìm được người thế thân, có thể đi đầu thai rồi. “Vậy là ta có người thế thân rồi”, họ có người thay thế rồi. Ứng Thượng thư nghe biết liền âm thầm bán mảnh ruộng của mình được 4 lạng bạc, rồi viết một bức thư giả làm thư của người chồng gửi về nhà, kèm theo bốn lạng bạc. Ứng thượng thư nghe được quỷ nói chuyện ở đó, trong lòng ông liền có chủ ý. Sáng sớm hôm sau lập tức về nhà bán ruộng, bán mấy
196 mẫu ruộng được 4 lạng bạc. Viết thêm một lá thư, giả làm con trai của họ viết một lá thư, lập tức gởi về gia đình này cùng với 4 lạng bạc. Cha mẹ ông ta vừa nhìn thấy, con trai gởi thư về, tức là chưa chết. Cha mẹ chồng xem thư, thấy bút tích không giống con mình nên hoài nghi. Thấy nét bút không đúng nên hoài nghi. Nhưng sau đó lại nghĩ, thư có thể giả nhưng bạc làm sao có thể giả được. Vì vậy, họ nghĩ con mình vẫn bình an và cũng không ép con dâu tái giá nữa. Sau đó người con này trở về, vợ chồng lại được đoàn tụ như xưa. Ứng Thượng thư đã cứu được một mạng người, cha mẹ chồng thấy có người gửi thư về nhà, lại gửi cả bạc về. Tuy nét bút này không giống, nhưng lại nghĩ bạc là thật, chẳng ai vô duyên vô cớ gửi tiền về cho mình được. Nghĩ lại nhất định là con trai bình an vô sự, nên không còn ép con dâu tái giá nữa, cứu được mạng cô con dâu, Ứng thượng thư đã cứu được một mạng người. Chẳng những cứu được một mạng, mà còn thành tựu cho hai vợ chồng này, bảo toàn không đến nỗi bị chia ly. Sau đó con trai họ quả nhiên quay về. Ứng tiên sinh đã làm được một việc âm đức, ông làm việc này không có người biết. Sau khi làm việc này: Ứng Thượng thư lại nghe quỷ nói, ta sắp có người thế thân nhưng lại bị gã tú tài đó làm hỏng chuyện. Quỷ vốn đã tìm được thế thân, ai ngờ bị vị tú tài này phá hoại, tú tài này là chỉ tiên sinh Ứng Đại Do, bị ông phá hoại. Con Quỷ bên cạnh nói rằng: “Sao mày không hại ông ta”. Con quỷ bên cạnh nói: Vì sao mày không hại ông ta?
197 Quỷ kia đáp rằng: “Thượng đế thấy người này tâm địa thiện lương nên hạ lệnh ghi âm đức cho ông ta làm Thượng thư, ta làm sao có thể hại ông ta được?” Con quỷ treo cổ chết này nói: Ông trời biết tâm người này rất tốt, nên đã hạ lệnh cho ông làm âm đức thượng thư, tôi làm sao có thể hại ông ta được? Ứng Thượng thư nghe vậy ngày càng nỗ lực làm nhiều việc thiện hơn, phước đức ngày càng sâu dày hơn. Ứng Đại Do nghe thấy quỷ nói chuyện như vậy, bản thân càng nỗ lực hơn, biết việc này mình làm là đúng. Thượng đế hạ lệnh cho ông làm âm đức thượng thư, bản thân ông đâu biết được. Hay nói cách khác, tương lai ông có số làm Bộ trưởng. Đây là quỷ cho ông biết tin tức này, cho nên ông càng không ngừng nỗ lực đoạn ác tu thiện, vì vậy thiện ngày ngày tăng trưởng, đức ngày ngày thêm dày. Gặp năm mất mùa đói kém, ông liền mang gạo đi cứu tế dân đói. Gặp người thân thích có việc nguy cấp, ông luôn uyển chuyển nghĩ cách giúp họ vượt qua khó khăn. Gặp phải nghịch cảnh, ông luôn quay lại phản tỉnh tự trách mình, rồi đều an nhiên vui vẻ chấp nhận. Đây đều là biết quay đầu hướng thiện, biết phải làm việc tốt như thế nào. Gặp năm mất mùa, lúc đói kém, ông quyên góp lương thực đi cứu tế, cứu người. Gặp người thân thích có việc cấp bách ông luôn “ủy khúc”, “ủy khúc” là uyển chuyển giúp người khác, giải quyết khó khăn cho người khác. Gặp phải sự ngang ngược, người ta sỉ nhục mình, hủy báng mình, gặp những chuyện như thế ông đều có thể quay lại phản tỉnh, tự trách chính mình. Đây là học Đại Vũ, tuyệt đối không trách người khác. Do tôi làm chưa tốt, không thể khiến người khác sanh tâm hoan hỷ. Lỗi lầm không phải do người mà đều là tại mình, như vậy bản thân mới có thể tu thiện, mới có thể tăng
198 trưởng đức hạnh của mình. Cho nên, những việc vô lý như vậy ông đều có thể “an nhiên vui vẻ chấp nhận”, “di nhiên” là hoan hỷ, nhẫn nhục chịu đựng. Đây đều là sự thật về tu thiện tích đức, về sau ông làm Thượng thư, làm đến Bộ trưởng. Con cháu của ông thi đậu tiến sĩ đến nay vẫn rất nhiều. Con cháu của ông, “đăng khoa đệ” là thi đậu tiến sĩ, rất nhiều! Con cháu đời sau đều tốt. Trường hợp thứ bảy là phụ thân của Từ Phụng Trúc. “Thường Thục”, đây là huyện Thường Thục tỉnh Giang Tô, có một người tên là Từ Phụng Trúc. Có người tên là Từ Thức, hiệu Phụng Trúc. Cha ông vốn là người giàu có, gặp năm mất mùa đói kém, ông là người đầu tiên trong toàn huyện miễn tô thuế cho dân, lại phân phát lương thực cứu tế người nghèo đói. Đây là một bậc thiện nhân, gia đình ông rất giàu có. Ngẫu nhiên gặp năm mất mùa, hoặc là hạn hán hay lũ lụt, thu hoạch không tốt, trước tiên ông quyên góp tất cả số tiền thuế ruộng mà ông cần phải thu. Ngày xưa, gia đình giàu có thường có quan niệm mua hằng sản, ngày nay chúng ta gọi là bất động sản. Bất động sản tương đối đáng tin hơn, nhưng bây giờ không có nhiều người quan niệm như vậy. Thời xưa có tiền họ đều mua đất, mua núi, đây gọi là hằng sản. Bất luận gặp thiên tai như thế nào, ruộng đất của họ vẫn còn, sản nghiệp của họ không mất. Không như hiện nay, công thương nghiệp hiện nay rất mong manh, vừa gặp phải thời kỳ khủng hoảng kinh tế thì tổn thất vô cùng nghiêm trọng. Cho nên, chúng ta nghĩ lại thấy quan điểm của cổ nhân thời xưa rất chính xác. Năm ngoái tôi đến Malaysia, ở tại sơn trang của cư sĩ Lý Kim Hữu, Lý cư sĩ còn giữ được quan niệm truyền thống xưa, ông mua
199 đất ở khắp nơi. Ông nói với tôi ông không tích tiền, tuyệt đối không để tiền trong ngân hàng. Ông nói để tiền trong ngân hàng là chuyện ngu ngốc, tiền của mình để trong ngân hàng, để họ kiếm tiền thì tôi chỉ được chút ít tiền lãi, ông không làm như thế. Tôi hỏi: “Vậy ông làm sao?” Ông nói: “Tôi mua đất, mua đất ở khắp nơi”. Cho nên ở Kuala Lumpur ông mở một khách sạn 6 sao, diện tích mảnh đất đó là 3.000 mẫu Anh. Một mẫu của phương Tây bằng 6 mẫu của Trung quốc, 3.000 mẫu Anh là 3 nhân 6 bằng 18.000 ngàn, là 18.000 mẫu Trung quốc, một mảnh đất lớn như thế. Ở Cổ Tấn ông mua một quả đồi, diện tích bao nhiêu? Năm ngàn mẫu Anh, 5 nhân 6 bằng 3 vạn, là 30.000 mẫu Trung quốc, đều rất lớn, quản lý rất tốt. Ông nói với tôi, ở Úc châu ông cũng mua mấy mảnh đất, tôi hỏi lớn bao nhiêu? Ông nói lớn khoảng bằng Singapore, tôi hỏi ông phát triển nó như thế nào? Ông nói: Hiện nay vẫn chưa triển khai. Lần này tôi đến, ông nói với tôi mảnh đất này tổng cộng là 8 vạn mẫu Anh. 8 vạn nhân 6, điều này không cách gì tưởng tượng được! Đây là mảnh đất lớn nhất. Còn có hai mảnh nhỏ hơn là một vạn mẫu Anh. Có một mảnh nhỏ nhất, ở đó phong cảnh rất đẹp, ông chuẩn bị ưu tiên phát triển trước, có hơn 2.000 mẫu Anh. Tôi nghe xong rất hoan hỷ, tôi nói: Ông đến Úc châu phát triển, tôi sẽ đến xem thử. Ngày xưa cổ nhân mua đồi, mua đất làm bất động sản, đây là một quan niệm rất đúng đắn. Quý vị có nhiều đất như thế, nhất định là cho nông dân thuê để trồng trọt. Nông dân không có đất đai, họ thuê đất của địa chủ. Mỗi năm trồng trọt nộp thuế, sau khi thu hoạch xong, thu hoạch ngũ cốc xong thì chia cho địa chủ một phần, địa chủ thu tiền thuê. Phụ thân của Từ Phụng Trúc là một địa chủ, gặp năm mất mùa, ông liền đem phần thuế đó, hoặc là miễn giảm, hoặc là quyên góp tất cả để đề xướng cứu giúp thiên tai. “Lại phân phát lương thực cứu tế người nghèo đói”, ông đem lúa gạo trong kho của gia đình ra để cứu tế cho người bần cùng, ông thường làm những việc thiện này.
200 Ban đêm nghe quỷ hát ở trước cửa nhà. Ban đêm lại nghe quỷ hát ở trước cửa nhà ông, hát gì vậy? Ngàn lần không sai, vạn lần không sai, tú tài nhà họ Từ sẽ thi đậu cử nhân. Mấy đêm liên tục đều nghe quỷ hát như vậy. Quỷ ở trước cửa hát, Tú tài nhà họ Từ lúc đó chính là Từ Phụng Trúc, Từ Phụng Trúc là tú tài. Tức là nói phụ thân ông làm những việc thiện này, nên ông hưởng được quả báo, ông đi thi nhất định sẽ đậu cử nhân. Năm đó Từ Phụng Trúc dự kỳ thi Hương, quả nhiên đậu cử nhân. Quả nhiên năm đó Phụng Trúc đi thi đậu cử nhân. Cha ông nhân đó ngày càng nỗ lực làm thiện cần mẫn không giải đãi, tu sửa cầu đường, cúng dường trai tăng, cứu tế người nghèo đói, tất cả những việc có lợi ích ông đều gắng sức để làm. Phụ thân ông nghe quỷ hát, quả nhiên con trai đã thi đậu cử nhân, đúng là rất hiệu nghiệm, cho nên ông ra sức nỗ lực hành thiện. “Ích” là tăng trưởng, đặc biệt nỗ lực làm việc thiện, chăm chỉ không ngừng.“Tu sửa cầu đường”, đây là đưa ra mấy ví dụ, làm lợi ích thuận tiện cho người đi đường. “Cúng dường trai Tăng, cứu tế người nghèo đói”, “trai tăng” là mời người xuất gia dùng cơm, “tiếp chúng” là tiếp tế dân chúng. Ở đây nói đến “trai tăng”, lợi ích của trai tăng là gì? Vì sao phải làm những việc này? Vào thời nhà Minh và thời nhà Thanh, phong khí này rất thịnh hành, hiện nay ở Trung quốc hay ở nước ngoài vẫn rất thịnh hành. Cư sĩ tại gia lấy tài vật cúng tăng, mong cầu tu phước. Mà những người xuất gia tiếp nhận cúng dường phải nói pháp cho họ nghe. Hay nói cách khác là phải dạy dỗ họ. Người tại
201 gia bố thí tài cho người xuất gia, người xuất gia bố thí pháp cho người tại gia, trai tăng là cầu pháp. Trong kinh Lăng Nghiêm chúng ta thấy đức Phật Thích-ca Mâu-ni tiếp nhận quốc gia, đại thần cúng trai. Thông thường sau khi thọ trai xong nhất định phải giảng kinh thuyết pháp. Ngày hôm đó, đức Phật sau khi tiếp nhận cúng trai xong không có thuyết pháp, đứng dậy ra về. Những vị trai chủ này cứ đi theo đức Phật Thích-ca Mâu-ni, ngài chưa nói pháp cho con nghe, nên con đi theo ngài. Thì ra đức Thế Tôn phải đi giải quyết công việc, công việc gì vậy? Tôn giả A-nan gặp nạn nên đi cứu ngài trước, pháp hội Lăng Nghiêm do đây mà có. Những người cúng trai đều tham gia pháp hội Lăng Nghiêm này. Đây là công đức chân thật, lợi ích chân thật của việc trai tăng. Những người xuất gia này có đạo đức, có học vấn, có tu dưỡng, là đạo sư của xã hội đại chúng. Nói như hiện nay là thầy giáo đa nguyên văn hóa, họ thật sự làm được hy sinh phụng hiến một cách triệt để. Vì cầu học vấn, vì giáo hóa chúng sanh, phụng hiến suốt cuộc đời. “Tiếp chúng” là gặp người khốn khó. Tiếp là tiếp tế, họ nghèo khó, hoặc là thất nghiệp. Họ thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu dùng. Phụ thân của Phụng Trúc, gia đình họ giàu có, chỉ cần gặp được thì đều vui vẻ giúp đỡ. “Phàm là những việc có lợi ích ông đều gắng sức để làm”, chỉ cần là việc đem lại lợi ích cho xã hội, có lợi ích cho đại chúng ông đều tận tâm tận lực để làm. Số mệnh có của cải, cần phải làm người như thế mới đúng. Của cải không phải cung cấp cho một người hưởng thụ, tuyệt đối không phải cung cấp cho một gia đình hưởng thụ. Số mệnh bạn có của cải, cần phải biết bạn có sứ mạng, có chức trách giúp đỡ tất cả những người nghèo khổ trong thế gian, như vậy của cải của bạn đời đời kiếp kiếp hưởng không hết! Của cải từ đâu mà có? Của cải do bố thí mà có, càng thí càng nhiều. Ông làm như thế, sau đó lại nghe quỷ hát trước cửa nhà mình, hát rằng:
202 Ngàn lần không sai, vạn lần không sai, cử nhân nhà họ Từ sẽ làm đến chức Đô đường. Chức quan ngày càng cao. Quả nhiên Phụng Trúc làm quan đến chức Tuần phủ Lưỡng Chiết. “Tuần phủ” là tỉnh trưởng hiện nay, làm đến chức tỉnh trưởng của Triết Giang. Cho thấy tổ tiên tích lũy công đức được quả báo vô cùng thù thắng. Chúng ta thấy con cháu của ông đều được hưởng phước báo lớn như vậy, vậy bản thân ông thì sao? Bản thân phước báo nhất định càng lớn hơn, nhưng bản thân ông không còn ở đời nữa, vậy thì quả báo của ông là ở đời sau. Phàm những người tích lũy công đức như thế, nếu họ ở thế gian thì phước báo đó của họ ở đời sau quả thật không thể nghĩ bàn. Nếu đời sau không ở thế gian, thì nhất định sanh lên cõi trời hưởng phước trời. Còn phước báo mà con cháu đời sau của họ hưởng, đây gọi là dư phước. Chư vị nhất định phải hiểu ý này. “Gia đình tích thiện, ắt thừa niềm vui”, đó là dư phước cho con cháu. Phước báu của mình so với phước mà con cháu hưởng thụ nhất định vượt hơn rất nhiều lần, chúng ta phải hiểu đạo lý này. Thiện không thể không tu, không thể không tích, tích thiện chắc chắn có quả báo tốt. Tốt rồi, hôm nay chúng ta giảng đến đây. TẬP 14 Chư vị đồng học, xin chào mọi người! Mời xem tiếp đoạn văn này, đây là trường hợp thứ tám:
203 Ở huyện Gia Hưng có người tên là Đồ Khang Hy, ban đầu giữ chức Chủ sự ở Hình bộ. Ban đêm ông trực ở trong ngục, thận trọng tra hỏi vụ án của từng tù nhân, nhờ vậy nên ông phát hiện ra rất nhiều vụ án oan, nhưng ông không nghĩ đó là công lao của mình, chỉ âm thầm đem những vụ án oan này tấu trình lên quan Hình bộ Thượng thư. Sau đó thẩm vấn lại những phạm nhân này, quan Hình bộ Thượng thư đã dựa vào lời khai mà ông cung cấp thẩm vấn lại những tù nhân này, nên ai cũng khâm phục, nhờ đó đã phóng thích cho mười mấy tù nhân bị hàm oan. Lúc ấy, dân chúng ở kinh thành đều ca tụng quan Thượng thư anh minh. Chúng ta xem đoạn này. “Gia Hưng” ở tỉnh Triết Giang, những ví dụ mà Liễu Phàm tiên sinh đưa ra, đại đa số đều là những câu chuyện tại khu vực Triết Giang. Do đây có thể biết, nguyên tắc đưa ra ví dụ nhất định phải ở khu vực gần nhất. Khi nghe nói đến mọi người đều biết, như vậy lòng tin mới mạnh. Còn về thời đại thì càng gần càng tốt. Đồ Khang Hy làm quan trong Hình bộ. “Chủ sự” là tên chức quan đương thời. Có một đêm ông ngủ ở trong ngục, ở cùng với các phạm nhân. Ông tỉ mỉ nghe ngóng tình trạng của những phạm nhân này, vì vậy biết được trong số phạm nhân có không ít người bị oan, bị người vu cáo. Đồ tiên sinh không cho đó là công lao của mình, ông đem những tình hình này bí mật viết vào giấy trình lên đường quan của ông, đường quan là cấp trên của ông, cũng chính là Hình bộ Thượng thư, Hình bộ Thượng thư tương đương với bộ trưởng hiện nay. “Sau đó thẩm vấn lại những phạm nhân này”, mấy ngày sau thẩm vấn lại những phạm nhân này, đường quan lấy những tình tiết mà Đồ Khang Hy cung cấp để thẩm vấn những phạm nhân này, phạm nhân không ai không phục, nhờ vậy đã giải oan cho khoảng mười mấy người. “Nhất thời” là lúc chuyện này được truyền đi.
204 “Liễn hạ”, liễn là xe Hoàng đế ngồi, liễn hạ tức là nói thủ đô, kinh thành, nơi Hoàng đế ở. “Lúc ấy dân chúng ở kinh thành đều ca tụng quan Thượng thư anh minh”. Mọi người không ai mà không khen ngợi sự công chánh liêm minh của quan Hình bộ Thượng thư. Đồ tiên sinh lại nghĩ đến một vấn đề, bên dưới nói: Đồ tiên sinh lại tấu trình lên Hình bộ Thượng thư rằng: “Kinh thành ở dưới chân thiên tử mà còn có nhiều vụ án oan như vậy, thì toàn quốc có hàng triệu dân lẽ nào không có người bị hàm oan ư. Vì vậy xin kiến nghị cứ năm năm một lần, nên cử một vị quan giảm hình về các tỉnh thẩm tra lại các vụ án để phán xử cho công bằng”. Đây là kiến nghị của ông, kiến nghị lên quan Thượng thư. Ông nói ở nơi kinh thành còn có nhiều người bị hàm oan đến thế, thì bên ngoài kinh thành, trên toàn quốc dân chúng rất nhiều, làm sao không có người bị hàm oan? Chắc chắn rất nhiều người bị hàm oan. “Nghi” là cần, cứ năm năm một lần phái một vị quan giảm hình đi điều tra lại những vụ án này để phán xử cho công bằng, đây là một việc tốt. Hình bộ Thượng thư đem lời kiến nghị này trình tấu lên triều đình. Cấp trên của ông, Hình bộ Thượng thư chấp nhận ý kiến đó, đem ý kiến này tấu lên Hoàng đế. Được Hoàng đế phê chuẩn. Hoàng đế bằng lòng. Lúc ấy, Đồ tiên sinh cũng được phái là một trong các quan giảm hình.
205 Đồ Khang Hy cũng được phái làm một trong các vị quan giảm hình. Việc này đã giải oan giúp cho rất nhiều người bị oan khuất. Một hôm ông nằm mộng thấy một vị thần đến nói rằng: “Số ông không có con, nay ông kiến nghị việc giảm hình rất hợp với lòng trời”. Đây là cảm ứng, bản thân có thể tu thiện tích đức, hợp với ý trời, thượng đế thương yêu tất cả chúng sanh, gọi là “trời có đức hiếu sinh”. Cách làm của ông, kiến nghị của ông rất tương ưng với ý trời. Số mệnh ông không có con trai, nay: Thượng đế ban cho ông ba người con trai. Ông không hề cầu con trai, không cầu con trai, nhưng ông được cảm ứng này. Tương lai đều làm quan mặc áo tía đai vàng, đêm ấy vợ ông có thai. Về sau, bà sanh ra ba người con trai là Ứng Huân, Ứng Khôn, Ứng Tuấn, đều được quan tước hiển vinh. Đây là thiện nhân thiện quả. “Áo tía đai vàng” nói trong đoạn này là nói mặc quan phục màu tím, thắt lưng bằng vàng, đây là quan lớn. Chúng ta biết lễ phục ngày xưa, hoàng tộc mặc long bào màu vàng, chỉ giới hạn trong hoàng tộc. Văn võ bá quan, trong quan văn “áo bào màu tím” là tước vị cao nhất. Đại khái là Thượng thư trở lên, Bộ trưởng trở lên thì quan phục mới là màu tím, đây là một trường hợp. Tiếp theo, trường hợp thứ chín là Bao Bằng, người này bỏ tiền của ra để tu sửa chùa chiền, cũng được cảm ứng. Huyện Gia Hưng có người tên Bao Bằng, tự là Tín Chi. Cha ông là Thái thú Trì Dương, sanh được bảy người con, Bao Bằng là con út. Ông ở rể nhà họ Viên ở huyện Bình Hồ, thường qua lại với cha tôi, giao tình rất thân. Ông học rộng tài cao, nhưng đi thi nhiều lần không đỗ, nên để tâm học Phật và Đạo giáo.
206 Chúng ta xem đoạn này. “Huyện Gia Hưng có người tên Bao Bằng”, ở đây đến tự của ông là Tín Chi cũng viết ra. Do đây có thể biết, Bao Bằng và Liễu Phàm tiên sinh khá thân. Phụ thân của Bao Bằng từng làm Thái thú Trì Châu. Thái thú cao hơn Tri huyện một bậc, cùng một cấp quan với Tri phủ. Trì Châu ở huyện Quý Trì, tỉnh An Huy. Ông sinh được 7 người con trai, Bao Bằng nhỏ nhất. Đại khái là ông nhiều con cái cho nên đứa con này ở rể trong nhà họ Viên tại Bình Hồ, là người một nhà với Viên Liễu Phàm, ở rể trong nhà họ. “Thường qua lại với cha tôi, có giao tình rất thân”, phụ thân của Liễu Phàm tiên sinh và Bao Bằng thường qua lại, họ là bạn bè tốt. Người này “học rộng tài cao”, nhưng “nhiều lần đi thi không đỗ”, mỗi lần đi thi đều không đỗ. Do đó “để tâm học Phật và Đạo giáo”, “nhị thị” là Phật giáo và Đạo giáo, ông đi học Phật, học Đạo. Một hôm ông dạo chơi ở phía đông Mão Hồ, bỗng gặp một ngôi chùa trong thôn, thấy tượng Quán Âm Bồ-tát bị nước mưa dột ướt hết như đứng ngoài trời. Ông lập tức tìm trong túi được 10 lạng bạc, trao cho vị thầy trụ trì để tu sửa mái chùa. Vị tăng nói công trình quá lớn mà khoản tiền này thì quá ít, e là không thể làm được. Bao Bằng lại lấy ra bốn xấp vải đặc biệt sản xuất ở Tùng Giang, lại tìm trong rương hành lý được 7 chiếc áo hai lớp vải đay mới, rồi đưa hết cho vị tăng, người hầu có ý ngăn lại. Bao Bằng nói: “Chỉ cần thánh tượng không bị ướt thì ta dù có ở trần cũng không sao”. Chúng ta xem đoạn này. Một hôm, ông ra ngoài đi du ngoạn, du ngoạn ở Mão Hồ, đột nhiên trong ngôi chùa của một thôn trang, thấy tượng Quán Âm Bồ-tát. Lúc đó trời mưa, phòng ốc trong chùa bị mưa dột, tượng Quán Âm Bồ-tát bị mưa ướt. Ông thấy vậy rất đau lòng, liền “lập tức tìm trong túi”, thác là túi tiền. Mở túi tiền ra xem, bên trong còn mười lạng bạc, “thập kim” chính là mười lạng bạc. Lấy ra hết, giao cho người xuất gia trong chùa, nhờ thầy tu sửa
207 lại phòng ốc để Bồ-tát không bị mưa dột ướt hết nữa. Vị xuất gia này nói với ông, công trình tu sửa nóc nhà này rất lớn, mười lạng bạc quá ít, sợ không thể hoàn thành. Ông dẫn theo người tùy tùng, đi du ngoạn thường mang theo hành lý mang theo vài bộ áo quần. Trong này có bốn xấp vải sản xuất ở Tùng Giang. Mở rương ra xem còn có bảy bộ áo quần, đây đều là áo quần mới chưa mặc. Bên trong còn có thêm vài thứ tương đối quý giá, “trữ triệp” là sợi đay, áo quần được làm bằng sợi đay. “Triệp” là áo hai lớp. Có áo một lớp, có áo hai lớp đều là đồ mới. Người tùy tùng của ông nói: Thôi, cần gì phải quyên nhiều như thế! Bao Bằng nói chỉ cần thánh tượng không bị ướt, có thể sửa được nóc nhà này, tượng Quán Âm Bồ-tát không bị mưa dột ướt, cho dù ta ở trần cũng không sao. Đây là một tấm lòng chân thành! Vị tăng cảm động rơi nước mắt nói: “Cúng dường tiền, vải và quần áo không khó, nhưng tấm lòng chí thành như thí chủ đây thật không dễ có”. Người xuất gia nghe ông nói như vậy, vô cùng cảm động! Ông nói bố thí tiền bạc và những bộ áo quần, vải vóc này, đây không phải việc khó, nhưng tấm lòng chân thành này thì thật hiếm có. Khi mái chùa tu sửa xong, ông đưa cha cùng đến chùa và ở lại trong chùa. Đêm đó ông mộng thấy thần Già Lam đến cảm tạ nói rằng: “Con ông sẽ được hưởng phước lộc ở đời. Về sau con ông là Bao Biện, cháu ông là Bao Sanh Phương đều thi đỗ tiến sĩ, quan tước vinh hiển”. Đợi đến khi mái chùa tu sửa xong, Bao Bằng đưa phụ thân ông cùng đi xem, buổi tối cũng ở trong ngôi chùa này. Tối đến Bao Bằng mộng thấy thần Già Lam, Già Lam là thần hộ pháp, thần hộ pháp đến cảm ơn ông. Thần nói, con cái ông sẽ được hưởng lộc ở đời, được phước báo. Quả nhiên về sau con trai ông là Biện, cháu là
208 Sanh Phương đều đăng đệ. Đăng đệ là nói thi đỗ học vị tiến sĩ, làm quan lớn, đây là quả báo con cháu quý hiển. Tu sửa đạo tràng tự viện và tạo tượng Phật có công đức rất lớn. Trong Đại Tạng Kinh, có một bộ kinh gọi là kinh Công Đức Tạo Tượng. Hiện nay, chúng ta thấy rất nhiều nơi tạo tượng Phật lớn, hiện tại Trung quốc đã hưng khởi, nước ngoài cũng vậy. Tôi ở Tân Thành, Malaysia, năm ngoái chùa Cực Lạc tạo một tôn tượng Quán Thế Âm Bồ-tát đứng, cao hơn 30 mét. Chúng ta muốn hỏi rốt cuộc tạo tượng có công đức không? Thấy trường hợp của Bao Bằng là biết, tạo tượng đích thực có công đức, nhưng công đức cần phải đầy đủ điều kiện. Nếu chỉ tạo hình tượng Phật, Bồ-tát, không hoằng pháp lợi sanh, thì người thông thường nhìn thấy tượng Phật dễ sanh ra mê tín. Vậy tạc bức tượng này chẳng những không có lợi ích, trái lại khiến rất nhiều chúng sanh tạo nghiệp, như vậy là sai rồi. Cho nên, hoằng pháp lợi sanh rất quan trọng! Một đạo tràng nhất định phải giảng kinh, nhất định phải tu hành; gọi là giải môn và hành môn, “giải hành tương ưng” mới quan trọng. Ở Trung Quốc, giải môn có rất nhiều tông phái, đạo tràng thuộc tông phái nào nhất định phải y theo kinh điển của tông phái đó để tu hành. Những kinh điển này phải đọc tụng, phải nghiên cứu, phải giảng giải thấu triệt và thực hành vào trong cuộc sống của mình, như vậy mới đầy đủ công đức. Ở trước đã nói với chư vị, tượng Phật có ý nghĩa biểu pháp. Nhà Phật dùng phương thức này để thời thời khắc khắc nhắc nhở chúng ta. Đa phần quần chúng thấy tượng Quán Âm Bồ-tát là biết mình phải phát tâm từ bi, phải từ bi giống như Quán Thế Âm Bồ-tát, giúp tất cả chúng sanh khổ nạn trong thế gian, vậy thì công đức của tôn tượng này rất lớn. Nếu không hiểu đạo lý này thì xem tượng Phật giống như thần minh, đến đó đốt hương lễ lạy, cầu phước, cầu tuệ, cầu con cái, cầu thăng quan phát tài, đó gọi là mê tín, đó là sai lầm. Tôi nói đến đây, các vị đồng tu chắc có thể thể hội được, trong xã hội hiện nay của chúng ta nên học Phật như
209 thế nào, như thế nào mới đạt được lợi ích chân thật của Phật pháp? Trong hành môn, mỗi tông phái cũng khác nhau, như Thiên thai họ tu chỉ quán. Trong Thiền tông họ tham thoại đầu, hoặc dùng quán tâm. Trong Mật tông dùng phương pháp trì chú. Tịnh độ tông của chúng ta dùng phương pháp trì danh niệm Phật. Chọn một môn rồi thì công phu không được gián đoạn, đều có thể đạt được tâm thanh tịnh, đều có thể thành tựu giới định tuệ. Đây là công đức lợi ích thật sự của đạo tràng. Xem tiếp trường hợp thứ mười: Huyện Gia Thiện có người tên Chi Lập. Đây cũng là người Gia Thiện, tỉnh Triết Giang, ông họ Chi, tên là Lập. Phụ thân ông. Giữ chức quản lý hồ sơ hình sự. Ông quản lý án kiện hình sự trong nha môn. Có tù nhân bị vu oan hãm hại phải chịu tội tử hình. Ông biết có một phạm nhân thật sự bị oan khuất, bị phán trọng hình, có thể là bị phán tử hình. Ông thấy vậy thương xót. Trong lòng ông biết rõ, rất thông cảm với phạm nhân. Muốn tìm cách cứu phạm nhân này. Ông muốn giúp phạm nhân thoát tội. Người phạm nhân này biết được ý tốt của phụ thân Chi Lập muốn biện hộ thay ông. Người tù nói với vợ rằng: “Chi tiên sinh có lòng tốt cứu giúp, ta thật hổ thẹn không biết lấy gì để báo đáp. Ngày mai nàng hãy mời ông ấy về quê, xin làm thiếp để hầu hạ, may ra ông ấy sẽ tận tâm giúp ta giải oan, vậy ta có thể giữ được mạng sống”.
210 Phạm nhân bàn bạc với vợ mình, ông nói Chi tiên sinh có ý giúp tôi thoát khỏi tội hình. Ông nói: Tôi rất hổ thẹn, không biết lấy gì để báo đáp, đây là ân cứu mạng. Ông nói ngày mai nàng có thể mời ông ấy về quê, có lẽ họ là người nông thôn. Rồi còn bàn với vợ, muốn vợ mình “xin làm thiếp để hầu hạ ông”. Ông nói: Có thể Chi tiên sinh càng dụng tâm hơn, như vậy tôi mới có thể thoát tội. Vợ của phạm nhân rơi lệ mà vâng lời. Người vợ này cũng vô cùng hiền lương, quả nhiên làm theo lời chồng. Hôm sau, Chi tiên sinh đến nhà, người vợ tự ra mời rượu và nói rõ ý của chồng, Chi tiên sinh không đồng ý, nhưng ông vẫn tận tâm giải oan cho người tù này. Vợ của phạm nhân này tự ra mời rượu, nói rõ ý của chồng mình với Chi tiên sinh, Chi tiên sinh nghe xong không đồng ý. Tuy không đồng ý nhưng vẫn toàn tâm toàn lực lật lại vụ án này. Sau đó phạm nhân ra ngục, vợ chồng cùng đến nhà ông lạy tạ nói: Người nhân đức như ngài thời nay thật hiếm có. Đây là một việc rất hiếm có, ông có thể làm được đại công vô tư, dùng tâm chân thành để lật lại vụ án oan. Khi vợ chồng người phạm nhân này đến lạy tạ, họ nói hiện tại ngài không có con trai, đã lớn tuổi nhưng vẫn chưa có con. Nay biết ngài chưa có con, tôi có một đứa con gái, xin cho được theo làm thiếp hầu hạ lo liệu việc nhà. Điều này cũng rất phù hợp lễ nghĩa. Ông nói tôi có một cô con gái, nó cũng đã lớn, tôi muốn đưa đến cho ông làm thiếp, hy vọng tương lai sanh cho ông vài người con. Điều này về lễ nghĩa có thể được.
211 Chi tiên sinh bèn mang lễ vật đến rước về, sau đó sinh ra Chi Lập. Chi tiên sinh đồng ý tiếp nhận, sau đó sanh ra Chi Lập. Đây là việc thiện mà phụ thân của Chi Lập đã làm. Hai mươi tuổi đã đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức thư ký trong Hàn lâm viện. Lập sinh ra Chi Cao, Chi Cao sinh ra Chi Lộc đều được tiến cử làm quan dạy học trong các trường châu huyện. Chi Lộc sinh ra Chi Đại Luân thi đỗ tiến sĩ. Con cháu đời sau dần dần phát đạt. Chi Lập “20 tuổi đã đỗ tiến sĩ”, là 20 tuổi đỗ tiến sĩ, quan làm đến chức “thư ký trong Hàn lâm viện”, quan thư ký của viện Hàn lâm. “Chi Lập sanh Cao”, đây là cháu của Chi tiên sinh. “Cao sinh Lộc”, đây là mấy đời sau, mấy đời này “đều được tiến cử làm quan dạy học trong các trường châu huyện”, học vị này ở trước có giải thích, đây là cống sanh. “Học bác” là quan dạy học trong trường châu, huyện. “Chi Lộc sanh ra Chi Đại Luân thi đỗ tiến sĩ”, là đỗ tiến sĩ. Họ đều có nhiều quả báo rất rõ ràng, nơi ở của những người này đại khái đều cách Gia Hưng, Triết Giang không xa. Do đây có thể biết, khi tiên sinh Liễu Phàm nêu ra những người này mọi người đều biết, đều rất quen thuộc, đủ để chứng minh “gia đình tích thiện, ắt thừa niềm vui”. Đoạn văn ở sau là tổng kết: Mười trường hợp kể trên, tuy việc làm của mỗi người đều khác nhau, nhưng giống nhau là đều làm việc thiện. Đều là làm việc thiện, sau khi chúng ta đọc xong suy nghĩ kỹ, đều là việc lợi ích người khác. Toàn tâm toàn ý lợi ích người khác, lợi ích xã hội, lợi ích quốc gia. Ngày nay, tâm lượng của chúng ta càng phải mở rộng hơn nữa, mỗi niệm phải nghĩ đến lợi ích của toàn thế giới. Chúng ta làm gì có bản lĩnh lớn như thế, có thể lợi ích toàn thế giới? Mặc dù là việc thiện nhỏ, chúng ta có một nguyện vọng, hy
212 vọng làm tấm gương tốt cho người trên toàn thế giới, đây chính là lợi ích thế giới. Việc bất luận là lớn hay nhỏ, chỉ xem bạn dụng tâm [như thế nào]. Cho nên ngạn ngữ thường nói: “Lượng lớn phước lớn”. Nếu tâm lượng chúng ta lớn, dù chút việc thiện nhỏ cũng trở thành vô lượng vô biên thiện đức. Nếu như tâm lượng nhỏ, dù làm nhiều việc thiện, phước báo cũng không lớn lắm. Do đây có thể biết, tâm chuyển cảnh giới là thật. Bên dưới tiên sinh Liễu Phàm tiến thêm bước nữa giáo huấn con trai mình, nói với con mình thiện là gì, điều này rất quan trọng! Cần phải có năng lực phân biệt. Mời xem nguyên văn: Nếu nói một cách tỉ mỉ thì thiện có chân thật - có giả dối, có ngay thẳng - có tà vạy, có âm thiện - có dương thiện, có đúng đắn - có sai lầm, có lệch lạc - có chánh đáng, có một phần - có viên mãn, có lớn lao - có nhỏ nhặt, có khó khăn - có dễ dàng. Nói một hơi về tám cặp đối lập. Những điều này đều phải phân biệt rõ ràng. Đều cần phải phân biệt, cần phải rõ ràng. Làm thiện mà không rõ lý, cứ nghĩ rằng mình đang làm thiện, đâu biết đó là đang tạo nghiệp ác, lao tâm nhọc trí mà không được chút lợi ích gì. Thế gian hiện nay có rất nhiều người đang tu thiện, người trong nhà Phật càng nhiều hơn. Học Phật nhiều năm, hành thiện nhiều năm mà không có quả báo tốt. Do đó hoài nghi Phật pháp không linh, quay lại học các pháp môn khác, học các Tôn giáo khác. Như vậy bạn có thể được quả báo tốt hay không? Chưa chắc, tại sao lại xảy ra tình huống này? Chính là đối với thiện rốt cuộc là chân thật hay giả dối, là lệch lạc hay chánh đáng, một phần hay viên mãn đều không biết, nhưng tự cho là thiện. Nhờ những người có trí tuệ đức
213 hạnh phân tích thì chúng ta mới biết được, hóa ra là tội nghiệp. Nếu chúng ta muốn tu thiện tích đức thì trước tiên phải hiểu rõ những điều này. Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu từng vấn đề. Bên dưới, đoạn thứ nhất là “chân thật và giả dối”. Thế nào gọi là chân thật và giả dối. Điều này cần phải phân biệt rõ. Ông đưa ra ví dụ rằng: Xưa có mấy vị Nho sinh. Nho sinh là người đọc sách. Đi bái kiến hòa thượng Trung Phong. Hòa thượng Trung Phong là người thời nhà Nguyên, là cao tăng một thời, ngài có rất nhiều trước tác. Chúng ta thành lập Tịnh tông Học hội, có khi cũng không tránh khỏi tùy thuận tập tục, làm pháp hội siêu độ. Nhưng chúng tôi siêu độ không giống với các tự viện khác, chúng tôi chỉ áp dụng một phương pháp. Đa