Phần còn lại của câu chuyện không thể đọc được vì bị một cái lồng chim bự chảng ngồi chình ình ngay trên mặt bài báo. Bên trong lồng là một con cú trắng như tuyết đẹp lộng lẫy. Đôi mắt màu hổ phách của con cú quan sát toàn bộ căn phòng một cách ta đây là chủ, đầu nó thỉnh thoảng xoay lại ngó chằm chằm cậu chủ của mình đang ngáy pho pho. Một hay hai lần nó mổ lách cách một cách sốt ruột, nhưng Harry ngủ say đến
nỗi chẳng hề nghe thấy. Nằm ngay giữa phòng là một cái rương to đùng. Nắp rương để mở, trông như thể chuẩn bị hành trang, thế nhưng cái rương hầu như vẫn còn trống rỗng, ngoại trừ mấy thứ còn sót lại tận dưới đáy rương như đồ lót, kẹo, lọ mực rỗng, viết lông ngỗng đã gãy. Gần đó, nằm tênh hênh trên sàn, một tờ bướm màu tím nổi bật những dòng chữ: ĐƯỢC BAN HÀNH NHÂN DANH BỘ PHÁP THUẬT BẢO VỆ NHÀ CỬA VÀ GIA ĐÌNH MÌNH CHỐNG LẠI LỰC LƯỢNG HẮC ÁM Cộng đồng Pháp thuật hiện nay đang bị đe dọa bởi một tổ chức tự gọi là Tử Thần Thực Tử. Tuân theo những hướng dẫn an ninh đơn giản sau đây sẽ giúp quý vị, gia đình quý vị, và nhà cửa quý vị khỏi bị tấn công. 1. Quý vị không nên rời khỏi nhà một mình. 2. Đặc biệt cẩn thận vào những thời khắc tối trời. Nơi nào khả dĩ thì nên tính toán sao cho những cuộc hành trình được hoàn tất trước khi trời tối. 3. Xem xét lại sự bố trí an ninh chung quanh ngôi nhà của quý vị, bảo đảm sao cho tất cả thành viên trong gia đình biết đến những biện pháp cao cấp như Bùa Khiên và Bùa Giải Hoang Tưởng, và đối với những thành viên nhỏ tuổi trong gia đình, cần biết tới Bùa Độn Thổ Ké. 4. Thống nhất với gia đình và bạn bè thân thích những câu hỏi an ninh để phát hiện Tử Thần Thực Tử giả dạng trà trộn bằng cách sử dụng Đa Quả Dược (xem trang 2). 5. Nếu quý vị cảm thấy một thành viên của gia đình, hay đồng nghiệp, bạn bè, hay hàng xóm, có hành vi lạ lùng, hãy tiếp xúc ngay tức thì với Đội Đặc Nhiệm Thi hành Luật Pháp thuật. Họ có thể đã bị khống chế bởi Lời Nguyền Độc Đoán (xem trang 4). 6. Nếu Dấu hiệu Hắc ám xuất hiện bên trên nơi quý vị cư trú hay tòa nhà khác, THÌ ĐỪNG VÀO, mà hãy liên lạc ngay tức thì với Sở
Thần Sáng. 7. Một số quan sát chưa được xác định cho rằng Tử Thần Thực Tử hiện giờ có thể sử dụng Âm binh (xem trang 10). Bất cứ sự nhìn thấy Âm binh nào, hay gặp phải việc tương tự, phải được báo cáo cho Bộ Pháp thuật NGAY LẬP TỨC. Harry làu bàu mớ ngủ và cái mặt của nó trượt khỏi mặt kính cửa sổ chừng ba phân hay cỡ đó, khiến cho cặp kính cận của nó càng nằm lệch thêm, nhưng nó vẫn không thức giấc. Một cái đồng hồ báo thức, được Harry sửa lại cách đây nhiều năm, kêu tích tắc om sòm trên ngưỡng cửa sổ, báo mười một giờ kém năm phút. Bên cạnh cái đồng hồ là một tấm giấy da đầy những chữ viết xiên xiên gầy gầy bị bàn tay thả lỏng của Harry đè yên tại chỗ. Từ khi lá thư được gởi đến cách đây ba ngày, Harry đã đọc đi đọc lại thường xuyên đến nỗi lá thư bây giờ nằm phẳng lỳ mặc dù nó vốn được cuộn tròn rất chặt. Harry mến, Nếu thuận tiện cho con, thầy sẽ đến thăm con ở ngôi nhà số 4 đường Privet Drive vào thứ sáu tuần này lúc mười một giờ đêm đề đưa con đến trang trại Hang Sóc, nơi con được mời ở lại chơi đến hết kỳ nghỉ hè. Nếu con đồng ý, thầy cũng sẽ vui mừng được con giúp đỡ về một vấn đề mà thầy hy vọng giải quyết trên đường đến Hang Sóc. Thầy sẽ giải thích đầy đủ hơn về điều này khi gặp con. Vui lòng gởi hồi âm theo bưu cú này. Hy vọng gặp con vào thứ sáu. Thầy đây, thân yêu nhất của con,
Albus Dumbledore Mặc dù đã thuộc nằm lòng lá thư, Harry vẫn cứ vài phút lại liếc chừng lá thư từ lúc mới bảy giờ chiều hôm đó, khi nó bắt đầu đóng đô ở vị trí cửa sổ phòng ngủ, chỗ mà từ đó có thể nhìn ra cả hai đầu đường Privet Drive. Nó biết dù có đọc đi đọc lại những lời của cụ Dumbledore thì cũng chẳng được tích sự gì; nó đã gởi ngay câu trả lời “vâng” cho con cú đưa thư theo như yêu cầu, và tất cả những gì mà nó có thể làm bây giờ là chờ đợi: cụ Dumbledore sắp đến, hoặc là cụ sẽ không đến. Nhưng Harry vẫn chưa chuẩn bị xong hành lý. Cái chuyện nó sắp được cứu vớt ra khỏi gia đình Dursley chỉ sau hai tuần lễ chung sống với họ sao mà có vẻ hay ho tới mức khó tin. Nó không thể nào rũ bỏ được cái cảm giác là có chuyện gì đó bất ổn sắp diễn ra… Biết đâu hồi âm của nó cho lá thư của cụ Dumbledore có thể thất lạc; cụ Dumbledore có thể bị trở ngại trong việc đi đón nó; lá thư biết đâu lại chẳng hóa ra là đồ bịp, một trò đùa, hay một cái bẫy, chứ không phải do cụ Dumbledore gởi đi. Harry đã không thể nào để tâm trí vô chuyện sắp xếp hành lý, rồi nó bỗng chán nản thất vọng và lại giở hành lý ra. Hành động duy nhất mà nó đã thực hiện để cho cuộc hành trình có thể xảy ra là nhốt con cú trắng như tuyết của nó, con Hedwig, vô trong lồng một cách an toàn. Cây kim phút của cái đồng hồ báo thức quay đến số mười hai và, đúng ngay boong lúc đó, ngọn đèn đường bên ngoài cửa sổ tắt phụt. Harry thức giấc như thể cái bóng tối thình thình ấy là còi báo thức. Vội vàng chỉnh lại cặp mắt kính và gỡ cái mặt mình
ra khỏi mặt kính cửa sổ, nó lại ịn mũi lên cửa sổ, liếc mắt xuống mặt đường. Một hình thù cao cao trong bộ áo khoác dài phất phới đang đi lên lối mòn trong vườn. Harry nhảy cẫng lên như thể nó vừa bị điện giựt, hất cái ghế ngã chổng kềnh, và bắt đầu quơ quào bất cứ thứ gì và tất cả mọi thứ trong tầm tay trên sàn phòng rồi quẳng hết vô cái rương. Đương khi nó đang với chụp một bộ áo chùng, hai cuốn sách Thần chú, và một gói bánh phồng ở đầu kia căn phòng, thì chuông cửa reo. Dưới nhà, trong phòng khách, dượng Vernon quát: “Ai cả gan kêu cửa vào đêm hôm như vầy hả?” Harry đứng lặng trang với cái kính thiên văn bằng đồng đang cầm trong tay này và một đôi giày thể thao trong tay kia. Nó đã hoàn toàn quên béng chuyện nên báo trước cho gia đình Dursley về cuộc thăm viếng có thể xảy ra của cụ Dumbledore. Vừa cảm thấy hoảng hốt vừa tức cười, nó trèo qua cái rương và vặn khóa mở cánh cửa phòng ngủ vừa vặn lúc nghe một giọng nói thâm trầm: “Chào ông. Ắt hẳn ông là ông Dursley. Tôi đồ rằng Harry đã nói với ông rằng tôi sẽ đến đón trò ấy?” Harry nhảy ào xuống cầu thang từng hai bậc một, nhưng còn cách chân cầu thang nhiều bậc thì nó chợt đứng khựng lại, bởi vì kinh nghiệm lâu dài đã dạy nó là cứ nên ở ngoài tầm tay của dượng nó khi nào có thể. Kìa đứng ở ngưỡng cửa chính là một người đàn ông gầy gò cao cao với mái tóc và bộ râu bạc phơ dài tới tận eo. Cặp mắt kính nửa vầng trăng trễ trên sống mũi khoằm, và cụ mặc một cái áo khoác đi đường dài màu
đen, đội một cái mũ chóp nhọn. Ông Vernon Dursley có một bộ ria cũng rậm rạp gần giống với bộ râu của thầy Dumbledore, chỉ có điều màu đen, và ông đang mặc một cái áo ngủ màu cánh gián. Ông trợn mắt ngó chòng chọc vị khách như thể không tin được đôi mắt ti hí của mình. “Đoán theo vẻ hoài nghi sửng sốt của ông, thì Harry đã không báo cho ông biết trước là tôi sẽ đến,” cụ Dumbledore dịu dàng nói. “Tuy nhiên, chúng ta cứ coi như ông đã thân tình mời tôi vô ngôi nhà của ông. Giữa thời buổi lộn xộn này, cù cưa quá lâu ở bậc thềm thì không khôn ngoan lắm.” Cụ nhanh nhẹn bước qua bậu cửa và đóng lại cánh cửa sau lưng. “Kể cũng khá lâu tính từ lần cuối cùng tôi đến thăm ông,” cụ Dumbledore nói, chăm chú ngó xuống dượng Vernon qua cánh mũi khoằm. “Tôi phải nói, tướng tá nghi phong của ông sung mãn thịnh vượng.” Ông Vernon Dursley không nói năng gì cả. Harry không nghi ngờ chút nào rằng cái lưỡi của ông sẽ hoạt động lại, và sớm thôi - vì nhịp đập của mạch máu nổi cộm trên thái dương của dượng đang gia tăng đến mức nguy hiểm - nhưng có một cái gì đó ở cụ Dumbledore nhất thời làm cho dượng ngạt thở. Có thể là do ngoại hình mang vẻ pháp sư rành rành, nhưng cũng có thể, do dượng Vernon cảm nhận được đây là một con người đừng có hòng ăn hiếp. “À, chào Harry,” cụ Dumbledore nói, ngước lên nhìn Harry qua cặp mắt kính nửa vầng trăng với một vẻ hài lòng. “Xuất sắc, xuất sắc.”
Những lời này dường như làm sôi máu dượng Vernon. Điều quá hiển nhiên đối với dượng là, bất cứ người nào có thể nhìn Harry mà nói “xuất sắc” thì dượng không bao giờ nhìn vào mắt người đó được. “Tôi không có ý thô lỗ…” Dượng bắt đầu nói, bằng một giọng hăm he sự thô bạo trong mỗi âm tiết. “Nhưng, buồn thay, sự thô bạo cứ ngẫu nhiên xảy ra với mật độ thường xuyên tới mức báo động,” cụ Dumbledore nghiêm trang hoàn tất câu nói. “Tốt nhất là đừng nói gì hết, thưa ông thân mến. À, đây ắt hẳn là bà Petunia.” Cửa nhà bếp vừa mở ra, và dì của Harry đứng đó, mang một đôi găng tay bằng cao su và một tấm khoác trong nhà choàng bên ngoài bộ đồ ngủ, hẳn nhiên là dì đang làm dở dang công việc dọn dẹp nhà bếp trước khi đi ngủ. Gương mặt dài ngoằng như mặt ngựa của dì không biểu hiện cái gì khác ngoài vẻ sửng sốt. “Tôi là Albus Dumbledore,” cụ Dumbledore nói, khi dượng Dursley không chủ động giới thiệu khách. “Dĩ nhiên, chúng ta có thư từ với nhau trước đây.” Harry nghĩ đây là một cách nhắc lại không hay lắm cho dì Petunia nhớ rằng có lần cụ đã gởi cho dì một Thư Sấm, nhưng dì Petunia không thừa nhận thuật ngữ đó. “Và đây ắt hẳn là con trai của bà, cậu Dudley?” Lúc đó Dudley đã thò đầu qua cửa phòng khách dáo dác nhìn ngó: cái đầu bự đội mái tóc vàng óng của nó nhô bên trên cái cổ áo có sọc của bộ đồ ngủ trông lặc lìa quái gở, mồm nó
ngoác ra vì kinh ngạc và khiếp sợ. Cụ Dumbledore chờ cho một hay hai giây, rõ ràng là để xem có ai trong gia đình Dursley muốn nói gì không, nhưng khi thấy ai cũng lặng như tờ, cụ mỉm cười. “Tôi có nên cho rằng quý vị sẽ mời tôi vô phòng khách không nhỉ?” Dudley lật đật tránh đường cho cụ Dumbledore bước qua. Harry, tay vẫn cầm cái kính thiên văn và đôi giày thể thao, nhảy xuống mấy bậc cầu thang cuối cùng để đi theo cụ Dumbledore. Cụ đã tự mình an tọa trong cái ghế bành gần lò sưởi nhất và đang thưởng thức cảnh trí chung quanh với một vẻ mặt thích thú nhân hậu. Trông cụ nổi bật trong quang cảnh ấy. “Thưa thầy… chúng ta sắp đi chưa ạ?” Harry lo lắng hỏi. “Ừ, thực ra chúng ta sắp đi rồi, nhưng có vài vấn đề cần bàn bạc trước,” cụ Dumbledore nói. “Và thầy muốn làm chuyện đó trong nhà hơn là ở nơi công cộng. Chúng ta nên tận dụng lòng hiếu khách của dì và dượng trò thêm một chút nữa.” “Ông sẽ làm thế thật à?” Dượng Vernon Dursley cũng đã trở vô phòng khách, dì Petunia bám sát sau vai chồng, và thập thò đằng sau cả hai là Dudley. “Vâng, tôi sẽ làm thế.” Cụ Dumbledore nói một cách đơn giản. Cụ rút cây đũa phép ra lẹ đến nỗi Harry hầu như không nhìn thấy; chỉ bằng một cái phẩy nhẹ bình thường, cái ghế xô pha vọt tới trước và
tông vô đầu gối từ phía dưới chân ba người nhà Dursley khiến cho họ té nhào lên đó thành một đống. Một cái phẩy nhẹ khác của cây đũa phép khiến cái ghế xô pha bay trở lại vị trí ban đầu. “Chúng ta thế là đều được thoải mái,” cụ Dumbledore nói một cách vui vẻ. Khi cụ cất cây đũa phép vô túi áo, Harry nhận thấy bàn tay của cụ bị nám đen và teo quắt lại; trông như thể cơ bắp của bàn tay đã bị thui cháy. “Thưa thầy… chuyện gì đã xảy ra với…” “Để sau đã, Harry,” cụ Dumbledore nói. “Con hãy ngồi xuống.” Harry ngồi xuống cái ghế bành còn lại, chọn thế làm sao cho khỏi phải nhìn thấy gia đình Dursley, họ có vẻ choáng váng trong im lặng. “Tôi cứ tưởng ông sẽ thết đãi tôi chút trà bánh,” cụ Dumbledore nói với dượng Vernon. “Dè đâu bằng chứng nãy giờ cho thấy cứ lạc quan quá đáng như vậy thì thành ra ngu.” Một cái phẩy thứ ba của cây đũa phép, và một cái chai bụi bặm cùng năm cái ly xuất hiện giữa cõi thinh không. Cái chai bật nút và rót vô mỗi ly một lượng hào phóng chất lỏng màu mật, rồi mỗi cái ly tự trôi đến tay mỗi người trong căn phòng. “Đây là món rượu mật ong rừng sồi ngon nhất của bà Rosemerta,” cụ Dumbledore nói, nâng ly với Harry. Nó đón lấy ly của mình và hớp một ngụm. Nó chưa từng nếm qua cái gì tương tự như vậy trước đây, nhưng cũng khoái vô cùng. Gia
đình Dursley, sau cái nhìn thật nhanh đầy khiếp đảm, đã cố tình phớt lờ hoàn toàn mấy cái ly phần họ, quả là một thành tích khó khăn, bởi vì mấy cái ly cứ huých huých nhè nhẹ bên đầu họ. Harry không thể nào nén được nỗi nghi ngờ rằng cụ Dumbledore đang tự giải trí cho mình. “Này, Harry,” cụ Dumbledore quay sang phía Harry và nói, “có một chuyện khó khăn phát sinh mà thầy hy vọng con có thể giải quyết cho chúng ta. Khi nói chúng ta, thầy muốn nói Hội Phượng Hoàng. Nhưng trước tiên thầy phải nói với con rằng di chúc của Sirius đã được tìm thấy cách đây một tuần và chú ấy để lại cho con tất cả những gì thuộc về chú ấy.” Cái đầu của dượng Vernon xoay phía trên cái ghế xô pha, nhưng Harry chẳng buồn nhìn ông ấy, cũng không thể nghĩ ra điều gì để nói ngoại trừ mấy tiếng “Ô, được thôi.” “Điều này, về cơ bản, khá minh bạch,” cụ Dumbledore tiếp tục. “Con tăng thêm một số lượng vàng đáng kể vào tài khoản của con trong ngân hàng Gringotts, và con thừa hưởng tất cả sở hữu cá nhân của chú Sirius. Phần hơi có vấn đề của di sản…” “Cha đỡ đầu của nó chết rồi hả?” Từ cái ghế xô pha, dượng Vernon nói to. Cả cụ Dumbledore lẫn Harry đều quay đầu lại nhìn ông ta. Cái ly rượu mật ong lúc này cứ thế mà khỏ vô chẩm đầu của dượng Vernon; ông ta thì cố gắng đánh đuổi nó đi. “Ổng chết rồi hả? Cha đỡ đầu của nó ấy?” “Ừ,” cụ Dumbledore nói. Cụ không hỏi tại sao Harry đã
không tâm sự gì về đời nó với gia đình Dursley. “Vấn đề của chúng ta là,” cụ tiếp tục nói với Harry, như thể đã không hề có sự gián đoạn nào. “Chú Sirius cũng để lại cho con cả căn nhà số mười hai Quảng trường Grimmauld.” “Ổng để lại một căn nhà hả?” Dượng Vernon nói với vẻ tham lam, hai con mắt nhỏ xíu của ông ta nheo lại ti hí, nhưng chẳng ai buồn trả lời ông ta cả. “Thầy có thể tiếp tục sử dụng nó làm Tổng Hành Dinh,” Harry nói. “Con không bận tâm. Thầy cứ lấy đi. Con thực sự không muốn lấy nó.” Harry không bao giờ muốn đặt chân vào số mười hai Quảng trường Grimmauld một lần nữa nếu nó có thể tránh được. Nó nghĩ nó sẽ bị ám ảnh mãi mãi bởi ký ức về chú Sirius vơ vẩn trong những căn phòng mốc meo tăm tối một mình, bị cầm tù trong cái nơi mà chú đã khao khát rời bỏ. “Thế là hào phóng,” cụ Dumbledore nói. “Tuy nhiên, tạm thời chúng ta bỏ trống tòa nhà.” “Tại sao?” “Chà…” Cụ Dumbledore nói, phớt lờ tiếng nói của dượng Vernon. Lúc này ông ta đang bị ly rượu mật kiên trì khỏ ngay đỉnh đầu để cưỡng ép một cách quyết liệt. “Truyền thống gia đình Black quy định rằng ngôi nhà phải được truyền lại theo trực hệ cho người nam tiếp theo trong dòng họ mang họ ‘Black’. Chú Sirius là người nam cuối cùng trong dòng chính thống này, bởi vì em trai của chú ấy, Regulus, đã chết trước chú ấy, và cả hai đều không có con.
Trong khi di chúc của chú Sirius nói một cách hoàn toàn rõ ràng rằng chú ấy muốn con thừa hưởng căn nhà, nhưng dù vậy có thể có một số thần chú hay bùa ểm đã được ếm lên tòa nhà ấy để bảo đảm là nó không thể bị sở hữu bởi bất cứ ai không thuần huyết thống.” Một hình ảnh sống động về bức chân dung treo trên tường của bà mẹ chú Sirius gào thét và nhổ nước miếng nháng lên trong đầu Harry. Nó nói. “Con cá có bùa là cái chắc.” “Khá nhiều,” cụ Dumbledore nói. “Và nếu có một thứ bùa ểm như thế thì quyền sở hữu căn nhà rất có thể được truyền lại cho người bà con vai vế cao nhất còn đang sống của chú Sirius, có nghĩa là cho người chị họ của chú ấy, bà Bellatrix Lestrange.” Harry đứng bật dậy mà không nhận thức điều mình đang làm; cái kính thiên văn và đôi giầy thể thao văng từ trên đùi nó qua tuốt bên kia sàn. Mụ Bellatrix Lestrange, kẻ đã giết chú Sirius, mà thừa kế căn nhà ư? “Không,” nó kêu lên. “Ừ, hiển nhiên là chúng ta cũng không muốn bà ấy thừa kế căn nhà. Tình huống đầy nguy hiểm và phức tạp. Chúng ta không biết liệu các thứ bùa ểm mà chính chúng ta đã ếm lên căn nhà, thí dụ bùa Bất Khả Định Vị, có còn hiệu lực nữa không một khi quyền sở hữu căn nhà không còn thuộc về chú Sirius nữa. Rất có thể Bellatrix sẽ về đến ngay ngưỡng cửa bất kỳ lúc nào. Đương nhiên chúng ta phải dời đi cho đến thời điểm mà chúng ta làm rõ được sở hữu của địa điểm đó.”
“Nhưng làm sao mà thầy biết được là liệu con có được phép sở hữu nó hay không?” “May mắn thay,” cụ Dumbledore nói, “có một phép kiểm tra đơn giản.” Cụ đặt cái ly rỗng của mình lên cái bàn nhỏ bên cạnh cái ghế, nhưng trước khi cụ có thể làm bất cứ điều gì, dượng Vernon đã gào lên: “Ông có dẹp dùm mấy thứ đồ chết tiệt này cho chúng tôi nhờ không?” Harry quay lại nhìn: tất cả ba người nhà Dursley đang dùng tay che đỡ bên trên đầu của mình, bởi vì mấy cái ly cứ khỏ tưng tưng xuống cái sọ dừa của họ, khiến cái thứ đựng bên trong ly văng tung tóe khắp nơi. “Ôi, tôi xin lỗi,” cụ Dumbledore nhã nhặn nói, rồi giơ cây đũa phép lên một lần nữa. Cả ba cái ly đều biến mất. “Nhưng quý vị cũng biết là có cách tốt hơn mà, ấy là cứ uống đi cho rồi.” Có vẻ như dượng Vernon sắp nổ tung ra với vô số phản đối khó chịu, nhưng ông ta chỉ thụp trở xuống đám gối nệm cùng với dì Petunia và Dudley mà không nói gì cả, hai con mắt heo ti hí cứ ngó chừng cây đũa phép của cụ Dumbledore. “Con thấy đó,” cụ Dumbledore nói, quay lại với Harry, và một lần nữa chuyện trò như thể dượng Vernon đã không hề chen ngang vô tiếng nào. “Nếu con thực sự thừa kế căn nhà thì con cũng được thừa kế…” Cụ Dumbledore phẩy cây đũa phép lần thứ năm. Một tiếng
“cách” lớn vang lên, và một gia tinh xuất hiện với một cái vòi thế chỗ cái mũi, hai cái tai dơi khổng lồ, và đôi mắt ngầu đỏ to thô lố, đang phủ phục trên tấm thảm dày của nhà Dursley, mình mẩy phủ toàn giẻ rách bẩn thỉu. Dì Petunia thốt ra một tiếng thét dựng tóc gáy, chưa bao giờ trong lịch sử từng có một vật bẩn thỉu như thế bước chân vô nhà dì. Dudley co đôi chân trần hồng hào béo tốt của nó lên khỏi sàn và cứ ngồi với hai chân giơ lên gần quá đầu, như thể nó tưởng cái sinh vật đó có thể chạy lên theo ống quần ngủ của nó. “Cái đồ quỷ gì vậy?” Dượng Vernon rống lên. “Kreacher,” cụ Dumbledore nói dứt câu. “Kreacher không, Kreacher không, Kreacher không.” Con gia tinh la ông ổng, tiếng gần to bằng tiếng của dượng Vernon, dẫm thình thịch hai chân cáu bẩn và kéo giật hai vành tai tổ chảng của nó. “Kreacher thuộc về cô Bellatrix, ừ, đúng, Kreacher thuộc về dòng họ Black, Kreacher muốn cô chủ mới, Kreacher không muốn theo thằng ranh con hỗn xược Potter, Kreacher không, không, không.” “Như con có thể thấy đó, Harry,” cụ Dumbledore nói to, át mấy tiếng không, không, không. “Kreacher đang cho thấy có một sự miễn cưỡng nhất định trong việc chuyển giao quyền sở hữu sang con.” “Con không quan tâm,” Harry nói một lần nữa, ghê tởm nhìn con gia tinh đang lăn lộn gào thét. “Con không muốn nó.” “Không, không, không, không…”
“Chẳng lẽ con lại muốn chuyển quyền sở hữu nó sang cho Bellatrix hơn à? Hãy nhớ rằng nó đã sống ở Tổng Hành Dinh của Hội Phượng Hoàng trong suốt năm qua.” “Không, không, không, không…” Harry nhìn chằm chằm cụ Dumbledore. Nó hiểu Kreacher không thể nào được phép ra đi và đến sống với Bellatrix Lestrange, nhưng cái ý nghĩ phải làm chủ Kreacher, phải chịu trách nhiệm về một sinh vật đã từng phản bội chú Sirius khiến nó thấy tởm lợm. “Hãy ra lệnh cho nó,” cụ Dumbledore nói. “Nếu nó đã được chuyển giao cho con làm chủ, thì nó sẽ phải vâng lời. Nếu không, lúc đó chúng ta sẽ phải nghĩ đến những biện pháp khác để cách ly nó với bà chủ hợp pháp của nó.” “Không, không, không, KHÔNG!” Giọng của Kreacher cất cao lên thành một tiếng rú. Harry không thể nghĩ ra cái gì để nói, ngoại trừ: “Kreacher, im mồm!” Trong một thoáng, có vẻ như Kreacher sắp tắt thở. Nó chụp lấy cổ họng, mồm nó vẫn còn láp váp một cách điên cuồng, hai con mắt nó lồi hẳn ra. Sau vài giây hớp hơi một cách điên cuồng, nó tự quăng mình nằm sấp trên tấm thảm (dì Petunia khóc thút thít) và đấm đá cái sàn bằng cả hai tay và hai chân, tự chuyển mình qua một cơn cuồng nộ dữ dội, nhưng hoàn toàn yên lặng. “Tốt, điều đó đơn giản hóa nhiều vấn đề,” cụ Dumbledore phấn khởi nói. “Dường như chú Sirius hiểu điều mà chú ấy
làm. Con là người thừa kế hợp pháp của số mười hai Quảng trường Grimmauld và của Kreacher.” “Con có phải… có phải giữ nó bên mình không?” Harry thất kinh hồn vía hỏi lại trong khi Kreacher quẫy đập quanh chân nó. “Không, nếu con không muốn,” cụ Dumbledore nói. “Nếu được, thầy đề nghị con nên gởi nó tới trường Hogwarts để làm việc trong nhà bếp của trường. Bằng cách đó, những gia tinh khác có thể trông chừng nó.” “Phải đó!” Harry reo lên nhẹ nhõm. “Phải đó, con sẽ làm như vậy. Ơ… Kreacher… ta muốn mi tới trường Hogwarts và làm việc trong nhà bếp của trường với những gia tinh khác.” Kreacher lúc này đã xoay ra nằm ngửa trên sàn, giơ cả hai chân hai tay lên không trung, ngó Harry ngược từ dưới lên trên bằng cái nhìn kinh tởm sâu sắc nhất, rồi cùng với một tiếng “cạch” lớn, nó biến mất. “Tốt,” cụ Dumbledore nói. “Cũng còn một vấn đề về con Bằng-Mã Buckbeak. Từ khi chú Sirius qua đời, bác Hagrid đã chăm sóc nó, nhưng Buckbeak bây giờ đã thuộc về con, cho nên nếu muốn thu xếp cách khác…” “Không,” Harry nói ngay. “Nó có thể ở lại với bác Hagrid. Con nghĩ Buckbeak thích như vậy hơn.” “Hagrid sẽ vui mừng lắm,” cụ Dumbledore nói. “Bác ấy rất xúc động khi gặp lại con Buckbeak. Nhân tiện, chúng ta đã quyết định, vì sự an toàn của Buckbeak, tạm thời sửa lại tên của nó là Witherwings, mặc dù thầy không tin rằng Bộ có thể
đoán ra nó chính là con Bằng-Mã mà họ đã từng kêu án tử hình. Thôi, Harry, hòm xiểng của con xong chưa?” “Dạ…” “Con nghi ngờ là thầy không đến sao?” Cụ Dumbledore nói một cách sắc sảo. “Con sẽ đi… và ơ… làm xong ngay,” Harry hấp tấp nói, vội vàng nhặt nhạnh lại cái kính thiên văn và đôi giày thể thao. Nó mất chừng hơn mười phút một tí để tìm ra những thứ mà nó cần; cuối cùng nó cũng loay hoay rút ra được cái Áo khoác Tàng hình từ dưới gầm giường, vặn lại cái nút hũ mực đổi màu, và ấn được cái nắp rương đóng đè xuống cái vạc cố nhét bên trong. Xong, một tay cố kéo cái rương, tay kia xách cái chuồng con Hedwig, nó đi trở xuống cầu thang. Nó thất vọng thấy cụ Dumbledore không chờ nó ở trong hành lang, có nghĩa là nó phải trở lại phòng khách. Chẳng ai nói năng gì cả. Cụ Dumbledore đang ngâm nga khe khẽ, hiển nhiên là thoải mái dễ chịu, nhưng không khí còn đặc hơn cả cái bánh trứng nguội lạnh, và Harry không dám nhìn gia đình Dursley khi nó nói: “Thưa thầy, con đã sẵn sàng rồi ạ.” “Tốt,” cụ Dumbledore nói. “Vậy thì chỉ còn một chuyện nữa thôi.” Và cụ quay qua nói chuyện với gia đình Dursley một lần nữa. “Chắc chắn là ông bà biết, Harry sẽ tới tuổi trưởng thành trong vòng một năm nữa.” “Không,” dì Petunia nói, lần đầu tiên kể từ khi cụ Dumbledore bước vô nhà.
“Cho phép tôi hỏi lại?” Cụ Dumbledore nói một cách lịch sự. “Không, nó chưa đủ tuổi trưởng thành. Nó nhỏ hơn Dudley một tháng, và tới năm sau của năm sau nữa Dudley mới đủ mười tám tuổi.” “A,” cụ Dumbledore vui vẻ nói. “Nhưng trong thế giới Pháp thuật, chúng tôi trưởng thành khi đủ mười bảy tuổi.” Dượng Vernon lẩm bẩm: “Lố bịch”, nhưng cụ Dumbledore phớt lờ ông ta. “Giờ đây, như ông bà biết, vị pháp sư tên Voldemort đã trở lại đất nước này. Cộng đồng Pháp thuật hiện đang lâm vào tình trạng chiến tranh công khai. Harry, người mà Chúa tể Voldemort đã cố gắng giết đi trong nhiều dịp, giờ đây ở trong tình cảnh còn nguy hiểm hơn cả cái ngày mà tôi bỏ nó nằm trên ngạch cửa nhà ông bà cách đây mười lăm năm, kèm một lá thư giải thích về việc cha mẹ nó bị ám sát và bày tỏ niềm hy vọng rằng ông bà sẽ chăm sóc nó như thể con cái mình.” Cụ Dumbledore ngừng lại, mặc dù giọng nói của cụ vẫn nhẹ nhàng bình tĩnh, và cụ chẳng tỏ dấu hiệu nào của sự giận dữ, Harry vẫn cảm thấy một cơn lạnh thấu gì đó phát ra từ cụ và nó nhận thấy gia đình kia co cụm sát vô nhau. “Ông bà đã không làm đúng như tôi yêu cầu. Ông bà chưa bao giờ đối xử với Harry như con cái. Nó chẳng nhận được gì từ tay ông bà, ngoại trừ sự bỏ bê và ác nghiệt. Điều tốt nhất còn kể ra được là ít ra thì nó cũng đã thoát được sự hư hỏng đáng sợ mà ông bà đã gây ra cho thằng bé bất hạnh đang ngồi giữa ông bà kia.”
Cả dì Petunia và dượng Vernon đều ngoái đầu nhìn ra sau theo bản năng, như thể trông mong nhìn thấy một ai đó khác Dudley đang ngồi ép vô giữa hai người. “Chúng tôi… chúng tôi mà đối xử tệ bạc với Dudders à? Ông muốn nói…” Dượng Vernon bắt đầu nói một cách giận dữ, nhưng cụ Dumbledore giơ ngón tay lên để giữ yên lặng, một sự yên lặng như thể cụ đã táng cho dượng Vernon một cái khờ luôn. “Pháp thuật mà tôi khơi lên cách đây mười lăm năm có ý nghĩa là Harry có được sự bảo vệ mạnh mẽ khi nó còn có thể gọi căn nhà này là ‘nhà’. Cho dù ở đây nó đã khốn khổ thế nào đi nữa, cho dù nó bị ghẻ lạnh thế nào đi nữa, cho dù nó bị đối xử tàn tệ thế nào đi nữa, ông bà đã cho nó một mái nhà, dù một cách bất đắc dĩ. Pháp thuật này sẽ hết hiệu lực khi Harry đủ mười bảy tuổi; hay nói cách khác, khi nó trở thành một người đàn ông. Tôi chỉ yêu cầu điều này: rằng ông bà hãy cho phép Harry trở về căn nhà này một lần nữa, trước sinh nhật thứ mười bảy của nó, điều này sẽ bảo đảm rằng nó còn tiếp tục có được sự bảo vệ cho tới lúc đó.” Chẳng người nào trong gia đình Dursley nói lời nào. Dudley hơi cau mày, mặc dù nó vẫn còn đang cố gắng suy ra xem nó đã từng bị đối xử tệ bạc hồi nào. Dượng Vernon thì trông như thể bị cái gì đó vướng mắc trong cổ họng; tuy nhiên, dì Petunia thì lại xúc động một cách kỳ cục. “Thôi, Harry… đã tới lúc chúng ta lên đường.” Cuối cùng cụ Dumbledore lên tiếng. Cụ đứng lên và kéo cho ngay lại tấm áo khoác dài màu đen.
“Hẹn đến lúc chúng ta gặp lại,” cụ nói với gia đình Dursley, mấy người này tỏ vẻ như thể thời khắc đó có thể mãi mãi không bao giờ tới. Và sau khi đội mũ, cụ lướt đi ra khỏi phòng. “Chào,” Harry vội vã nói với gia đình Dursley, rồi bước theo cụ Dumbledore. Cụ đứng cạnh cái rương của Harry, bên trên rương đặt cái chuồng của con Hedwig. “Lúc này chúng ta không muốn bị vướng víu những thứ này,” cụ nói, lại rút cây đũa phép ra một lần nữa. “Thầy sẽ gởi chúng tới Hang Sóc đợi chúng ta ở đó. Tuy nhiên, thầy muốn con mang theo bên mình Áo khoác Tàng hình… phòng khi cần đến.” Harry rút tấm áo khoác của nó ra khỏi cái rương một cách khó khăn, cố gắng không bày ra cho cụ Dumbledore thấy cái đống hằm bà lằng hổ lốn bên trong cái rương. Khi nó đã nhét tấm áo vô một cái túi bên trong áo gió, cụ Dumbledore vẫy cây đũa phép, và cái rương, cái chuồng, cùng con Hedwig đều biến mất. Cụ Dumbledore lại vẫy cây đũa phép một lần nữa, và cánh cửa trước mở ra một bóng tối mù sương mát lạnh. “Và bây giờ, Harry à, chúng ta hãy ra đi, bước vào đêm và đuổi theo cô ả phù phiếm - cuộc phiêu lưu.”
B 04 HORGACE SLUGHORN ất chấp cái chuyện Harry đã dành hết từng giây phút không ngủ trong mấy ngày qua hy vọng một cách tha thiết rằng cụ Dumbledore sẽ đến đón mình đi thực sự, nó vẫn cảm thấy lúng túng lộ liễu khi hai thầy trò cùng đi ra tới đường Privet Drive. Trước giờ nó chưa từng trải qua một cuộc chuyện trò thực sự nào với thầy hiệu trưởng ở bên ngoài khuôn viên trường Hogwarts; giữa hai người luôn luôn có một cái bàn làm việc. Ký ức về cuộc gặp gỡ mặt-đối-mặt vừa qua giữa hai người lại cứ hay trỗi dậy, và chuyện đó càng làm Harry bối rối thêm; nó đã la thét hơi nhiều trong dịp đó, ấy là không kể nó đã thi thố hết tài năng để làm tan tành nhiều món đồ đạc được cụ Dumbledore tưng tiu nhất. Tuy nhiên, cụ Dumbledore có vẻ hoàn toàn thư thái. Cụ rạng rỡ nói: “Thủ sẵn cây đũa phép của trò nhé, Harry.” “Nhưng thưa thầy, con tưởng con không được phép sử dụng pháp thuật bên ngoài trường học chớ?”
“Nếu có một cuộc tấn công” cụ Dumbledore nói, “thầy cho phép con sử dụng bất cứ phép kháng-bùa hay lời nguyền nào mà con biết xài. Tuy nhiên, thầy không nghĩ rằng con cần phải lo lắng về chuyện bị tấn công vào tối nay.” “Thưa thầy, tại sao không ạ?” “Con đang ở bên thầy,” cụ Dumbledore nói một cách đơn giản. “Điều này đủ bảo đảm an toàn, Harry à.” Cụ đột ngột dừng chân giữa đường Privet Drive. “Dĩ nhiên là con chưa trải qua kỳ Sát hạch Độn thổ, đúng không?” Cụ hỏi. “Dạ chưa,” Harry đáp. “Con tưởng phải đủ mười bảy tuổi mới được thi.” “Đúng vậy,” cụ Dumbledore nói. “Vậy là con phải bám vô cánh tay thầy thật chặt. Tay trái, nếu không phiền… như con đã nhận thấy đó, tay cầm cây đũa phép của thầy lúc này hơi yếu.” Harry bám chặt cánh tay cụ Dumbledore đưa ra. Cụ bảo: “Tốt lắm. Nào, chúng ta đi.” Harry cảm thấy cánh tay cụ Dumbledore xoắn tuột khỏi bàn tay nó. Nó bèn bám chặt hơn nữa. Việc tiếp theo mà nó nhận ra là mọi thứ bỗng đen hù; nó bị ép rất mạnh từ mọi hướng; nó không thể thở nổi, có những đai sắt chằng quanh ngực nó; tròng mắt nó bị đẩy ngược vô tuốt bên trong đầu, màng tai nó bị đẩy sâu hơn vô trong sọ và rồi… Nó há họng hớp đầy phổi làn khí lạnh ban đêm và mở to
đôi mắt đang trào nước. Nó cảm thấy như thể vừa mới bị nhét qua một cái ống cao su rất chặt. Nó mất vài giây định thần mới nhận ra con đường Privet Drive đã biến mất. Nó và cụ Dumbledore lúc này đang đứng ở một nơi có vẻ như một sân làng hoang phế, ở giữa sân có một tượng đài kỷ niệm chiến tranh và vài băng ghế dài. Khi đầu óc đã bắt kịp cảm xúc, Harry hiểu ra nó vừa mới được độn thổ lần đầu tiên trong đời. “Con có sao không?” Cụ Dumbledore ngó xuống nó lo lắng hỏi. “Cảm giác đó rồi sẽ quen đi.” “Con không sao.” Harry nói, chà xát hai lỗ tai, có vẻ như hai lỗ tai nó hơi bất đắc dĩ phải rời bỏ con đường Privet Drive. “Nhưng con thấy khoái chổi bay hơn…” Cụ Dumbledore mỉm cười, kéo tấm áo khoác lữ hành lên sát quanh cổ hơn một chút, và nói: “Đi lối này.” Cụ bước đi rất nhanh, băng qua một cái quán trọ trống không và vài căn nhà. Theo như cái đồng hồ trên tháp một nhà thờ kế đó thì đã gần nửa đêm. Cụ Dumbledore nói: “Nào Harry, nói cho thầy nghe, cái thẹo của con… dạo này còn đau không?” Harry đưa một bàn tay lên trán một cách vô thức và xoa xoa cái dấu hình tia chớp. Nó nói: “Dạ không. Và con đang thắc mắc về việc đó. Con tưởng nó sẽ phải rát hơn bao giờ hết chớ, vì bây giờ Voldemort đã có lại quyền lực rồi.” Nó ngước nhìn lên cụ Dumbledore và thấy vẻ hài lòng trên
mặt cụ. Cụ Dumbledore nói: “Nhưng thầy thì nghĩ ngược lại. Chúa tể Voldemort cuối cùng đã nhận ra rằng lâu nay con hơi khoái việc tiếp cận nguy hiểm vào suy nghĩ và tình cảm của hắn. Có vẻ như bây giờ hắn đang xài bùa Bế Quan chống lại con.” “Thế cũng được. Con cũng chẳng phiền,” Harry nói. Nó chẳng tiếc nhớ gì cả những giấc chiêm bao đầy xáo động lẫn những phát nháng đến sững sờ rọi vô bên trong đầu óc Voldemort. Hai người quẹo qua một góc đường, đi ngang qua một trạm điện thoại công cộng và một trạm chờ xe buýt. Harry lại nhìn ngang cụ Dumbledore một lần nữa. “Thưa thầy…” “Gì hở Harry?” “Ơ… Chúng ta đang ở đâu đây?” “Harry à, đây là làng Budleigh Babberton xinh đẹp.” “Chúng ta sẽ làm gì ở đây ạ?” “À phải, đương nhiên rồi, thầy chưa nói với con,” cụ Dumbledore đáp. “Chà, thầy đã đếm hết nổi số lần thầy đã nói điều này trong những năm gần đây, nhưng một lần nữa thầy lại phải nói rằng chúng ta thiếu một thành viên trong giáo ban. Chúng ta đến đây để thuyết phục một đồng nghiệp cũ của thầy đừng nghỉ hưu nữa để trở về dạy ở trường Hogwarts.” “Thưa thầy, con giúp được gì trong chuyện này ạ?” “À, thầy nghĩ sẽ kiếm được chỗ để xài tới con,” cụ
Dumbledore nói một cách mơ hồ. “Quẹo trái, Harry.” Hai người đi lên một con đường hẹp rất dốc, hai bên nhà cửa san sát. Tất cả cửa sổ đều tối thui. Trận lạnh giá kỳ quái đã tan từ hai tuần trước ở đường Privet Drive, nhưng vẫn còn dai dẳng ở đây. Nghĩ đến bọn giám ngục, Harry ngoái lại đằng sau liếc mắt nhìn, nắm chặt lấy cây đũa phép trong túi áo. “Thưa thầy, tại sao chúng ta không độn thổ thẳng vô nhà đồng nghiệp của thầy cho gọn?” “Bởi vì như vậy thì bất lịch sự không kém gì đá tông vô cửa nhà người ta,” cụ Dumbledore nói. “Phép lịch sự đòi hỏi chúng ta phải chừa lại cho các pháp sư cơ hội chối từ đón tiếp chúng ta. Vả lại, hầu hết nhà cửa của dân Pháp thuật đều được bảo vệ bằng bùa chú chống lại những cuộc đột nhập bằng độn thổ. Chẳng hạn ở trường Hogwarts…” “Không ai có thể độn thổ ở bất cứ đâu bên trong lâu đài hay ngoài sân vườn. Hermione Granger có nói với con như vậy,” Harry nhanh nhẩu nói. “Và trò ấy hoàn toàn đúng. Chúng ta quẹo trái một lần nữa.” Đằng sau hai thầy trò, chuông đồng hồ nhà thờ điểm nửa đêm. Harry thắc mắc tại sao cụ Dumbledore không coi việc đến thăm đồng nghiệp cũ vào đêm hôm khuya khoắt như vầy cũng là bất lịch sự, nhưng giờ đây hai thầy trò đã trò chuyện thoải mái rồi, Harry có nhiều câu hỏi cấp bách hơn để mà hỏi. “Thưa thầy, con coi trên Nhật báo Tiên Tri ông Fudge đã bị mất chức…”
“Đúng,” cụ Dumbledore đáp. Lúc này cụ đang đi ngược lên phía dốc đứng của con đường. “Thầy chắc là con cũng có đọc thấy rằng ông ấy đã bị ông Rufus Scrimgeour thay thế. Ông này vốn là Giám đốc Sở Thần Sáng.” “Ông ấy… Thầy có nghĩ là ông ấy tốt không?” Harry hỏi. “Một câu hỏi thú vị,” cụ Dumbledore nói. “Chắc chắn là ông ấy có khả năng. Một tính cách mạnh mẽ cả quyết hơn ông Cornelius.” “Dạ, nhưng ý con…” “Thầy hiểu ý con. Rufus là một người hành động, và vì đã từng chiến đấu chống các phù thủy Hắc ám gần như suốt cả đời công tác, nên không đánh giá thấp Chúa tể Voldemort.” Harry chờ đợi, nhưng cụ Dumbledore chẳng nói gì tới chuyện cụ bất đồng với ông Scrimgeour mà tờ Nhật báo Tiên Tri đã tường thuật, và nó cũng chẳng dám theo đuổi chủ đề đó, cho nên nó đổi đề tài: “Và… thưa thầy… Con có đọc thấy tin về bà Bones.” “Ừ,” cụ Dumbledore khẽ nói. “Một mất mát kinh khủng. Bà ấy là một phù thủy vĩ đại. Thầy nghĩ, ngay ở đây thôi… Ối.” Cụ đã chỉ hướng bằng bàn tay bị thương. “Thưa thầy, chuyện gì đã xảy ra với bàn tay của…” “Bây giờ thầy không có đủ thì giờ để giải thích cho con,” cụ Dumbledore nói. “Đó là cả một câu chuyện gay cấn mà thầy muốn dành cho nó lượng thời gian xứng đáng hơn.”
Cụ mỉm cười với Harry. Nó hiểu rằng cụ không muốn làm cho nó cụt hứng, và rằng nó được phép tiếp tục hỏi. “Thưa thầy… Con nhận được bằng bưu cú một tờ bướm của Bộ Pháp thuật, về những biện pháp an ninh mà tất cả chúng ta cần thực hiện để chống lại bọn Tử Thần Thực Tử…” “Ừ, chính thầy cũng nhận được một bản,” cụ Dumbledore nói, vẫn mỉm cười. “Con thấy tờ đó có ích gì không?” “Không ích gì mấy ạ.” “Thầy cũng nghĩ là không. Nãy giờ con đã không hỏi thầy, thí dụ, mùi mứt nào thầy thích nhất, để kiểm tra coi thầy có đúng thật là giáo sư Dumbledore chứ không phải một kẻ giả danh đội lốt không.” “Con không…” Harry chỉ mới mở miệng, không hoàn toàn chắc là liệu có phải thầy đang rầy nó hay không. “Để dùng trong tương lai, Harry à, con nên biết đó là mùi mứt dâu đỏ… Mặc dù, dĩ nhiên, nếu thầy là một Tử Thần Thực Tử thì thầy ắt sẽ phải nghiên cứu sở thích mùi mứt của chính thầy trước khi hóa thân thành chính thầy.” “Ơ… Đúng vậy,” Harry nói. “À, trong tờ bướm có nói cái gì đó về Âm binh. Chính xác là gì vậy thầy? Tờ bướm nói không rõ lắm.” “Chúng là những xác chết,” cụ Dumbledore bình tĩnh nói. “Những xác chết đó đã bị phù phép để làm theo lệnh của một phù thủy Hắc ám. Tuy nhiên, lâu lắm rồi chẳng ai nhìn thấy Âm binh đâu cả, kể từ khi Voldemort đầy quyền lực lần cuối… Hắn đã giết đủ người để thành lập cả một quân đội xác chết,
tất nhiên. Chỗ này đây, Harry, ngay đây…” Hai thầy trò đang ở gần một ngôi nhà nhỏ xây bằng đá xinh xắn giữa một khu vườn riêng. Harry còn đang bận tiêu hóa cái khái niệm khủng khiếp về bọn Âm binh nên chẳng còn tâm trí đâu để ý đến cái gì khác, nhưng khi hai người đi tới gần cổng trước, cụ Dumbledore chợt đứng khựng lại khiến Harry đâm sầm vào cụ. “Ối, ôi thôi, ôi ôi…” Harry hướng mắt theo cái nhìn chăm chú của cụ Dumbledore vào lối đi nhỏ được chăm chút kỹ lưỡng phía trước nhà và cảm thấy trái tim nó chùng xuống. Cửa chính ngôi nhà đã bị bung khỏi bản lề. Cụ Dumbledore liếc nhìn từ đầu đường đến cuối đường. Con đường hoàn toàn vắng ngắt. Cụ khẽ nói: “Rút đũa phép ra và đi theo thầy, Harry.” Cụ mở cánh cổng và bước vừa nhanh vừa lặng lẽ trên lối đi nhỏ băng qua khu vườn, Harry bám sát gót thầy. Rồi cụ Dumbledore chầm chậm đẩy cánh cửa chính, cây đũa phép của cụ giơ cao và sẵn sàng: “Tỏa sáng.” Đầu cây đũa phép của cụ Dumbledore bùng lên ngọn lửa, soi ánh sáng của nó lên một hành lang hẹp. Một cánh cửa khác ở ngay bên trái để mở. Giơ cao cây đũa phép có đốm lửa, cụ Dumbledore đi vô phòng khách với Harry bám sát sau lưng. Mắt họ thấy một cảnh tan hoang hoàn toàn. Một cái đồng hồ cổ bể tanh banh nằm ngay dưới chân hai thầy trò, mặt đồng
hồ rạn nứt, còn quả lắc bị văng ra hơi xa giống như một thanh kiếm rớt. Bên cạnh đó là một cây đàn dương cầm, phím của nó cũng văng ra sàn nhà. Mảnh vỡ của cây đèn chùm bị rớt nằm lấp lánh gần đó. Mấy cái gối nằm bẹp dí, lông nhồi gối phòi ra từ vết rạch; mảnh vụn của đồ sứ và thủy tinh bị nát như bột phủ lên mọi thứ. Cụ Dumbledore giơ cây đũa phép cao hơn nữa, để ánh sáng của nó rọi lên những bức tường, nơi có cái gì đó màu đỏ sậm và nhơn nhớt được trét trên giấy dán tường. Harry hít vô một hơi ngắn khiến cụ Dumbledore quay nhìn lại. Cụ nói một cách nặng nhọc: “Không đẹp lắm, hả?” Cụ di chuyển cẩn thận vô giữa phòng, chăm chú xem xét những mảnh vụn dưới chân. Harry đi theo, dáo dác nhìn quanh, có phần sợ sệt nhỡ đâu bắt gặp cái gì đó ẩn náu đằng sau đống tan nát của cây đàn dương cầm hay cái ghế xô pha bị lật úp, nhưng chẳng có dấu vết của ai cả. “Thưa thầy, có lẽ đã có một trận quyết đấu và… và chúng đã lôi xác ông ấy đi.” Harry đưa ra giả thuyết, cố gắng không tưởng tượng rằng người đó ắt là bị thương nặng lắm mới để lại những vết máu văng tung tóe lên lưng chừng những bức tường. “Thầy không nghĩ vậy,” cụ Dumbledore nói khẽ, chăm chú nhìn phía sau của một cái ghế bành nhồi quá căng nằm lăn một bên. “Thầy muốn nói là ông ấy…” “Vẫn còn ở đâu đây. Đúng vậy.”
Và không hề báo trước, cụ Dumbledore thụp xuống, thọc cây đũa phép vào chỗ ngồi của cái ghế bành nhồi quá căng ấy. Cái ghế bèn kêu ré lên: “Ối!” “Chào anh, Horace,” cụ Dumbledore nói. Cụ đứng thẳng trở lại. Harry há hốc miệng. Ở chỗ trước đó nửa giây vốn là cái ghế bành thì giờ đây lại ngồi thu lu một ông già đầu hói cực kỳ mập mạp. Ông ta đang xoa xoa bụng và liếc xéo lên cụ Dumbledore bằng đôi mắt buồn phiền ươn ướt. “Đâu có cần phải thọc cây đũa phép mạnh dữ vậy. Đau chết đi.” Ánh sáng của cây đũa phép soi lấp lánh cái sọ bóng lưỡng và đôi mắt lồi, bộ ria hải mã vĩ đại, và bộ nút được đánh bóng ngời ngời của tấm áo khoác nhung mà ông ta mặc bên ngoài bộ đồ ngủ màu tím hồng. Đỉnh đầu ông chưa nhóng tới cằm cụ Dumbledore. “Cái gì làm lộ vậy ta?” Ông càu nhàu khi lảo đảo đứng lên, vẫn xoa xoa cái bụng phệ. Bị phát hiện ra đang giả dạng một cái ghế bành như vậy mà ông vẫn chẳng hề nao núng thì quả là đáng nể. “Anh Horace thân mến của tôi ơi,” cụ Dumbledore nói, có vẻ vui thích. “Nếu bọn Tử Thần Thực Tử thực sự đến tìm anh, thì phía trên mái nhà phải xuất hiện Dấu hiệu Hắc ám chớ.” Vị phù thủy vỗ một bàn tay múp míp lên cái trán rộng. “Dấu hiệu Hắc ám,” ông lẩm bẩm. “Đã biết là có cái gì
đó… ờ, đúng vậy. Đằng nào thì cũng không có thì giờ, tôi chỉ mới bày biện xong đám đồ đạc khi anh bước vô phòng.” Ông ta thở khì ra một cái thiệt to khiến cho bộ ria run nhè nhẹ. “Anh có cần tôi dọn dẹp giúp một tay không?” Cụ Dumbledore lịch thiệp đề nghị. “Vâng, làm ơn,” ông ta đáp. Hai người đứng đấu lưng lại với nhau, một pháp sư gầy cao lêu nghêu và một pháp sư tròn quay lùn xủn, và cả hai cùng vẫy cây đũa phép của mình trong cùng một động tác quét y hệt nhau. Bàn ghế bèn bay vèo vèo trở lại vị trí ban đầu của chúng. Chùm đèn trang trí lại treo lơ lửng trên không, lông nhồi gối chui hết trở vô gối, sách rách te tua tự lành lại khi bay lên kệ, đèn dầu bay vút lên mặt bàn nhỏ và thắp sáng trở lại. Một đám khổng lồ những cái khung tranh bằng bạc bay vi vút ngang qua căn phòng và đáp xuống trên cái bàn làm việc, nguyên vẹn và không chút tì vết. Khắp nơi, những vết xước, vết nứt, những lỗ hổng đều tự bít lại, và những bức tường tự lau chùi sạch sẽ. “Nhân tiện xin hỏi, đó là loại máu gì vậy?” Cụ Dumbledore hỏi to để át tiếng gõ boong boong của cái đồng hồ cổ vừa mới hết bể. “Trên tường hả? Rồng,” vị phù thủy tên là Horace hét lên, trong tiếng nghiến ken két và kêu leng keng của chùm đèn treo đang tự rút mình treo lên trần phòng.
Một tiếng tưng cuối cùng vang ra từ cây đàn dương cầm, rồi im ắng. “Ừ, rồng,” vị phù thủy lặp lại trong cơn hứng chuyện trò. “Chai cuối cùng của tôi, và giá cả lúc này thì cao tận trời. Dù vậy, có thể dùng lại được.” Ông chồm tới vớ một cái chai thủy tinh nhỏ để trên đầu tủ ly chén và giơ nó ra phía ánh sáng xem xét cái chất lỏng đậm đặc bên trong chai. “Hừm, hơi dơ.” Ông đặt cái chai trở lại đầu tủ và thở dài. Chính lúc đó cái nhìn chăm chú của ông rớt xuống Harry. “Ố ồ,” ông nói, con mắt tròn to của ông lượn lờ trên vầng trán của Harry và cái thẹo hình tia chớp của nó. “À há!” “Đây,” cụ Dumbledore nói, di chuyển tới trước để giới thiệu. “Đây là Harry Potter. Harry, đây là một người bạn và đồng nghiệp cũ của thầy, thầy Horace Slughorn.” Slughorn quay sang cụ Dumbledore, mặt ông nhăn lại. “Thế ra đây là cách anh tưởng sẽ thuyết phục được tôi à? Chà, câu trả lời là không, anh Albus à.” Ông đẩy Harry qua một bên, ngoảnh mặt đi một cách cương quyết với cái vẻ của một người đang cố gắng kháng cự lại một ham muốn. “Thì ít nhất chúng ta cũng có thể làm một ly. Để ôn kỷ niệm xa xưa,” cụ Dumbledore nói.
Ông Slughorn ngập ngừng. “Thôi được, một ly vậy,” ông nói một cách miễn cưỡng. Cụ Dumbledore mỉm cười với Harry và dẫn nó đến một cái ghế, không giống cái mà ông Slughorn đã giả dạng, đặt ngay bên cạnh cái lò sưởi vừa được đốt lên và ngọn đèn dầu tỏa ánh sáng rực rỡ. Harry ngồi xuống ghế với một cảm tưởng rõ rệt rằng cụ Dumbledore, vì lý do nào đó, muốn cho người ta phải luôn thấy nó rõ. Rõ ràng là ông Slughorn, lúc ấy đang bận bịu với bình cổ cong và ly pha lê, khi quay mặt lại căn phòng một lần nữa, thì ngay lập tức ánh mắt rớt trúng phải Harry. “Hừm,” ông nói, nhìn thiệt lẹ sang hướng khác như thể sợ làm đau mắt mình. “Đây…” Ông đưa ly rượu cho cụ Dumbledore, cụ đã ngồi xuống mà không cần mời mọc, đoạn ông đẩy cái khay về phía Harry, rồi ngồi lọt thỏm vô đống gối trên cái ghế xô pha đã được sửa sang, và rồi một sự im lặng khó chịu lan ra. Chân của ông ngắn quá nên không chạm tới sàn. “Sao, dạo này sức khỏe ra sao, anh Horace?” “Không khá lắm,” ông Horace đáp ngay. “Phổi yếu. Khò khè. Thấp khớp nữa. Không thể đi đứng như trước đây. Ôi, tất phải vậy thôi. Già rồi. Mệt mỏi.” “Thế nhưng mà anh ắt là di chuyển khá lẹ mới chuẩn bị được một cuộc đón tiếp chúng tôi ngoạn mục như vầy, với thời gian báo trước quá ngắn đó chớ,” cụ Dumbledore nói. “Anh đâu có được báo trước nhiều hơn ba phút đâu nhỉ?” Ông Slughorn nói, nửa quạu quọ nửa tự hào:
“Hai. Không nghe cái Bùa Đột Nhập của tôi báo động, tại đang tắm. Dù vậy,” ông nghiêm trang nói thêm, dường như đang cố gắng lấy lại thế tự chủ, “cái sự thật vẫn sờ sờ ra đó, tôi là một ông già, anh Albus à. Một ông già về hưu xứng đáng có được một đời sống yên tĩnh và chút ít rượu ngon.” Ông chắc chắn là đang có những thứ đó, Harry vừa nghĩ, vừa nhìn chung quanh căn phòng. Căn phòng ngột ngạt và lộn xộn, nhưng đừng ai nói là nó không tiện nghi thoải mái; có ghế nệm êm và ghế gác chân, có rượu và sách, mấy hộp sôcôla và mấy cái gối phồng xốp. Nếu Harry không biết ai sống ở đây, nó sẽ tưởng chủ nhân là một bà già giàu có và kiểu cọ. “Anh đâu đã già bằng tôi, anh Horace?” Cụ Dumbledore nói. “Ừ, có lẽ chính anh cũng nên nghĩ đến chuyện về hưu đi,” ông Slughorn huỵch tẹt. Hai con mắt xanh nhạt màu trái chùm ruột của ông đã nhìn thấy bàn tay bị thương của cụ Dumbledore. “Phản xạ không còn như xưa nữa, tôi hiểu.” “Anh hoàn toàn đúng,” cụ Dumbledore nói một cách bình thản, hất ống tay áo ngược lên để lộ đầu những ngón tay bị phỏng và thâm đen; cảnh tượng này làm Harry nổi gai sau ót một cách khổ sở. “Tôi chắc chắn chậm hơn xưa. Nhưng mặc khác…” Cụ nhún vai và xòe bàn tay rộng ra, như thể muốn nói rằng tuổi tác cũng có sự đền bù, và Harry nhận thấy một chiếc nhẫn đeo trên bàn tay không bị thương của cụ mà nó chưa từng thấy cụ đeo trước đây: chiếc nhẫn đó to, hơi thô, làm bằng một thứ có lẽ là vàng, và được nạm bằng một viên đá đen đã bị nứt xuống
ở chính giữa. Đôi mắt của ông Slughorn cũng ve vãn chiếc nhẫn một lát, và Harry nhìn thấy một tí cau mày thoáng qua làm nhăn vầng trán rộng của ông. “Vậy, tất cả những sự đề phòng chống đột nhập này, anh Horace à… chúng nhằm chống lại bọn Tử Thần Thực Tử, hay là tôi?” Cụ Dumbledore hỏi. “Bọn Tử Thần Thực Tử thì cần gì ở một cái gối đệm cũ te tua tội nghiệp như tôi?” Ông Slughorn vặn hỏi lại. “Tôi cho rằng chúng muốn anh biến những tài năng đáng kể của mình thành áp bức, tra tấn, và ám sát.” Cụ Dumbledore nói. “Chẳng lẽ anh đang nói với tôi rằng chúng chưa tìm đến anh để chiêu dụ sao?” Ông Slughorn nhìn cụ Dumbledore một cách độc địa trong một lát, rồi làu bàu: “Tôi chưa tạo cho chúng cơ hội nào cả. Tôi đã di chuyển liên tục trong suốt một năm qua. Không bao giờ ở một nơi nào lâu hơn một tuần lễ. Cứ dọn hết từ nhà dân Muggle này sang nhà dân Muggle khác… Chủ nhân ngôi nhà này đang đi nghỉ ở quần đảo Canary - thiệt là thoải mái dễ chịu, thiệt là tiếc khi phải ra đi. Một khi mình biết cách rồi thì cũng dễ thôi, chỉ cần một lá bùa Đông Cứng ếm lên mấy cái còi báo động chống trộm ngớ ngẩn mà họ dùng thay vì mấy cái Kính-Mách-Lẻo và liệu sao cho bà con lối xóm không dò ra chuyện mình khuân vô một cây đàn dương cầm.” “Tài tình thật,” cụ Dumbledore nói. “Nhưng tồn tại kiểu đó nghe cũng hơi mệt đối với một cái gối đệm cũ te tua muốn tìm một cuộc sống yên tĩnh. Này nhé, nếu anh chịu trở về trường
Hogwarts…” “Nếu anh định nói với tôi là cuộc sống của tôi sẽ bình yên hơn ở cái trường thổ tả đó, thì anh nên để dành hơi, anh Albus à! Rất có thể là tôi sống ẩn dật lâu nay, nhưng mấy chuyện đồn đại khôi hài vẫn lọt tới tai tôi kể từ khi bà Dolores Umbridge ra đi! Nếu đó là cách anh đối xử với giáo viên vào những ngày này…” “Giáo sư Umbridge đã húc vô một đàn nhân mã,” cụ Dumbledore nói. “Tôi nghĩ anh, anh Horace à, anh chắc phải biết điều hơn khi rảo bước vô rừng và gọi một đám nhân mã đang cơn giận là ‘đồ lai căng bẩn thỉu’.” “Bà ta đã nói vậy hả?” Ông Slughorn nói. “Mụ này ngu thiệt. Chưa bao giờ ưa được.” Harry chắt lưỡi và cả cụ Dumbledore lẫn ông Slughorn đều quay lại nhìn nó. Harry vội vã phân bua: “Con xin lỗi. Chẳng qua… Con cũng chẳng ưa gì bà ấy.” Cụ Dumbledore đột ngột đứng dậy. “Anh đi hả?” Ông Slughorn hỏi ngay tức thì, vẻ hớn hở đầy hy vọng. “Không, tôi đang thắc mắc là tôi có thể dùng nhà vệ sinh của anh không?” Cụ Dumbledore nói. “Ồ,” ông Slughorn nói, rõ ràng là thất vọng. “Đi xuống hành lang, cửa thứ hai, bên trái.” Cụ Dumbledore rảo bước ra khỏi phòng. Khi cánh cửa đã đóng lại sau lưng, chỉ còn lại sự im lặng. Một lát sau, ông
Slughorn đứng dậy nhưng dường như không biết chắc là mình định làm gì. Ông lén ngó Harry một cái, rồi đi tới bên lò sưởi và quay lưng lại để sưởi ấm tấm lưng rộng thênh thang của mình. Bỗng nhiên ông nói: “Đừng tưởng là tôi không biết tại sao lão dắt theo cậu tới đây.” Harry chỉ ngước nhìn ông Slughorn. Đôi mắt ươn ướt của ông lướt qua cái thẹo trên trán của Harry, lần này nhìn luôn cả gương mặt nó. “Cậu trông rất giống cha cậu.” “Dạ, con có nghe nói vậy,” Harry đáp. “Ngoại trừ đôi mắt, cậu thừa hưởng đôi mắt của…” “Mẹ con. Dạ, đúng vậy.” Harry đã nghe nhận xét đó thường xuyên đến nỗi nó phát mệt. “Hừm. Ừ, phải. Với tư cách thầy giáo, mình không nên có học trò cưng, dĩ nhiên rồi, nhưng con bé ấy là một trong những đứa trò cưng của tôi. Mẹ cậu ấy mà.” Ông Slughorn nói thêm, để đáp lại cái nhìn thắc mắc của Harry. “Lily Evans. Một trong những học sinh thông tuệ nhất mà tôi từng dạy. Lanh lợi, cậu biết đấy. Một nữ sinh duyên dáng. Tôi thường nói với trò ấy là đáng ra trò ấy phải thuộc về Nhà của tôi. Tôi cũng thường nhận được những câu trả lời rất táo tợn.” “Thầy thuộc Nhà nào ạ?” “Tôi là giáo viên chủ nhiệm Nhà Slytherin,” ông Slughorn
đáp. “Ôi thôi,” ông nói tiếp rất nhanh, do thấy cảm xúc hiện trên mặt Harry; ông ngoe nguẩy một ngón tay múp míp trước mặt nó. “Đừng có trách tôi về chuyện đó! Tôi đoán là cậu cũng thuộc nhà Gryffindor như mẹ cậu chứ gì? Ừ, thường là theo gia đình. Mặc dù không phải lúc nào cũng thế. Có nghe nói đến Sirius Black không? Ắt hẳn là cậu có nghe - đăng báo đầy ra đấy trong suốt hai năm qua - Chết cách đây vài tuần lễ.” Như thể có một bàn tay vô hình đang vặn ngoéo ruột gan Harry và bóp chặt lại. “Thôi, dù sao đi nữa, hắn cũng là một người bạn lớn của cha cậu. Toàn bộ dòng họ Black đều vô Nhà của tôi, nhưng Sirius lại lọt vô Nhà Gryffindor, thật là xấu hổ. Hắn là một học sinh tài giỏi. Tôi thì được người em của hắn, Regulus, khi cậu ấy xuất hiện, nhưng tôi vẫn khoái có cả bộ.” Ông nói như thể một nhà sưu tập máu me vừa mua hụt một món cổ ngoạn ở một cuộc bán đấu giá. Rõ ràng là bị chìm đắm trong ký ức, ông đăm đăm nhìn bức tường đối diện, lười nhác xoay qua xoay lại tại chỗ cho đến khi bảo đảm hơi nóng phả đều lên cả tấm lưng. “Mẹ của cậu là một phù thủy gốc Muggle, dĩ nhiên. Không thể tin nổi lúc phát hiện điều đó. Tưởng trò ấy phải thuộc dòng thuần chủng, trò ấy giỏi quá mà.” “Một trong những người bạn thân nhất của con cũng có gốc Muggle,” Harry nói. “Và bạn ấy là học sinh giỏi nhất trong lứa tụi con.” “Thỉnh thoảng xảy ra chuyện như vậy, thiệt là khôi hài hả?” Ông Slughorn nói.
“Không hẳn,” Harry lạnh lùng đáp. Ông Slughorn ngó xuống nó ngạc nhiên. “Cậu chớ có nghĩ rằng tôi thành kiến. Không, không, không! Chẳng phải tôi vừa nói mẹ của cậu là một trong những học trò cưng muôn thuở của tôi đó sao? Rồi nào là Dirk Cresswell trong lứa sau mẹ cậu một năm - bây giờ là giám đốc đầu ngành Sở Liên lạc Yêu tinh, tất nhiên - một trò nữa cũng gốc Muggle, một học sinh rất xuất sắc, và vẫn còn cho tôi những thông tin nội bộ tuyệt vời về hiện tình ở Gringotts!” Ông Slughorn hơi nhún lên nhún xuống một tí, mỉm cười kiểu tự mãn nguyện, và chỉ vào vô số khung hình lấp lánh trên đầu tủ ngăn kéo, trong mỗi cái khung có hình một người tí hon đang nhúc nhích. “Tất cả cựu học sinh, đều có chữ ký. Cậu sẽ nhận thấy có Barnabas Cuffe, chủ bút tờ Nhật báo Tiên Tri, trò ấy luôn luôn khoái nghe tôi bình luận tin tức trong ngày. Và Ambrosius Flume, tiệm Công tước Mật - cả thùng mỗi lần sinh nhật, và tất cả chỉ vì tôi đã giới thiệu hắn với Ciceron Harkiss, người đã cho hắn công việc đầu tiên. Và ở hàng sau - cậu có thể thấy nếu cậu chịu khó nhóng cổ lên - đó là Gwenog Jones, đương nhiên là người cầm đầu tập đoàn Holyhead Harpies… Người ta cứ luôn ngạc nhiên khi nghe tôi nằm trong danh sách khách hàng thân thiết của Harpies, và vé miễn phí bất cứ khi nào tôi muốn!” Ý tưởng này dường như khiến ông Slughorn phấn khởi hẳn lên. “Và tất cả những người này đều biết thầy ở đâu mà tìm, mà
gởi đồ cho thầy à?” Harry hỏi, nó vẫn không thể không thắc mắc tại sao bọn Tử Thần Thực Tử vẫn còn chưa dò ra tông tích của ông Slughorn khi mà những thùng kẹo, vé coi Quidditch, và những người đến xin lời khuyên hay ý kiến đều có thể kiếm ra thầy. Nụ cười tuột khỏi gương mặt ông Slughorn nhanh y như vết máu biến mất khỏi bức tường. “Dĩ nhiên là không,” ông đáp, ngó ngó xuống Harry. “Tôi đâu có tiếp xúc với bất cứ ai trong suốt một năm qua.” Harry có một ấn tượng là những lời nói đó khiến chính ông Slughorn cũng giật mình. Ông có vẻ bồn chồn một lúc. Rồi ông nhún vai. “Tuy nhiên… pháp sư khôn ngoan đều nhẫn nhục trong những lúc như thế. Dumbledore nói thì cái gì cũng tốt cả, nhưng nhận một vị trí ở trường Hogwarts lúc này thì cũng cầm như tuyên bố tôi đồng minh công khai với Hội Phượng Hoàng! Tôi thì vẫn tin chắc họ là những người dũng cảm và đáng ngưỡng mộ và đủ thứ tốt vân vân, nhưng tôi, với tư cách cá nhân, tôi không tưởng tượng nổi tỉ lệ tử vong…” “Thầy đâu cần phải gia nhập Hội mới được dạy ở trường Hogwarts,” Harry nói. Nó không thể hoàn toàn giữ cho giọng nói của nó đừng lộ ra sự chế giễu. Thật khó mà thông cảm với cách sống bo bo giữ miếng của ông Slughorn khi nó nhớ đến chú Sirius lúc đó thu mình trong một cái hang và sống bằng những con chuột. “