Gioi Tiep Hien Chu Giai

chương có sớm nhất trong

chương có sớm nhất trong

chương có sớm nhất trong lịch sử về tự do nhận thức. Trong kinh này, Bụt trả lời cho một số thanh niên ở thị trấn Kesaputta về vấn đề nên tin theo ai, bởi vì ai cũng nói rằng giáo thuyết của họ hay hơn hết. Bụt nói: "Các bạn nghi ngờ là phải. Này các bạn, đừng vội tin một cái gì dù cái đó là cái người ta thường nói tới, dù cái đó đã thành truyền thống, dù cái đó được nói tới trong kinh sử... Các bạn phải xét xem cái ấy có đúng với kinh nghiệm của các bạn không, có gây tác hại gì không, có bị các bậc hiền nhân chê trách không, và khi đưa ra áp dụng, có đem lại đổ vỡ và khổ đau không. Nếu có, các bạn phải từ bỏ nó. Trái lại, cái gì mà các bạn thấy là đẹp đẽ, không chê trách được, lại được các bậc hiền nhân mến chuộng và nếu đưa ra áp dụng thì sẽ đưa lại hạnh phúc và an lạc, cái ấy các bạn nên chấp nhận và hành trì theo.” Giới thứ ba này theo sát giới thứ hai như bóng theo hình, bởi vì sự thực tập phá chấp và cởi mở trong giới thứ hai chắc chắn đưa tới thái

23 | Chương Hai: Giới Tướng độ tôn trọng tự do nhận thức của kẻ khác. Tự do là một trong những quyền căn bản của con người, của tất cả mọi con người chứ không phải của một số người, vì vậy tự do cũng có nghĩa là tôn trọng tự do của kẻ khác. Vì thế, tôn trọng tự do là phải cởi bỏ cuồng tín và cố chấp nơi mình và giúp kẻ khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp nơi kẻ khác, bởi vì cuồng tín và cố chấp đưa tới sự tước đoạt tự do của kẻ khác. Làm thế nào để giúp kẻ khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp? Bằng những phương tiện đối thoại ái ngữ và bất bạo động. Phương tiện đối thoại ái ngữ là những phương tiện đầu. Phương tiện bất bạo động là những phương tiện mạnh mẽ có chủ ý gây áp lực tinh thần và xã hội để buộc kẻ kia phải thay đổi. Cũng như trong trường hợp đối thoại ái ngữ, căn bản của hành động gây áp lực vẫn là ý hướng xây dựng trên thương yêu và hiểu biết. Một hành động xuất phát từ giận dữ và thù ghét không được gọi là một phương tiện bất bạo động. Bất bạo động là danh từ để dịch từ ngữ ahimsa, một trong những trạng thái tốt lành trong số mười một tâm sở thiện của Duy Thức Học. Ahimsa được dịch là bất hại, có nghĩa là ý hướng tránh đả thương và gây chết chóc cho kẻ khác. Làm cha mẹ, ta nên học tôn trọng tự do nhận thức của con ta, dù chúng còn nhỏ bé. Thái độ cởi mở, hiểu biết của ta đối với con cái sẽ mở rộng tầm nhận thức của ta, và ta có thể học được từ con cái ta nhiều điều. Mỗi con người có cá tính, sở thích, năng khiếu và ý hướng riêng biệt. Ta hãy mở lòng để thấy được những cá tính, sở thích, năng khiếu và ý hướng ấy. Ta đừng gò bó và ép buộc con cái ta vào những khuôn khổ mà ta ưa thích. Hoa tuy thuộc về cây nhưng cũng không phải là rễ, là lá, là cành. Phải để cho hoa là hoa, lá là lá, cành là cành. Nếu ta thấy được điều đó thì con cái ta có thể tự do phát triển theo tài năng và cá tính của chúng, và do đó công tác nuôi dạy của ta mới gọi được là thành công. Giới thứ tư: Ý thức về sự có mặt của khổ đau Ý thức rằng tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con phát khởi tâm từ bi và thấy được con đường thoát khổ, con

24 | Chương Hai: Giới Tướng nguyện không trốn tránh thực tại khổ đau, nhắm mắt trước khổ đau và đánh mất ý thức về khổ đau của chúng sanh. Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những khổ đau hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con biết rằng sự thật thứ tư là đạo đế chỉ hiển lộ khi nào con quán chiếu và thấy được tự tánh của sự thật thứ nhất là khổ đế, và con sẽ luôn luôn nhớ rằng mục đích của sự tu tập là chuyển hóa khổ đau trở thành an lạc. Pháp thoại đầu tiên của Bụt nói về Tứ Diệu Đế, tức là về bốn sự thật. Sự thật thứ nhất là dukkha, sự có mặt của khổ đau. Nhận thức này là nhận thức đầu tiên và căn bản của đạo Bụt. Nếu ta bị bệnh mà ta không biết là ta có bệnh thì ta sẽ không tìm cách chữa bệnh và do đó ta sẽ không thể thoát khỏi bệnh. Bốn sự thật là sự có mặt của khổ đau, những nguyên nhân sinh ra khổ đau, sự vượt thoát khổ đau và con đường đưa tới sự vượt thoát khổ đau. Vượt thoát tức là giải thoát. Bốn sự thật này là bốn sự thật về vấn đề giải thoát. Nếu ta không đồng ý với Bụt về sự thật thứ nhất, tức là về sự có mặt của khổ đau thì ta không thể đồng ý với Bụt về ba sự thật kế tiếp. Khổ đau có tính cách trị liệu. Khổ đau mở mắt được cho chúng ta rất nhiều. Có thấy được khổ đau, ta mới đi tìm nguyên nhân của khổ đau và do đó tìm được con đường giải thoát, nghĩa là con đường dứt bỏ nguyên nhân của khổ đau. Phép quán Tứ Niệm Xứ (quán về thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý) cho ta biết những gì đang xảy ra trong ta và trong xã hội ta, những đau khổ và những mầu nhiệm của cuộc đời. Thấy được đau khổ để tìm cách làm vơi bớt khổ đau. Thấy được mầu nhiệm để vươn tới an lạc. Vơi bớt khổ đau đã là bước đầu hướng về an lạc. Sự thật thứ nhất là sự có mặt của khổ đau. Sự thật thứ ba là sự có mặt của an lạc và của những nhiệm mầu nơi hiện hữu. Có người nghĩ đạo Bụt yếm thế chỉ nói tới khổ đau, đó là vì họ chỉ nhìn sự thật thứ nhất mà không nhìn sự thật thứ ba. Đạo Bụt đại thừa khai mở về sự thật thứ ba, đã nói tới liễu lục hoa vàng và pháp thân mầu nhiệm.

25 | Chương Hai: Giới Tướng Giữa ta và mọi loài có những liên hệ nhân duyên mật thiết; khi ta an lạc thì ta sẽ không tạo thêm khổ đau phiền não cho kẻ khác, khi ta làm vơi bớt nỗi khổ của người khác thì ta lại có thêm niềm vui. Vì vậy, hành đạo không phải chỉ là hành đạo nơi bản thân mà còn là hành đạo nơi xã hội. Đó là ý nghĩa của đạo Bụt đại thừa: tự độ, độ tha, tự giác, giác tha. Có những vị giáo thọ khuyên ta chỉ nên lo thiền tọa và đừng để ý vấn đề ngoài đời như đói khổ, chiến tranh, tù đày, áp bức. Các vị đó chưa thấy được chân nghĩa của đạo Bụt đại thừa. Cố nhiên là người tu không thể xao lãng việc tu tập, thiền tọa và quán niệm. Nhưng tu tập, thiền tọa và quán niệm để làm gì? Để thấy được những gì đang xảy ra nơi bản thân, nơi tâm ý và nơi cuộc đời. Một khi đã thấy thì không thể nào không có thái độ và không hành động. Khi một làng mạc bị dội bom tan tành, và người lớn cũng như trẻ em đang quằn quại, rên xiết vì thương tích do bom đạn gây nên, nhà tu hành có thể ngồi thiền an lạc trong ngôi chùa của mình được không? Người ấy có khả năng vừa cứu người vừa thiền tập không? Tại sao người ấy không vừa thiền tập vừa cứu người? Thiền tập là để thấy được tự tánh của mình (kiến tánh thành Phật). Không thấy được những gì đang xảy ra trước mắt mình và xung quanh mình thì làm sao mong thấy được tự tánh? Và tự tánh của mình có dính líu gì với tự tánh của khổ đau, bất công và chiến tranh không? Một trái bom nguyên tử có tự tánh không? Thấy được tự tánh của trái bom tức là thấy được tự tánh của chính mình vậy. Tiếp xúc với khổ đau tức là nuôi dưỡng sự hiểu biết (trí) và tình thương (bi), tức là đào luyện ý chí hành đạo. Lời nguyện "Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ" sẽ không có nghĩa lý gì nếu ta xa rời thực tại khổ đế. Lời nguyện đó chỉ có sức mạnh khi ta nuôi dưỡng ý thức về khổ đau và ý chí làm vơi bớt khổ đau nơi mình và nơi cuộc đời. Tập cho thiếu nhi thấy và hiểu được những khổ đau của con người và của các loài động vật khác tức cũng là nuôi dưỡng và bồi đắp sự hiểu biết và lòng từ bi nơi những con người còn thơ ấu ấy. Nên thực tập trong đời sống hàng ngày. Nâng một bát cơm lên là cơ hội để thực tập tỉnh thức. Hành đạo là như thế, trong mỗi giờ phút của cuộc sống, chứ không phải chỉ trước một cuốn kinh hoặc trong một thiền đường.

26 | Chương Hai: Giới Tướng Giới thứ năm: Sống đơn giản, lành mạnh Ý thức rằng hạnh phúc chân thực không thể đạt tới được bằng tiền tài và danh vọng mà chỉ thật sự có mặt khi nào các yếu tố an ổn, vững chải, thảnh thơi và từ bi có mặt, con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải trong khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn, không đặt danh vọng, quyền hành và sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu của đời mình. Con nguyện tập sống giản dị và học chia xẻ thì giờ, khả năng và tài vật của mình với những kẻ thiếu thốn. Giới thứ năm phát sinh ra từ giới thứ tư, như cành cây đi ra từ thân cây. Sự nghiệp của người tu là sự nghiệp đạt đạo (trí tuệ) và giúp đời (từ bi), chứ không phải là giàu sang, danh vọng và quyền hành. Nhắm đến lợi, danh và quyền thế thì không còn thì giờ mà hành đạo. Đời sống không giản dị thì phải tiêu pha nhiều, do đó, thì giờ và tâm lực cũng không còn để mà hành đạo. Kinh Bát Đại Nhân Giác dạy: "Vì tâm ta rong ruổi chạy theo danh lợi, không bao giờ biết chán, cho nên tội lỗi ta cũng theo đó mà càng ngày càng lớn. Các bậc bồ tát thì khác hẳn: họ luôn luôn nhớ nghĩ đến phép tri túc, an vui sống với đời đạm bạc để hành đạo và xem sự nghiệp duy nhất của mình là thực hiện trí tuệ giác ngộ". Tri túc là bằng lòng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tối thiểu đủ để đảm bảo sức khỏe của mình. Trong đời sống mới của xã hội tiêu thụ, sống đạm bạc để có thì giờ hành đạo còn có công dụng giúp ta thoát khỏi những chứng bệnh thời đại như bệnh huyết áp cao, bệnh tâm thần, bệnh huyết quản bế tắc, bệnh tim v.v... Cách thức ăn uống và làm việc của con người thời bây giờ thường đưa tới những chứng bệnh như thế. Ta phải có can đảm đối kháng lại nếp sống bận rộn và lo lắng thái quá của phần đông con người của xã hội bây giờ. Muốn thoát khỏi guồng máy để đừng bị nó nghiền nát, muốn ra khỏi áp lực thường xuyên của nếp sống bận rộn, ta chỉ có một con đường. Sống giản dị, sống tri túc, giảm tối đa sự tiêu thụ. Nhiều giới tuổi trẻ bây giờ, tuy không phải là Phật tử cũng đã tìm thấy con đường đó. Nếu một mình

27 | Chương Hai: Giới Tướng đi thì thấy khó khăn, ta hãy chia xẻ với các bạn ta những phương cách để xây dựng cuộc sống giản dị và an lạc Một khi ta nếm được sự an lạc của nếp sống giản dị rồi thì ta lại có cơ hội nhiều hơn để giúp bạn và giúp người. Tài vật của ta tuy không bao lăm, ta vẫn có thể chia xẻ với kẻ khác. Ngạn ngữ Việt Nam có câu "chật bụng chứ chật chi nhà", nói về sự chia xẻ ấy. Khả năng và thì giờ của ta bây giờ dồi dào hơn, ta sẽ có thể chia xẻ dễ dàng với những kẻ khác. Những người giàu có là những người khó chia xẻ (bố thí) nhất. Những bậc đại thí chủ lại là những người biết sống tri túc. Họ bố thí bằng thì giờ và khả năng của họ. Giới thứ sáu: Đối trị cơn giận Ý thức được rằng sân hận và oán thù có tác dụng cắt đứt truyền thông giữa người với người và tạo ra đau khổ cho cả hai phía, con nguyện học hỏi phương pháp chăm sóc và đối xử với năng lượng sân hận và oán thù khi chúng phát khởi trên ý thức con và phương pháp quán chiếu để nhận diện và chuyển hóa hạt giống của sân hận và oán thù trong chiều sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để mỗi khi cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành ngoài trời để chăm sóc tâm niệm sân hận và oán thù của con bằng năng lượng chánh niệm và để nhìn sâu vào bản chất của các tâm niệm sân hận và oán thù ấy. Con cũng nguyện sẽ học hỏi nhìn sâu vào tự tánh của người mà con nghĩ đã gây nên tâm niệm sân hận và oán thù của con và để có thể nhìn được người ấy bằng con mắt từ bi. Một khi sự bực bội hay giận dữ đã phát sinh rồi, ta hãy án binh bất động, đừng để cho cái giận ấy tác hại thêm. Ta ngưng lại mọi suy nghĩ, lời nói và hành động. Thở những hơi thở dài và nhẹ; theo dõi hơi thở và khởi sự quán sát về những nguyên nhân đã đưa đến hành động và ngôn ngữ làm ta bực bội hay giận dữ. Kế đến, nhờ năng lượng chánh niệm, ta có thể nhìn sâu để thấy rằng người đang làm ta giận có thể trong quá khứ đã có lần giúp ta; hoặc ta hiểu được rằng người đó đã khổ đau trong quá khứ. Cũng có khi ta tìm thấy sự bực

28 | Chương Hai: Giới Tướng bội hay giận dữ của ta đã phát sinh ra từ một sự hiểu lầm của chính ta mà thôi. Có khi chỉ cần một chốc lát là ta thấy được những điều này, cũng có khi phải cần đến nhiều ngày. Cho đến lúc chúng ta đạt được cái thấy đó, tốt nhất là nên tạm ngưng không nói điều gì đối đáp lại với người đã làm cho mình giận mà chỉ thực tập thiền hành và hơi thở chánh niệm. Nên lấy con mắt từ bi để nhìn mọi người. Đó là lấy nguyên văn trong kinh Pháp Hoa: từ nhãn thị chúng sanh. Con mắt từ bi là con mắt hiểu biết. Từ bi là nước ngọt chảy từ nguồn hiểu biết. Không có hiểu biết thì không có từ bi, và hễ có từ bi tức là đã có hiểu biết. Giới thứ sáu là phương thức đối trị hận thù. Từ bi quán không thể tách rời nhân duyên quán. Nếu tôi đã được sinh ra trong hoàn cảnh của một kẻ cướp biển, thì rất có thể bây giờ tôi đang là một kẻ cướp biển. Con người của một kẻ hải tặc đã được đúc kết nên bởi nhiều nhân duyên thuận lợi cho việc trở thành hải tặc. Trách nhiệm ấy là trách nhiệm chung của xã hội loài người. Khuya hôm nay, hàng trăm trẻ em đã chào đời bên Vịnh Xiêm La. Những em bé sơ sinh khuya nay, mấy mươi năm sau có thể trở nên hải tặc, nếu những nhà giáo dục, những nhà chính trị, những nhà kinh tế và những kẻ có lòng ngày hôm nay không làm một cái gì hết để ngăn ngừa. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm ít nhiều trong sự có mặt của những người hải tặc. Quán nhân duyên để có thể nhìn bằng con mắt từ bi, và để thấy được bổn phận và trách nhiệm của mình trong công cuộc ngăn chận khổ đau. Bồ tát Quán Thế Âm vì thấy cho nên mới thương, và vì thương cho nên mới hành động. Quán là để thấy, để nghe. Tên của vị bồ tát này bắt đầu bằng chữ Quán. Quán Thế Âm hay Quán Tự Tại cũng là một người ấy. Khi ta nuôi dưỡng một cây chanh, ta muốn cho cây chanh sởn sơ khỏe mạnh và xanh tươi. Ta quán sát và tìm biết những nguyên nhân đã làm cho cây chanh yếu ớt, trong đó có sự vụng về và thiếu chăm bón của ta. Ta biết trách cứ cây chanh không có ích lợi gì hết. Thế nhưng

29 | Chương Hai: Giới Tướng đối với con người, ta lại có khuynh hướng muốn trách cứ họ, vì ta nghĩ đã là con người có ý thức thì phải biết sống cho lành mạnh, cho dễ chịu đối với những người khác. Thật ra, con người cũng chịu những điều kiện nuôi dưỡng và chăm bón như cây chanh về phần thể chất cũng như về phần trách nhiệm tinh thần. Đối với những người đang chung sống với ta, kể cả cha mẹ, anh em, bạn hữu và con cháu, ta biết rằng hành động trách cứ không đưa tới đâu hết, chỉ có tình thương và sự hiểu biết của ta mới giúp họ thay đổi. Họ cũng như những cây chanh; ta chỉ có thể chăm bón mà không thể trách cứ. Những lời khuyên bảo hay dạy dỗ phát xuất từ tình thương và sự hiểu biết không phải là trách cứ. Ta chăm bón họ thì ta được hưởng sự có mặt dễ chịu của họ, giống như khi ta chăm bón cây chanh thì ta được sự có mặt sởn sơ của cây chanh. Sự bực bội và sự giận dữ phát sinh vì chúng ta thiếu hiểu biết. Một đứa bé nói năng thô lỗ là vì nó đã được thân cận với giới trẻ thô lỗ; trách mắng không thể chữa lại tình trạng mà có thể gây thêm sự cách biệt giữa ta với nó. Nếu ta hiểu biết thì ta sẽ hành động thế nào để đứa bé khỏi bị ảnh hưởng bởi những hoàn cảnh thô lỗ. Từ nhãn thị chúng sanh, chỉ một câu kinh ấy thôi cũng đủ cho chúng ta thực tập suốt đời. Hãy tập nhìn bằng con mắt từ bi, nghĩa là con mắt hiểu biết. Giới thứ bảy: Hiện pháp lạc trú Ý thức được rằng sự sống chỉ có thể thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, và ta chỉ có thể sống an lạc ngay trong giây phút ấy, con nguyện tập luyện để có thể sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của con. Con nguyện không để cho những hối tiếc về quá khứ, những lo lắng về tương lai và những tham dục, giận hờn và ganh tỵ đối với những gì đang xảy ra trong hiện tại lôi kéo con và làm cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm. Con nguyện thực tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng hơi thở và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung quanh con, để liên tục gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống an

30 | Chương Hai: Giới Tướng lành, hiểu biết và thương yêu trong con, làm động lực chuyển hóa chiều sâu tâm thức và đi tới trên đường thành tựu đạo nghiệp. Người Tiếp Hiện thực tập không để cho tâm trí trôi lăn theo loạn tưởng và lôi kéo bởi hoàn cảnh, nuối tiếc quá khứ hoặc lo lắng về tương lai. Để cho hoàn cảnh lôi kéo tức là tự đánh mất mình. Tự đánh mất mình là mất tỉnh thức. Mất tỉnh thức là thụ động, là trôi lăn, là làm tán thất pháp thân. Bụt dạy thực tập chánh niệm là để trở về với những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Nhờ có chánh niệm, chúng ta tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm, tươi mát có khả năng trị liệu trong ta và chung quanh ta để nuôi dưỡng, vun trồng những hạt giống hạnh phúc, an lạc, thương yêu và hiểu biết trong ta. Giống như hạt của trái anh đào, sự thực tập chánh niệm là trái tim của đời sống Tiếp Hiện. Dù là sống trong thiền viện, khi làm việc, sống với gia đình hay ở học đường, thực tập chánh niệm là điều thiết yếu. Chữ chánh niệm, theo tiếng Hán gồm có hai phần: phần trên là chữ "tâm",

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 16

Đang tải bình luận...