Chương 5 AN TOÀN NHƯ NHỮNG NGÔI NHÀ Đấy chính là một trò chơi kinh tế được ưa chuộng trong thế giới nói tiếng Anh: bất động sản. Không một khía cạnh nào của đời sống tài chính lại có ảnh hưởng như vậy trong tâm tưởng của công chúng. Không một quyết định phân bố cơ cấu tài sản nào lại khuấy động nhiều cuộc trao đổi tại các bữa tiệc tối đến vậy. Thị trường bất động sản rất đặc biệt. Mỗi một người trưởng thành, bất kể là dốt nát về kinh tế đến đâu, cũng có quan điểm riêng về triển vọng tương lai của thị trường này. Thậm chí trẻ em cũng được dạy cách leo lên bậc thang bất động sản như thế nào từ rất lâu trước khi chúng có tiền riêng. [410] Và cách mà chúng ta dạy trẻ em cũng đúng là chơi trò chơi bất động sản. Cái trò chơi mà ngày nay chúng ta biết đến dưới tên Cờ tỷ phú (Monopoly, nghĩa đen là "Độc quyền") được phát kiến lần đầu tiên năm 1903 bởi một phụ nữ Mỹ là Elizabeth ("Lizzie") Philips, một người hâm mộ nhà kinh tế cấp tiến Herry George. Ước mơ không tưởng của bà là một thế giới trong đó chỉ có một loại thuế duy nhất là thuế đánh vào giá trị đất đai. Mục đích ban đầu của trò chơi này là vạch trần sự bất công của một hệ thống xã hội trong đó một thiểu số các chủ nhà đất hưởng lợi từ tiền thuê nhà đất mà họ thu được từ những người đi thuê. Ở dạng nguyên thủy mang tên Trò chơi Chủ đất, trò Cờ tỷ phú đã có một số đặc điểm quen thuộc - đường đi hình chữ nhật liên tục, góc Vào tù - song nó dường như quá phức tạp và quá sách vở nên không nhận được sự hưởng ứng rộng rãi. Thực vậy, trong số những người đầu tiên tiếp nhận trò chơi này có hai vị giáo sư đại học lập dị là Scott Nearing ở Wharton và Guy Tugwell ở Columbia, họ đã điều chỉnh trò chơi này để sử dụng trong lớp học. Phải tới một kỹ sư ngành nước thất nghiệp tên là Charles Darrow mới nhận ra trò chơi có tiềm năng thương mại sau khi ông được bạn bè giới thiệu phiên bản dựa trên đường phố Atlantic City, một khu nghỉ dưỡng trên bờ biển New Jersey. Darrow đã thiết kế lại bàn cờ sao cho mỗi một ô bất động sản có một dải tô màu sáng vắt ngang qua, rồi làm bằng tay các ngôi nhà nhỏ và khách sạn mà những người chơi có thể "xây" trên các ô mà họ đã mua. Darrow có đôi bàn tay khéo (ông có thể làm xong một bộ trong 8 giờ), song ông cũng có sự năng nổ của một người bán hàng khi đã thuyết phục được cửa hàng John Wanamaker ở Philadelphia và nhà bán lẻ đồ chơi F. A. O. Schwartz mua trò chơi của mình cho mùa Giáng sinh năm 1934. Chẳng bao lâu ông đã bán được nhiều hơn so với số ông có thể tự mình làm ra. Năm 1935, công ty chuyên trò chơi bảng Parker Brothers (đã từ chối Trò chơi Chủ đất ban đầu) đã mua lại sáng kiến
của ông. [411] Cuộc Đại Suy thoái có vẻ như là thời điểm không thuận lợi để cho ra đời thứ mà bây giờ đã biến thành một trò chơi cho những người thích trở thành chủ sở hữu bất động sản. Song có lẽ những đồng tiền giả nhiều màu sắc là một phần hấp dẫn của Cờ tỷ phú. "Như chính cái tên của trò chơi đã gọi lên," Parker Brothers tuyên bố vào năm 1935: người chơi kinh doanh bất động sản, đường sắt, các dịch vụ tiện ích công cộng trong một nỗ lực nhằm giành "độc quyền" đối với một khoảnh bất động sản để kiếm được tiền thuê từ những người chơi khác. Sự hào hứng lên cao khi người chơi gặp phải các vấn đề quen thuộc như vay thế chấp mua nhà, các khoản thuế, quỹ cứu tế, quyền chọn, tiền thuê nhà, tiền lãi, bất động sản chưa được xây dựng, khách sạn, nhà chung cư, công ty điện lực và các giao dịch khác, và được cấp tiền đồ chơi dùng để mua. [412] Trò chơi đã thành công đến mức trở thành hiện tượng. Đến cuối năm 1935, một phần tư triệu bộ đã được bán ra. Trong vòng bốn năm, các phiên bản đã được tạo ra ở Anh (hãng Waddington's đã sản xuất phiên bản London mà tôi chơi lần đầu tiên), Pháp, Đức, Italia và Áo - mặc dù các chính phủ phát xít có thái độ nước đôi về tính chất tư bản không thèm biện giải của trò chơi lúc bấy giờ. [413] Đến khi xảy ra Thế chiến thứ hai, trò chơi này đã trở thành phổ biến đến mức mà tình báo Anh có thể sử dụng các bàn Cờ tỷ phú do Hội Chữ thập đỏ cung cấp để tuồn đồ đạc chạy trốn - trong đó có bản đồ và các đồng tiền châu Âu thật - cho tù binh chiến tranh của Anh trong các trại tù Đức. [414] Những người Mỹ thất nghiệp và những người Anh bị cầm tù đều thích trò Cờ tỷ phú bởi cùng một lý do. Trong đời thực, cuộc sống thật gian khó, song khi chơi trò Cờ tỷ phú, chúng ta có thể ước mơ mua được cả nhiều dãy phố. Điều mà trò chơi này nói với chúng ta, hoàn toàn tương phản với ý định của người ban đầu sáng tạo ra nó, là sở hữu bất động sản là một quyết định khôn ngoan. Càng sở hữu nhiều bất động sản, bạn càng kiếm được nhiều tiền. Đặc biệt trong thế giới nói tiếng Anh, có một sự thật được mọi người thừa nhận là không có cái gì vượt qua được gạch ngói và vôi vữa với tư cách là một món đầu tư. "An toàn như những ngôi nhà": câu nói này đã nói lên tất cả lý do tại sao người ta ở khắp nơi trên trái đất này đều ao ước được sở hữu một ngôi nhà của riêng mình. Song câu nói còn có một ý nghĩa cụ thể hơn trong thế giới tài chính. Nó có nghĩa là không có gì an toàn hơn việc cho những người có bất động sản vay tiền. Vì sao? Bởi vì giả sử khoản vay vỡ nợ, bạn vẫn có thể tịch biên ngôi nhà đó. Kể cả nếu họ chạy trốn, ngôi nhà cũng không thể trốn đi đâu. Như cái tên của nó, đất đai và nhà cửa là các tài sản "bất động". Do đó không phải ngẫu nhiên mà nguồn cung cấp vốn quan trọng nhất để mở hãng kinh doanh ở Mỹ là vay thế chấp bằng ngôi nhà của nhà khởi nghiệp.
Cũng như vậy, các tổ chức tài chính ngày càng trở nên dễ dãi hơn trong việc cho những người muốn mua bất động sản vay tiền. Kể từ năm 1959, tổng số dư nợ cho vay thế chấp bằng nhà đất ở Mỹ đã tăng gấp 75 lần. Tính gộp lại, những người Mỹ sở hữu nhà đất mình sống đã nợ một số tiền tương đương với 99% tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ tính đến cuối năm 2006, so với chỉ có 38% vào năm mươi năm trước đó. Mức vay nhảy vọt này đã bơm tiền cho cơn sốt đầu tư vào nhà ở, mà đỉnh cao trong vòng năm mươi năm là vào năm 2005. Có lúc, nguồn cung cấp nhà ở mới có vẻ như không theo kịp nhu cầu tăng vọt. Khoảng một nửa tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ trong nửa đầu năm 2005 là liên quan đến nhà ở. Đam mê bất động sản trong thế giới nói tiếng Anh đã trở thành nền tảng cho một thực nghiệm chính trị: việc tạo ra các nền dân chủ sở hữu nhà ở thực thụ đầu tiên của thế giới, trong đó có từ 65% đến 83% số hộ gia đình sở hữu ngôi nhà mà họ sống. [415] Nói cách khác, đại bộ phận cử tri cũng đồng thời là những người sở hữu nhà đất. Một số người cho rằng đây là một mô hình mà cả thế giới cần phải noi theo. Thực vậy, trong những năm gần đây, mô hình này đã được lan truyền rất nhanh, với việc giá nhà bùng nổ không chỉ trong "khu vực gốc Anh" (Úc, Canada, Ireland, Anh và Mỹ), mà còn ở Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Italia, Nga, Hàn Quốc và Tây Ban Nha. Năm 2006, mức lạm phát của giá nhà đất danh nghĩa đã vượt 10% tại 8 trong số 18 nước thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD). Nước Mỹ thực ra không chứng kiến điều gì khác thường với bong bóng nhà đất trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2007; còn ở Hà Lan và Na Uy thì giá nhà đất tiếp tục tăng lên. [416] Song liệu bất động sản có an toàn như những ngôi nhà? Hay trò chơi bất động sản đúng hơn lại giống một ngôi nhà làm bằng bìa các tông? Tầng lớp quý tộc sở hữu bất động sản Sở hữu nhà ngày nay chỉ trở thành ngoại lệ ở những vùng nghèo khổ nhất nước Anh và Mỹ, chẳng hạn như khu East End của Glasgow hay khu vực East Side của Detroit. Tuy nhiên hầu như trong suốt lịch sử, đây là một đặc quyền riêng của tầng lớp thượng lưu. Bất động sản được truyền từ cha sang con cùng với các tước hiệu và các đặc quyền chính trị. Còn những người khác thì chỉ là những người thuê nhà và trả tiền thuê cho chủ đất. Thậm chí quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử ban đầu cũng là một chức năng nằm trong quyền sở hữu bất động sản. Ở vùng nông thôn nước Anh trước năm 1832, theo những quy chế đã được thông qua từ thế kỷ 15, chỉ những người đàn ông nào sở hữu bất động sản toàn quyền sử dụng đem lại ít nhất là 40 shilling một năm ở một hạt nào đó mới được quyền đi bỏ phiếu tại hạt đó.
Nghĩa là tối đa chỉ có 435.000 người ở Anh và xứ Wales, đại bộ phận trong đó có liên quan đến những chủ đất giàu có nhất thông qua một mạng lưới bảo trợ phức tạp. Trong số 514 Hạ nghị sĩ của Anh và xứ Wales tại Hạ viện vào đầu thế kỷ 19, khoảng 370 người được bầu nhờ gần 180 người bảo trợ có sở hữu đất đai. Trên một phần năm số đại biểu là con trai của các nhà quý tộc. Xét riêng một khía cạnh thì chẳng có thay đổi gì lắm ở nước Anh kể từ đó đến nay. Khoảng 40 triệu mẫu đất trong tổng số 60 triệu mẫu là của chưa đến 189.000 gia đình sở hữu. [417] Công tước xứ Westminster hiện vẫn là người giàu thứ ba ở nước Anh, với tài sản ước tính là vào khoảng 7 tỷ bảng Anh; cũng nằm trong số 50 người đứng đầu "danh sách người giàu" có Bá tước Cadogan (2,6 tỷ bảng) và nữ Nam tước Howard de Walden (1,6 tỷ bảng). Sự khác nhau là ở chỗ tầng lớp quý tộc hiện giờ không còn độc quyền thống trị hệ thống chính trị. Nhà quý tộc cuối cùng nắm giữ chức vụ Thủ tướng là Alec Douglas-Home, Bá tước thứ 14 xứ Home, người đã rời nhiệm sở vào năm 1964 (như ông ta diễn tả, là do thất bại trước "Ông Wilson thứ 14"). Thực vậy, do cuộc cải cách Thượng viện Anh mà tầng lớp quý tộc cha truyền con nối hiện đang trong quá trình bị loại bỏ hoàn toàn khỏi hệ thống nghị viện của nước Anh. Sự suy tàn của tầng lớp quý tộc với tư cách là một lực lượng chính trị đã được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Song nằm ở trung tâm là vấn đề tài chính. Cho đến thập niên 1830 vận may vẫn mỉm cười với giới quý tộc, khoảng ba mươi gia đình có thu nhập ròng hằng năm từ đất đai của họ trên 60.000 bảng. Giá đất đã tăng vọt trong thời gian xảy ra các cuộc chiến tranh với Napoléon, khi tác động chung của áp lực dân số và lạm phát trong chiến tranh làm giá lúa mì tăng gấp đôi. Sau đó, công nghiệp hóa đã đem lại những khoản đậm bất ngờ cho kẻ nào tình cờ ngồi trên những mỏ than hoặc bất động sản ở đô thị, trong khi sự thống lĩnh của giới quý tộc đối với hệ thống chính trị đã đảm bảo cho một dòng tiền thù lao đều đặn từ ví của công chúng. Như thể vẫn chưa đủ, các đại biểu tôn kính của Thượng viện Anh đã tận dụng tối đa vị thế cho phép họ vay xả láng. Một số người vay để "cải thiện" bất động sản của họ, tưới tiêu các cánh đồng và rào chiếm đất công. Những người khác vay để trang trải cho một lối sống tiêu thụ phô trương. Chẳng hạn, các Công tước xứ Devonshire phải chi từ 40% đến 55% thu nhập hằng năm để trả tiền lãi các khoản vay khủng khiếp vào thế kỷ 19. "Tất cả những gì ngài thiếu," một trong các cố vấn pháp luật của họ than vãn, "là sức mạnh của sự tự kiềm chế." [418] Vấn đề là ở chỗ bất động sản, bất kể bạn sở hữu bao nhiêu, chỉ là vật đảm bảo đối với người cho bạn vay tiền. Như cô Demolines đã nói trong vở kịch Last Chronicle of Barset (Biên niên sử cuối cùng của Barset) của Trollope,
"đất đai không thể trốn đi đâu được". [419] Đó là lý do tại sao rất nhiều nhà đầu tư thế kỷ 19 - trong đó có các công ty luật ở địa phương, các ngân hàng tư nhân và các công ty bảo hiểm - đã bị cuốn hút bởi cho vay thế chấp mua nhà như một hình thức đầu tư hoàn toàn không có rủi ro. Ngược lại, vật đảm bảo duy nhất của người đi vay khỏi bị mất bất động sản vào tay những người cho vay là thu nhập của anh ta. Thật không may cho những người sở hữu đất đai lớn của nước Anh dưới triều đại Nữ hoàng Victoria, thu nhập này đột nhiên sụt hẳn. Từ cuối thập niên 1840 trở đi, tác động của sản lượng ngũ cốc tăng lên trên khắp thế giới, cùng chi phí vận tải giảm và các hàng rào thuế quan được hạ thấp - minh chứng là việc hủy bỏ các Đạo luật Ngũ cốc năm 1846 - đã làm xói mòn vị thế kinh tế của các chủ đất. Với giá ngũ cốc tụt từ đỉnh 3 đô la một giạ năm 1847 xuống còn 50 xu vào năm 1894, thu nhập từ đất nông nghiệp cũng tụt theo. Tỷ suất lợi nhuận của bất động sản ở khu vực nông thôn đã tụt từ 3,65% năm 1845 xuống còn có 2,51% vào năm 1885. [420] Như tờ The Economist đã diễn tả: "Không một vật bảo đảm nào ngày xưa là chỗ dựa của lòng tin tuyệt đối hơn thế, mà gần đây lại trở thành kém cỏi tới mức đáng buồn đến thế, đó là đất đai của nước Anh." Với những người có bất động sản ở Ireland, vấn đề còn phức tạp hơn bởi bất ổn chính trị tăng cao. Sự suy tàn và sụp đổ về kinh tế này được minh họa bởi số phận của một gia đình đã xây dựng nên Tòa nhà Stowe ở Buckinghamshire.
Tòa nhà Stowe: một biểu tượng huy hoàng của tầng lớp quý tộc, đã được thế chấp cho vay toàn bộ Tòa nhà Stowe có một cái gì đó thực là cao quý không thể phủ nhận được. Với những dãy cột lớn, mái cổng Vanbrugh đầy ấn tượng và khu vườn Brown hấp dẫn, đây là một trong những mẫu vật đẹp đẽ nhất còn sống sót từ kiến trúc quý tộc thế kỷ 18. Song ngày nay đã có thứ gì đó biến mất khỏi Tòa nhà Stowe - hay đúng hơn là nhiều thứ. Tại mỗi hốc tường của phòng khách lớn bằng đá cẩm thạch hình elip đã từng có một bức tượng kiểu La Mã. Các lò sưởi phong cách thời vua George tuyệt đẹp trong các phòng khánh tiết đã được thay thế bằng các lò sưởi Victoria rẻ tiền và nhỏ bé. Nhiều phòng trước đây từng được nhồi đầy các đồ nội thất lộng lẫy giờ nằm trống rỗng. Vì sao vậy? Câu trả lời là chủ ngôi nhà này đã trở thành nạn nhân cao sang nhất trong vụ sụp đổ bất động sản hiện đại đầu tiên: Richard Plantagenet Temple-Nugent-Brydges-Chandos-Grenville, Tử tước thứ sáu xứ Cobham và Công tước thứ hai xứ Buckingham. Tòa nhà Stowe chỉ là một