Chương 6, những khoản dự trữ tiền kim loại đang nhanh chóng tích lũy của những quốc gia xuất khẩu hàng chế tác và năng lượng đang tạo ra một thế hệ các quỹ lợi ích quốc gia mới. Không chỉ có những loại công ty tài chính mới đang sinh sôi; cả những loại tài sản và dịch vụ tài chính cũng vậy. Vào những năm gần đây, các nhà đầu tư ngày một thêm hào hứng với những chứng khoán được bảo đảm bằng vay mua nhà thế chấp và tài sản khác. Việc dùng các công cụ phái sinh cũng nở rộ, hầu hết được buôn bán qua thị trường ngoài danh mục, trên cơ sở mặt đối mặt, chứ không thông qua những sàn giao dịch công cộng - một xu hướng mang đến lợi nhuận cho những người bán trái phiếu phái sinh nhưng lại có thể có những hậu quả ngoài ý muốn vì không được tiêu chuẩn hóa và nhiều khả năng xảy ra tranh chấp pháp lý khi có khủng hoảng. Nói theo ngôn ngữ tiến hóa thì khu vực dịch vụ tài chính có vẻ đã đi qua một đợt bùng nổ kỷ Cambri kéo dài 20 năm, trong đó các loài tồn tại sẵn thì phát triển mạnh hơn và các loài mới tăng lên. Cũng như trong thế giới tự
nhiên, sự tồn tại của các công ty khổng lồ không ngăn cản sự tiến hóa và tồn tại của các loài nhỏ hơn. Kích thước không phải là tất cả, trong tài chính cũng như trong tự nhiên. Thật vậy, chính những khó khăn nảy sinh khi các công ty nhà nước trở nên lớn và phức tạp hơn - những bất lợi kinh tế do quy mô liên quan đến nền hành chính quan liêu, những áp lực của việc báo cáo hằng quý - đã tạo ra cơ hội để có những dạng công ty tư nhân mới. Điều quan trọng trong tiến hóa không phải là kích thước hay độ phức tạp (quá một mức nào đấy). Tất cả những gì quan trọng là bạn giỏi sống sót và di truyền lại gien của mình. Tương ứng ở giới tài chính là phải giỏi tạo ra lợi nhuận từ vốn và tạo ra những người bắt chước mô hình kinh doanh của mình. Trong thế giới tài chính, sự đột biến và hình thành loài thường là phản ứng tiến hóa với môi trường và sự cạnh tranh, và chọn lọc tự nhiên quyết định những tính trạng mới nào sẽ được phổ biến rộng rãi. Đôi lúc, như trong thế giới tự nhiên, quá trình tiến hóa phải hứng chịu những biến động lớn dưới dạng chấn động địa chính trị và các cuộc khủng hoảng tài chính. Điều khác biệt đương nhiên là ở chỗ các thiên thạch khổng lồ (như thiên thạch đã xóa sổ 85% các loài sinh vật vào cuối kỷ Phấn Trắng) là chấn động ngoại sinh, còn các khủng hoảng tài chính có nguyên nhân nội sinh từ chính hệ thống tài chính. Vụ Đại Suy thoái những năm 1930 và Đại Lạm phát vào những năm 1970 thực sự là những thời điểm gián đoạn lớn, với các vụ "tuyệt chủng hàng loạt" như khủng hoảng ngân hàng những năm 1930 và khủng hoảng Tiết kiệm và Cho vay những năm 1980. Có phải một chuyện tương tự đang xảy ra trong thời của chúng ta không? Đương nhiên là sự suy giảm mạnh của các điều kiện tín dụng vào mùa hè 2007 đã tạo ra những vấn đề lớn với nhiều quỹ phòng hộ, khiến chúng dễ bị các nhà đầu tư thu hồi. Nhưng một đặc tính quan trọng của vụ khủng hoảng tài chính gần đây là áp lực đối với các ngân hàng và công ty bảo hiểm. Lỗ từ chứng khoán được bảo đảm bởi tài sản và những khoản vay mạo hiểm khác có thể nhiều hơn một nghìn tỷ đô la. Vào thời điểm cuốn sách này được viết (5/2008), khoảng 318 tỷ đô la bút toán giảm (ghi lỗ trên sổ sách) đã được ghi nhận, tức là còn hơn 600 tỷ đô la chưa được đưa ra ánh sáng. Từ lúc bắt đầu khủng hoảng, các tổ chức tài chính đã góp được 225 tỷ đô la tiền vốn mới, còn thiếu hụt dưới 100 tỷ đô la một chút. Vì các ngân hàng thường có mục tiêu duy trì bất biến tỷ lệ vốn trên tài sản là dưới 10%, nên các bảng cân đối có thể phải co rút đi đến 1.000 tỷ đô la. Mặc dù vậy, sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng ngầm ngoài bảng cân đối như các "pháp nhân ống dẫn" và các "pháp nhân đầu tư được cơ cấu hóa" khiến việc co rút đó rất khó. Ta vẫn phải chờ xem liệu các ngân hàng lớn của phương Tây có thể chèo lái qua cuộc khủng hoảng này mà không gây ra một thay đổi cơ bản nào cho các hiệp định quốc tế về điều chỉnh mức độ vốn thích đáng (Basel I và II). [669] Ví dụ, ở châu Âu, vốn ngân hàng trung bình bây giờ tương đương với
dưới 10% tài sản (có khi chỉ còn 4%), so với 25% vào đầu thế kỷ 20. Cuộc khủng hoảng năm 2007 đã đánh tan hy vọng của những người tin rằng sự tách biệt giữa việc phát sinh rủi ro và quản lý bảng cân đối tài khoản sẽ phân bố rủi ro trong hệ thống tài chính một cách tốt nhất. Có vẻ khó tưởng tượng được rằng cuộc khủng hoảng này sẽ đi qua mà không còn xảy ra thêm sáp nhập và mua lại, khi mà những công ty tương đối mạnh nuốt những công ty tương đối yếu. Các công ty bảo hiểm trái phiếu có vẻ sẽ phải biến mất. Ngược lại, một số quỹ phòng hộ sẽ phát đạt vì sự trở lại của tính dễ biến động. [670] Cũng có vẻ là sẽ có nhiều dạng tổ chức tài chính mới nảy sinh sau cuộc khủng hoảng. Như Andrew Lo đã nói: "Giống như những cuộc cháy rừng đã qua trên thị trường, ta thường sẽ thấy những hệ động thực vật trác tuyệt nảy nở sau đấy." [671] Có một khác biệt lớn nữa giữa tự nhiên và tài chính. Trong khi sự tiến hóa sinh học xảy ra ở môi trường tự nhiên, với các thay đổi về bản chất là mang tính ngẫu nhiên (nên nhà sinh vật học Richard Dawkins mới dùng hình ảnh người làm đồng hồ mù), thì sự tiến hóa của các dịch vụ tài chính diễn ra trong một khung điều tiết mà ở đó - dùng ngôn từ của những người theo thuyết sáng tạo đối lập với Darwin - sự "thiết kế thông minh" [672] cũng có vai trò. Những thay đổi đột ngột trong môi trường điều tiết khác với những thay đổi đột ngột trong môi trường kinh tế vĩ mô, là thứ tương ứng với những thay đổi môi trường trong thế giới tự nhiên. Một lần nữa, sự khác biệt là ở chỗ có yếu tố nội sinh trong sự thay đổi điều tiết, vì những người chịu trách nhiệm thường từ chỗ săn trộm mà trở thành người canh gác nên họ hiểu rõ cách hoạt động của khu vực tư nhân. Tuy vậy, tác động thực thì tương tự như sự thay đổi của khí hậu đối với tiến hóa sinh học. Các luật lệ và quy định mới có thể khiến những tính trạng tốt đột nhiên trở thành bất lợi. Chẳng hạn, sự đi lên và đi xuống của cuộc khủng hoảng Tiết kiệm và Cho vay