Đồng Tiền Lên Ngôi

phần lớn

phần lớn

phần lớn quay trở lại nước Mỹ, còn quốc gia đi vay thì phải gánh khoản nợ cộng với lãi rất lớn, và thực tế họ trở thành đầy tớ của chúng ta, nô lệ của chúng ta. Đây là một đế chế. Không có cách diễn đạt nào khác. Đây là một đế chế khổng lồ. [576] Theo cuốn sách The Confessions of an Economic Hit Man (Lời thú tội của một sát thủ kinh tế) của Perkins, hai lãnh tụ Mỹ Latin là Jaime Roldós Aguilera của Ecuador và Omar Torrijos của Panama đã bị ám sát năm 1981 vì đã chống lại cái mà tác giả gọi là "hội đồng môn những người đứng đầu tập đoàn, chính phủ và ngân hàng, có chung mục tiêu là đế chế toàn cầu". [577] Phải thú thực là có một cái gì đó trong câu chuyện mà mới nhìn qua đã thấy có vẻ hơi khác thường. Không phải là Mỹ đã cho Ecuador và Panama vay rất nhiều tiền. Trong thập niên 1970, tổng số tiền các nước này vay chỉ là 96 triệu đô la và 197 triệu đô la, chưa đến 0,4% tổng số viện trợ và cho vay của Mỹ. Và cũng không phải Ecuador và Panama là những khách hàng lớn của Mỹ. Năm 1990, hai quốc gia này chỉ chiếm tương ứng 0,17% và 0,22% tổng xuất khẩu của Mỹ. Những con số này có lẽ không đáng phải chém giết. Như Bob Zoellick đã diễn đạt, "Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới chọn các quốc gia đang bị khủng hoảng để cho vay tiền, chứ không phải các quốc gia mang lại các cơ hội khổng lồ cho doanh nghiệp Mỹ."

Jaime Roldós Aguilera của Ecuador...

...và Omar Torrijos của Panama: được cho là các nạn nhân của những "sát thủ kinh tế" Mặc dù vậy, lời buộc tội chủ nghĩa đế quốc mới không chịu biến mất. Theo nhà kinh tế học được giải Nobel là Joseph Stiglitz, nguyên kinh tế gia trưởng tại Ngân hàng Thế giới từ năm 1997 đến 2000, thì IMF trong thập niên 1980 không chỉ "bảo vệ cho tính ưu việt của thị trường với một sự hăng hái về tư tưởng hệ" mà còn "có quan điểm khá đế quốc" về vai trò của mình. Hơn thế nữa, như Stiglitz lập luận, "rất nhiều trong số các chính sách mà IMF đã ép buộc, đặc biệt là việc tự do hóa thị trường vốn quá sớm, đã góp phần tạo ra sự bất ổn định trên toàn cầu... Công ăn việc làm bị hủy hoại một cách có hệ thống... [bởi vì] luồng chảy của dòng tiền nóng vào và ra khỏi quốc gia, thường diễn ra sau khi thị trường vốn được tự do hóa, luôn để lại sự tàn phá sau lưng... Thậm chí ngay cả những nước đã đạt được mức tăng

trưởng giới hạn cũng đã chứng kiến những lợi ích ấy tập trung vào những người khá giả hoặc rất khá giả." [578] Trong sự oán giận của ông đối với IMF (và Phố Wall), Stiglitz đã bỏ qua một thực tế là, không chỉ có các tổ chức đó đã ủng hộ cho sự trở lại của luồng vốn tự do trong thập niên 1980. Thực ra chính Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã san ủi để mở ra con đường tự do hóa, và tiếp theo sau (sau sự đổi màu của những người Pháp theo chủ nghĩa xã hội như Jacques Delors và Michel Camdessus) là ủy ban châu Âu và Hội đồng châu Âu. Trên thực tế, dường như đã có Đồng thuận Paris còn trước cả Đồng thuận Washington (mặc dù trên nhiều khía cạnh, nó được xây dựng dựa trên Đồng thuận Bonn có từ sớm hơn nhiều, ủng hộ các thị trường vốn tự do). [579] Ở London cũng vậy, chính phủ của Margaret Thatcher đã hối thúc việc đơn phương tự do hóa tài khoản vốn mà không hề có sự thúc ép nào từ phía Mỹ. Đúng hơn, chính chính quyền Reagan đã bước theo sự dẫn đường của Thatcher. Lời than phiền lớn nhất của Stiglitz đối với IMF là tổ chức này đã phản ứng một cách sai lầm trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 khi cho vay tổng cộng là 95 tỷ đô la tới các quốc gia đang gặp khó khăn, song lại gắn với các điều kiện theo kiểu Đồng thuận Washington (như lãi suất cao hơn, thâm hụt ngân sách chính phủ thấp hơn), những thứ trên thực tế là nguyên nhân làm tồi tệ thêm cuộc Khủng hoảng đó. Quan điểm được nhắc lại phần nào bởi nhà kinh tế học và nhà bình luận Paul Krugman [580] . Không ai còn nghi ngờ về mức độ khốc liệt của cuộc Khủng hoảng 1997- 1998. Ở những quốc gia như Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc và Thái Lan, suy thoái nghiêm trọng đã xảy ra năm 1998. Song cả Stiglitz lẫn Krugman đều không đưa ra được một đề xuất nào thuyết phục để kiểm soát tốt hơn cuộc khủng hoảng Đông Á dựa trên các đường lối tiêu chuẩn trên tinh thần Keynes, trong đó các đồng tiền được phép thả nổi còn thâm hụt của chính phủ được phép tăng lên. Theo những lời lẽ gay gắt trong bức thư ngỏ gửi Stiglitz của Kenneth Rogoff, người đã trở thành kinh tế gia trưởng của IMF sau cuộc khủng hoảng châu Á: Các chính phủ thường tìm đến sự hỗ trợ tài chính của IMF khi họ gặp khó khăn không tìm được những người mua khoản nợ của họ và khi giá trị đồng tiền của họ sụt giảm. Đơn thuốc của Stiglitz là tăng... thâm hụt ngân sách, có nghĩa là phát hành nhiều nợ hơn nữa và in nhiều tiền hơn nữa. Ông dường như tin rằng nếu một chính phủ đương cơn khốn quẫn phát hành thêm tiền giấy, tiền ấy sẽ đột nhiên có thêm giá trị trong mắt người dân. Ông dường như tin tưởng rằng một khi các nhà đầu tư không còn mong muốn nắm giữ nợ của chính phủ, tất cả những gì cần làm là chỉ việc tăng cung lên và trái phiếu sẽ bán chạy như là bánh mì nóng hổi. Chúng tôi tại IMF - không, hãy hiểu là chúng tôi trên hành tinh Trái đất này - có kinh nghiệm dày dặn hơn

để đề xuất một điều khác. Chúng tôi, những kẻ trần tục, đã phát hiện ra rằng khi một quốc gia đang trong tình trạng nguy khốn về ngân sách tìm cách thoát ra bằng việc in thêm tiền thì lạm phát sẽ tăng lên, mà thường là không thể kiểm soát nổi... Các định luật của kinh tế học có thể khác biệt ở góc vũ trụ của các ông, song ở đây, chúng tôi phát hiện ra rằng nếu một chính phủ hầu như đã phá sản không có khả năng giới hạn một cách đáng tin cậy lịch trình thâm hụt ngân sách, sự việc thường là sẽ trở nên tồi tệ hơn chứ không phải tốt đẹp hơn. [581] Một điều chưa rõ ràng nữa là liệu việc Malaysia tạm thời áp đặt sự kiểm soát luồng vốn vào năm 1997 có tạo ra khác biệt đáng kể nào đối với nền kinh tế này trong thời gian khủng hoảng hay không. Krugman ít nhất cũng thừa nhận rằng các tổ chức tài chính của Đông Á, những người đã vay ngắn hạn bằng đồng đô la song lại cho vay dài hạn bằng đồng nội tệ của mình (thường là cho nhóm lợi ích), phải chịu

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 114

Đang tải bình luận...