phần mở rộng thêm bảng cân đối so với nguồn dự trữ, còn các ngân hàng tiết kiệm lôi kéo thành công được tiền gửi từ các hộ gia đình trung lưu và hạ lưu. [545] Tất cả các xu hướng kinh tế tốt lành đó đã khuyến khích tâm trạng lạc quan. Đối với nhiều nhà kinh doanh - từ Ivan Bloch ở nước Nga Sa hoàng đến Andrew Carnegie ở nước Mỹ - một cuộc chiến tranh lớn hiển nhiên sẽ là thảm họa đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa. Năm 1898, Bloch đã công bố một công trình đồ sộ gồm 6 tập mang tên The Future of War (Tương lai của chiến tranh), trong đó ông lập luận rằng, do những tiến bộ công nghệ về sức tàn phá của vũ khí, chiến tranh nhất định là không có tương lai. Bất kỳ một âm mưu nào nhằm phát động chiến tranh trên quy mô lớn sẽ kết thúc với sự "phá sản của các quốc gia". [546] Năm 1910, cùng năm mà Carnegie thành lập Quỹ vì Hòa bình Quốc tế của ông, nhà báo Anh có khuynh hướng cánh tả Norman Angell đã công bố cuốn sách The Great Illusion (Ảo tưởng vĩ đại), trong đó lập luận rằng một cuộc chiến tranh giữa các cường quốc lớn là điều không thể làm được về mặt kinh tế chính bởi vì "tính liên thuộc phức tạp của nền tài chính được xây dựng dựa trên tín dụng của chúng ta". [547] Vào mùa xuân năm 1914, một ủy ban quốc tế đã công bố báo cáo về những tội ác trong thời gian diễn ra các cuộc chiến tranh ở vùng Balkan năm 1912-1913. Bất chấp bằng chứng mà ông và các đồng nghiệp của mình gặp phải, cho thấy chiến tranh có thể nảy sinh từ thù hận giữa các dân tộc, vị chủ tịch ủy ban này vẫn nhận xét trong lời mở đầu cuốn sách là các cường quốc lớn ở châu Âu (không giống như các quốc gia hèn mọn của vùng Balkan) "đã phát hiện ra một sự thật hiển nhiên, là nước giàu có thì có nhiều thứ để mất nhất trong chiến tranh, và mỗi quốc gia đều ước muốn hòa bình trên hết". Một trong những thành viên người Anh của ủy ban này là Henry Noel Brailsford - người ủng hộ trung thành đảng Lao động Độc lập và tác giả cuốn sách chỉ trích mạnh mẽ ngành công nghiệp vũ trang (cuốn The War of Steel and Gold [Cuộc chiến tranh của thép và vàng]) - đã tuyên bố: Ở châu Âu, thời đại của chinh phục đã qua rồi và ngoại trừ ở Balkan,
cùng ở vùng ven rìa các đế quốc Áo và Nga, có lẽ, một điều chắc chắn trong chính trị là biên giới các quốc gia dân tộc của chúng ta cuối cùng đã được vẽ xong. Cá nhân tôi tin tưởng rằng sẽ không còn có thêm cuộc chiến tranh nào nữa giữa sáu cường quốc [548] . [549] Các thị trường tài chính lúc đầu đã nhún vai bỏ qua vụ Gavrilo Princip ám sát người thừa kế ngai vàng Áo là Thái tử Franz Ferdinand tại thủ đô Sarajevo của Bosnia ngày 28/6/1914. Chỉ đến ngày 22/7 thì báo chí tài chính mới bày tỏ một nỗi lo ngại thực sự nào đó, là cuộc khủng hoảng Balkan có thể sẽ leo thang thành cái gì đó lớn hơn và nguy hiểm hơn về kinh tế. Tuy nhiên, khi các nhà đầu tư hiểu ra một cách muộn màng về khả năng có thể xảy ra một cuộc chiến tranh trên quy mô toàn châu Âu thì thanh khoản đã bị hút sạch khỏi nền kinh tế thế giới như thể cái bồn tắm bung mất đáy. Triệu chứng đầu tiên của cuộc khủng hoảng là việc tăng phí bảo hiểm vận tải đường biển tiếp sau tối hậu thư của Áo cho Serbia (trong đó đòi hỏi, ngoài những thứ khác, rằng các quan chức Áo phải được phép đến Serbia để tìm kiếm chứng cứ về sự đồng lõa của Belgrade trong vụ ám sát). Giá trái phiếu và cổ phiếu bắt đầu trượt xuống khi các nhà đầu tư thận trọng tìm cách tăng tính thanh khoản cho mình bằng cách chuyển dịch sang tiền mặt. Các nhà đầu tư châu Âu đã nhanh chóng đi đầu bán các chứng khoán Nga, tiếp theo sau họ là các nhà đầu tư Mỹ. Tỷ giá hối đoái diễn biến rối loạn trước việc các nhà cho vay xuyên biên giới tìm cách hồi hương tiền của mình: đồng bảng Anh và franc Pháp thì lên giá, trong khi đồng rúp Nga và đô la Mỹ thì mất giá. [550] Đến ngày 30/7 sự hỗn loạn đã ngự trị trên hầu hết các thị trường tài chính. [551] Các công ty đầu tiên bắt đầu chịu áp lực ở London là những kẻ đầu cơ tại Sở Giao dịch Chứng khoán, vốn dựa chủ yếu vào việc vay tiền để huy động tài chính mua cổ phiếu. Khi lệnh bán bắt đầu ập đến, giá trị các cổ phiếu họ nắm giữ đã tụt xuống dưới giá trị nợ của họ, điều đã buộc một số công ty (đáng chú ý nhất là Derenberg & Co.) phải tuyên bố phá sản. Cũng chịu áp lực còn có các nhà môi giới thương phiếu ở London, trong số đó nhiều công ty là chủ nợ những khoản tiền lớn với các đối tác ở châu Âu lục địa hiện không có khả năng hoặc không muốn trả nợ. Những khó khăn ấy sau đó lại tác động lên các cơ sở chấp nhận hối phiếu (tức là các ngân hàng thương mại tinh hoa); họ sẽ nằm ở tuyến đầu nếu như những người nước ngoài vỡ nợ, bởi vì họ là người chấp nhận các hối phiếu. Nếu các cơ sở chấp nhận hối phiếu sụp đổ, thì các nhà môi giới hối phiếu cũng sẽ chìm xuồng cùng với họ, và có thể là cả các ngân hàng cổ