Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

phần dây thần kinh hông”.

phần dây thần kinh hông”.

phần dây thần kinh hông”. Bất chấp những "vết xước” có thể đến trên sườn một người bình thường,

345 Sécgiăng nhận thấy cầu trên sông đã bị Việt Minh đánh, anh liền "bơi vượt sông Nậm Rốm trước khi đến một cảm giác an toàn biết bao - một hầm trú ẩn dưới đất, hôi hám và nhớt dính, đầy những người bị thương đang chờ đợi "Tôi đã đến được trạm giải phẫu của bác sĩ Viđan”. Trong các hào, các y tá đi, lại, cố an ủi những người bị thương nặng nhất trong khi chờ đợi một bác sĩ phẫu thuật để xong việc. Những vết thương đầu tiên là do mảnh đạn, nhưng mệnh hệ đối với những con người có vết thương do đạn cắt xuyên từ dưới lên sẽ không còn lâu nữa. Trên quả đồi có hàng ngàn vết thương, các lính dù hy vọng pháo kích chấm dứt và bộ binh Việt Minh chờ hiệu lệnh để lao lên. Hiệu lệnh đó là việc châm lửa cho quả mìn đặt dưới vị trí Pugiê. Giống như những quả mìn đã phá vỡ mô đất Vôqua và mỏm Êpácgiơ năm 1914-1918, quả mìn nổ dưới đại đội Étmơ, nhưng kết quả của nó gây ấn tượng mạnh hơn là có tác dụng quyết định và quân số của khoảng một trung đội hình như đã bị hút vào hố bom. Bây giờ không phải là lúc thống kê nạn nhân và những người sống sót đang bị kinh hoàng, choáng váng trong các lô cốt mà một số hiện còn lảo đảo, cũng không phải là lúc kêu gọi những người bị vùi trong đất mỡ và chết vì nghẹt thở chưa kịp hiểu rằng đất đá bị hẫng dưới chân họ. “Là phó đại đội trưởng của đại đội Étmơ, trung uý Phétxơlê chứng minh, tôi cố gắng giúp ích giữa hầm sở chỉ huy và đường hào ngoại vi, nơi người của chúng tôi đang dàn thành hàng những nhóm nhỏ. Trong cảnh huyên náo của những tiếng nổ đạn cối, các cuộc bắn pháo và tiếng rít chói tai của các "cây đàn ống Stalin", vụ nổ không gây lên một tiếng động như người ta tưởng. Tôi ở trong hầm sở chỉ huy cửa đại uý Étmơ và chúng tôi quả là đã bị lắc theo nhịp, đất rung chuyển và một khối lượng rất lớn đất, đá, mảnh vụn, đủ thứ đã phủ kín vị trí, ở đó trung đội 2 hầu như bị chôn vùi. Hậu quả của vụ nổ có thể chưa đáp ứng sự mong đợi của Bộ chỉ huy Việt Minh bởi vì họ đã hoãn cuộc xung phong cuối cùng để bồi thêm cho chúng tôi một "trận đòn dùi cui” mới (bắn phá”). Khi thấy đất rung lên dưới đế giày, Pugiê tự đặt câu hỏi: phải chăng đây là một loại đạn mới, một loại tên lửa tự đẩy có nhồi thuốc nổ? Rồi ông hiểu ra là một đường hầm đã được đào dưới quả đồi thứ Năm. Những hồi ức của năm 1916 đang dồn đến... Song Việt Minh đã tính toán sai công việc của họ; một sai số khoảng hai mươi mét đã đặt lại vấn đề. Sau khi phóng hỏa đốt, các đại đội của thê đội một phải tấn công và lợi dụng tình thế? Khi những người sống sót của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa đang ở trong trạng thái ngây dại. Thế nhưng, như Phétxơlê đã chỉ ra, pháo binh địch tiến hành một cuộc chuẩn bị hỏa lực mới nhằm bù đắp vào những khiếm khuyết của vụ nổ ngầm dưới đất. Khi pháo binh

346 im lặng, bộ binh nhảy lên bờ hào và lao lên. Điều khiển bằng còi, một trung đoàn gồm ba tiểu đoàn leo lên đồi, mở đường xung phong ở cả ba mặt. Một đại đội xông vào đột phá khẩu mở bằng mìn, trong lúc thiếu uý Nicôla Pôn, sĩ quan thứ ba của đại đội Étmơ toan tập hợp binh sĩ để chiếm lại những vị trí đã bị phá hủy. Ở đơn vị Pugiê, sự đón tiếp dành cho kẻ tấn công ở trung đội của thiếu uý Óclơvski cũng ác liệt như ở trung đội của trung uý Giuyliên. Ở chỗ Néctu, nhiều người là nạn nhân của vụ nổ, do bị sức ép hoặc bị những mảnh vụn rơi trúng như những viên đá cuội ném từ trên trời xuống. Néctu: “Bộ binh Việt Minh tiếp cận rất nhanh chóng vị trí của chúng ta, nơi quân số của ta dàn mỏng. Chúng tôi không thể cùng một lúc có mặt ở mọi nơi và tôi cảm thấy đã đến lúc phải đánh giáp lá cà. Tôi không biết máy bay - đom đóm còn chiếu sáng bãi chiến trường không, nhưng những chớp lửa không ngớt, những tiếng nổ, những ngọn lửa, sức ép, đưa chúng tôi vào một thế giới mà chúng tôi không còn là mình nữa. Rồi mưa rơi quất vào mặt chúng tôi như chỉ những cơn mưa rào nhiệt đới mới có thể làm được, góp thêm vào những khó khăn”. Trung sĩ Moren thuộc đại đội Étmơ, nhảy vào hào và sẵn sàng đợi lệnh Néctu. - "Chúng đông quá?", anh giải thích, vừa tiếp tế thêm lựu đạn. Viên sĩ quan đưa anh vào sở chỉ huy của mình vào lúc hạ sĩ nhất Mâyxonniê đưa cho ông xem khẩu tiểu liên bị mảnh đạn làm vỡ. Néctu cho anh khẩu súng của mình và rút khẩu Côn ra khỏi bao. Phó của ông, thượng sĩ nhất Nôdê, bị thương và phải rời khỏi chiến đấu, chẳng bao lâu trung sĩ Zoóc cũng đi theo anh. Hàng ngũ thưa dần nhưng Néctu bảo tồn ý nghĩa của thực tại: "Mỗi cuộc xung phong bị đẩy lùi, những cuộc thâm nhập lại diễn ra và chúng tôi bù lẫn nhau, giúp đỡ nhau. Tôi bị ám ảnh về việc đạn dược cạn dần". Trên Êlian 4, Tơrêhiu liên lạc bằng rađiô với "Gianíc" Đuypia. Sau khi dội pháo vào đơn vị ông, địch tung bộ binh ra tấn công. Những tiếng thét tiếp theo tiếng còi. “Vào khoảng 21 giờ, Tơrêhiu viết, những đơn vị nhỏ của địch đã thâm nhập vào được và những cuộc chiến đấu đã đến một mức độ ác liệt hiếm thấy. Đuypia báo cho tôi biết những tổn thất lớn nhưng anh đẩy lui những đợt xung phong đầu tiên và sau khi lập lại trật tự trong đội hình chiến đấu, anh nắm được tình hình. Việt Minh bị tổn thất cao và khu vực chiến đấu hình như lắng dịu. Nhưng rồi một cuộc pháo kích mới lại ập xuống các hào chiến đấu. "Hãy bắn lại đi!" Đuypia van

347 nài tôi”. Bằng rađiô, Tơrêhiu đòi phản pháo, nhưng ông có biết chăng từ đầu chiến dịch, các pháo thủ đã không biết vị trí pháo địch ở đâu? ông yêu cầu bắn thật sát vào vị trí để làm câm họng pháo không giật và SKZ mà người ta định vị được cái lưỡi lửa dài màu vàng khi chúng ngắm vào các lô cốt. Bỗng nhiên, liên lạc rađiô giữa sở chỉ huy của đại đội 4 và Đuypia bị cắt. Tơrêhiu gặng hỏi: "Allô "Gianíc”, xảy ra điều gì vậy? "Gianíc" trả lời đi? . "Gianíc" chẳng bao giờ trả lời đại uý của mình nữa. (Chú thích: Sinh năm 1927, Giăng Mari Đuypia nhập ngũ năm 1947. Nhập vào bán lữ đoàn dù và lên tàu tháng 9-1953. Được bổ dụng về tiểu đoàn dù thuộc địa ngày 1-10-1953 với quân hàm trung uý. Bị thương ở Mường Sài, nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 5-5- 1954.) Lo lắng, Tơrêhiu ra lệnh cho thiếu uý Ginbe Oóchong, hai mươi sáu tuổi đi trinh sát. Đạn đã nghiền nát đồn tiền tiêu và Việt Minh đã quét dọn bằng lựu đạn. Tơrêhiu tổ chức phản kích và ngăn chặn các cuộc thâm nhập. Trung đội Đuypia chỉ còn ba người Âu bị thương; "Gianíc" là một trong số người ngã xuống đầu tiên. "Tôi thấy anh nằm bẹp dưới đất, Oóchong nói, tinh thần phân tán...". Mặt đầy máu, một trung sĩ báo cáo với giọng nói ngắt quãng. "Chúng tôi còn một người nữa bị giết, thượng sĩ Raybô. Anh ấy bị thương, nhưng các lính người Việt của anh đã bỏ mặc anh”. Nổi giận, Tơrêhiu ra lệnh bắn vào bọn chạy trốn, rồi Oóchong tập hợp lại những người còn mạnh khỏe và bố trí lại "Suốt đêm, Tơrêhiu viết thư cho bố "Gianíc", những cuộc đụng độ ác liệt lại tiếp diễn. Hết phản kích này phản kích khác dẫn đến những cuộc giáp lá cà đẫm máu gây nên, than ôi những tổn thất lớn. Chúng tôi sẽ bị giết chết hoặc bị thương hết, chỉ một người trong binh sĩ của tôi vô sự thoát khỏi lò lửa khốc liệt này". Trung sĩ Đuynhát bị mảnh đạn giết chết, Sơmít cũng vậy, trung sĩ Kécđraông bị thương ở chân rồi mất tích như nhiều người khác mà người ta không rõ Việt Minh đã tóm được hay là một quả đạn đã chôn sống họ: Sarajanh, Lơđuýc, Lơ Pa, Crêchiêng, Girơđê, Sácthơ. Những người bị thương kêu gọi, những người khác lẩn trốn để khỏi bị kết liễu: Moren, trung sĩ Lêcan, Pribiơ, Tilly trung sĩ Rôbe Pécny. Thiếu uý Oóchông cũng bị đạn, nhưng chẳng ai chú ý đến họ trong cái ồn ào hỗn độn mà thần lửa dường như đang thè lưỡi liếm quả đồi và đáy các hầm hào, trong đó có những người nằm co quắp trong bùn và máu bị người ta

348 dẫm lên mà không hay là người chết hay người bị thương, bạn hoặc thù. Trung sĩ nhất Grêgori mất tích và thiếu uý Gibô thì bị giết lúc anh đến gặp đại uý Badanh (Chú thích: Sinh năm 1931, Ray mông Gibô nhập ngũ 1951. Tình nguyện sang Đông Dương. Thiếu uý (dự bị) tháng 4-1953, lên tàu ngày 5-6. Sĩ quan thông tin ở tiểu đoàn 1 dù thuộc địa ngày 10-1-1954, nhảy xuống Điện Biên Phủ ngày 5- 5.). Êlian 4 nhả khói như một nhà máy hoạt động trở lại sau một cuộc đình công dài, trong lúc pháo kích của Việt Minh đã chuyển sang hậu cứ để tìm kiếm các khẩu cối 120 và pháo 105 của trung tá Vayăng. “Ban đêm, Tơrêhiu nói tiếp, một trận lở tuyết khác bằng lửa đạn đã ào xuống, kèm theo một đợt xung phong mới. Mọi cái đổ sụp và nhìn thấy Việt Minh cách không đầy 200 mét, bị quấn trong rào dây kẽm gai, chúng tôi ngắm bắn như bắn thỏ nhưng không thể ngăn chặn bước tiến của họ vì họ rất đông. Tôi nhảy vào sở chỉ huy chỗ thiếu tá Brêsinhắc và đại uý Badanh để yêu cầu họ cử một đơn vị đi phản kích. Khoảng mười lăm người đã được tập hợp lại dưới quyền chỉ huy của trung uý Pốtchiê thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù, nhưng đúng lúc chúng tôi xuất kích thì một quả đạn nổ sau lưng chúng tôi. Đại uý Păngđuýp bị ngã sõng soài trên mặt đất, đại uý Badanh kêu la đau đớn, (Chú thích: Đại uý Badanh bị thương ở cẳng chân và tôi bị thương sọ não", Phrăngxoa Penđuýp như có cả một đầu máy xe hỏa ở ..." Theo trung uý bác sĩ Stanb, Badanh "bị thương ở nhiều chỗ vì mảnh đạn: ở má phải, vai phải, ngực bên phải và đầu gối phải". Đã ở nhiệm kỳ 3 từ cuối 1952, đại uý Đờ Badanh Đờ Bơđông, được thăng chức tiểu đoàn trưởng ngày 1-7.) một cảnh huyên náo đinh tai, bụi và khói làm mù mắt. Chúng tôi đã cố gắng tập hợp lại những người còn khỏe mạnh nhưng chỉ còn lại 5 người những người khác đã chết hoặc bị thương. Tôi trở lại đồn của mình, bắn như điên dại và thất vọng: một viên đạn ngang bằng một Việt Minh bị đo ván. Tôi xả hết đạn thì nghe trên rađiô tiếng nói của Brêsinhắc yêu cầu pháo bắn vào chúng tôi, vào Êlian 4. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã thất bại. Một quả đạn trúng hào và tôi ngã lăn ra, được mũ sắt bảo vệ nhưng bị trúng mảnh đạn ở cổ và ở vai; tôi chắc rằng mình đã bất tỉnh. Pốtchiê và hạ sĩ nhất Moren kéo tôi vào một cái hốc đào trong vách hào, nhờ đó tôi được cứu sống, đợt xung phong đầu tiên của Việt Minh đi qua trên đầu chúng tôi nhưng họ không có thời gian để "quét sạch" vị trí”. Trên đỉnh Êlian 4, thiếu uý Latan tự hỏi anh có thể giữ được bao lâu: “Vào khoảng 2 đến 3 giờ sáng, tình hình đã trở nên không thể giữ vững. Có những quả đạn trúng đích, những khẩu cối bị phá hủy, những pháo thủ bị thương đã được đưa đến bệnh xá ở bên cạnh sở chỉ huy của thiếu tá Bôtenla. Bằng rađiô, tôi đã báo cáo và tôi có cảm giác về một sự lộn xộn lớn trên hệ thống rào, tuồng

349 như không ai nghe ai nữa. Tôi chủ động đi xuống với người của tôi. Tôi đội mũ sắt nặng với một cuộn băng cá nhân buộc bằng một cái dải để làm ga rô, tôi ở trần nhưng không thể nói cái áo vét của tôi ở đâu. Đi trên sườn đồi với đôi giầy đi rừng mà không mang tất, tôi cầm khẩu các bin Mỹ trong tay và chiếc máy rađiô trên lưng. Một sự hỗn độn toàn bộ. Những tiếng kêu, những tiếng nổ, những tia chớp. Các đường hào đầy những chiến binh đang thét và cựa quậy như họ đang tìm cách thở. Tôi không biết đâu là bạn đâu là thù nữa bởi vì thổ ngữ của những người Việt ở chỗ chúng tôi cũng giống như ngôn ngữ của những người đối diện. Điều đó trong đêm tối, chẳng làm thuận lợi gì cho mọi việc, hơn nữa, một số lại đầu trần... Làm sao mà biết đó là ai? Tôi tìm thiếu uý Makôviác. Khi "đom đóm" nổ, chiếu sáng phong cảnh "mặt trăng", tôi cảm thấy có một đám đông sôi động đang kêu thét, vừa cố gắng tiến lên trong sự ồn ào hỗn độn, vừa bắn. Bỗng nhiên, khi tôi đang định bỏ máy rađiô xuống khỏi vai, thì bị lóe mắt bởi một luồng ánh sáng chói nổ ở dưới chân tôi. Tôi tưởng chân tôi đã bị nát ra vì tôi rất đau đớn. Tôi thét lên nhưng tiếng thét bị chìm đi trong môi trường ồn ào hỗn độn và đêm tối. Chắc chắn mình là người duy nhất nghe tiếng kêu của mình. Tôi đưa tay vào chỗ đùi, nơi bị đau nhói. Lần từng bước, tôi hiểu rằng các vết thương nằm trên đầu gối phải và dưới chiếc quần rách nát, tôi cảm thấy một khối nhão nhớt âm ấm và dính nhem nhép. Dựa vào thành hào, tôi không còn cử động được nữa. Chỉ còn cái chân trái, dù rất đau đớn, còn mang được người tôi. Tôi trườn nhẹ nhàng xuống mặt đất bùn lầy và lấy cuộn băng duy nhất để làm một ga rô ở đùi vì tôi nghĩ mình đã mất quá nhiều máu. Tôi nhìn không rõ và quấn băng như thể trên đồi này chỉ có mỗi mình mình, tôi khập khiễng đi bằng một chân, vẫn mang cái rađiô và cầm khẩu các bin, tôi cố gắng vượt qua đám đông xô đẩy để tìm sở chỉ huy đại đội. Chẳng chú ý đến các cuộc bắn phá và tiếng nổ gây thành những luồng sáng trong trời đêm, tôi cố gắng tránh các chướng ngại. Giữa sự sôi động chung, tôi gặp Makôviác, anh nhìn thấy tôi trong tình trạng như thế liền giúp tôi tìm một nơi đỡ lộ liễu hơn. Hình như cái đám hỗn độn mà tôi đã đi qua chỉ có một diện tích hạn hẹp và phía bên kia nơi đường hào kéo dài, có một sự yên tĩnh tương đối. Yên bình không phải là một từ đúng, nhưng rõ ràng ít ồn ào hơn”. Latan không biết gì về bước tiến của địch. Anh cũng không biết sở chỉ huy của Bôtenla còn giữ được không. Buổi bình minh ngày 7-5 sắp nhú ra ở Điện Biên Phủ, người ta vẫn đánh nhau trên Êlian 4 và Latan hiểu rằng anh phải đi tìm bác sĩ Ruôn để đưa ông xem các đầu gối bị nghiền nát của mình. Trước mặt, những vẫn đề còn lại đối với anh là thứ yếu. Trên Êlian 10, các lính dù của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa tiếp tục chiến đấu và tinh

350 thần của họ lại mạnh hơn sự mệt nhọc của họ. Họ đấu kiếm như ngày đầu tiên nhưng hai đại đội nhỏ với hai ông đại uý Tơráp và Lơ Pa không thể chống lại sức ép của một trung đoàn có pháo binh được tiếp tế tốt, chi viện. Tơráp giữ lòng tin, bởi vì, anh viết, "một cuộc tổng thoát vây của tất cả các tiểu đoàn dù về phía Lào đã được trù định". Dưới ánh sáng đã dịu bớt của máy bay - đom đóm, bộ binh Việt Minh trông giống như một đám người đông đúc lượn sóng và, như trên Êlian 4, các đợt xung phong đầu tiên giống như sự va chạm của các đấu sĩ La Mã. Trong một số chiến hào, ngực đối ngực, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, quả lựu đạn cuối cùng và có lúc, khi hai người hung dữ gặp nhau, họ đánh nhau bằng dao găm. Các cuộc chiến đấu đạt đến đỉnh điểm đến mức Biga ngần ngại ngừng cuộc bay vòng của máy bay - đom đóm để thả xuống trong bóng tối đại đội Phốtxuyariê của tiểu đoàn 1 dù thuộc địa do những máy bay Băng giơ đang lượn vòng trên đầu Điện Biên Phủ được chiếu sáng. Nếu các Êlian không được chiếu sáng nữa, Việt Minh sẽ thâm nhập vào vị trí. Biga liên lạc bằng rađiô với đại uý Lơ Pa giơ, ông này lại còn muốn cân nhắc xem có cần thôi chiếu sáng trận địa không. Chính ông phải lựa chọn. Một mặt, một đại đội dù còn mới mẻ, sung sức đến tăng viện, mặt khác là nguy cơ phá vỡ tuyến phòng ngự của gian 10. "Bruynô đặt vấn đề và câu trả lời không phải chờ đợi: "Lơ Pa giơ gửi "Bruynô". Ông cứ tiếp tục thả đom đóm. Hết". Lý do đã được quyết định. Bị súng phòng không săn đuổi, máy bay quay về hướng châu thổ, trung uý Phốtxuyariê nổi cáu vì anh đã thành người vắng mặt mà người ta chú ý nhất đêm đó; lần đầu tiên anh chỉ huy đại đội đi chiến đấu. Đại úy Tơráp còn có chừng sáu chục lính dù trong đêm mồng 6 và vào đầu đêm, vị trí mà họ phòng ngự bị những toán trinh sát Việt Minh thâm nhập, quân số của những toán này tăng lên hàng giờ. Dầu có máy bay đom đóm, các lô cốt cũng bị đánh vu hồi từ sau lưng, những chiến binh lẻ bị đánh gục hoặc bị bắt, những người khác thì tìm cách bám víu vào một cơ quan chỉ huy. “Vào khoảng 22 giờ, Tơráp xác nhận, những đợt xung phong đầu tiên đã tiếp cận trận địa phòng ngự của chúng tôi và bám chân vào vị trí. Sau một lúc lẫn lộn, chúng tôi đã khôi phục tình thế và suốt đêm diễn ra những cuộc đánh nhau dữ dội trong các đường hào. Việt Minh hơi lẩn vào người của chúng tôi, nhưng chúng tôi khó nhận ra vì tối quá”. Vào lúc anh đang dẫn đầu một nhóm người hăng hái, trung uý Samalăng đến một chỗ nguy hiểm nhất để tăng thêm sức mạnh cho một cuộc phản kích, một viên đạn đã trúng anh khi anh đang vận động. (Chú thích: 1 Sinh năm 1925, Ăngdrê

351 Samalăng nhập ngũ lúc 17 tuổi ở trung đoàn pháo 65. Lên tàu đi Đông Dương ngày 29-8-1953. Về tiểu đoàn 6 dù thuộc địa ngày 20-9, nhảy xuống Điện Biên Phủ với tiểu đoàn Biga.). Anh ngã ngửa về phía sau, hai tay dang ra, ngón tay còn nắm chặt khẩu tiểu liên như bức ảnh nổi tiếng của Capa chụp trong chiến tranh Tây Ban Nha. Viên đạn trúng Samalăng trong lúc anh đang lao lên dẫn đầu cuộc xung phong như đó chính là cuộc sống của anh. Đúng như vậy, buổi tối hôm đó, vấn đề chính là cuộc sống của anh. Bị giết ngay tức khắc, anh ngã xuống giữa những dây kẽm gai nhưng chẳng ai dừng lại để giúp anh hoặc đề lường được sự trầm trọng của vết thương. Một cuộc phản kích chỉ kết thúc bằng thắng lợi hoặc bằng cái chết. Tuy nhiên đã cảm thấy có một sự dao động, cái chết của Samalăng mở cửa cho Việt Minh vào, họ la hét, bắn và ném lựu đạn. Tiểu đoàn 6 đã không còn chất lượng đội ngũ. Trung sĩ nhất Mênagiơ, hai mươi hai tuổi, là một người kỳ cựu của tiểu đoàn. Làm trung đội trưởng ở đơn vị Tơráp, anh chỉ có khoảng mười lăm người lúc bị tấn công và hai khẩu đại liên cảnh giới sườn đã đóng một vai trò ngăn chặn cho đến lúc Việt Minh chọc thủng ở phía trung đội Samalăng. “Chúng tôi cầm cự cho đến 23 giờ, Mênagiơ chứng minh, rồi bị đánh tập hậu, tôi thoát ra với 7-8 người. Quá nửa đêm một tý, tôi bị thương ở chân trái vì một quả lựu đạn nổ, giết chết hạ sĩ Lay người bắn trung liên của tôi. Không có vấn đề đưa ra phía sau, cũng chẳng có chuyện săn sóc, chỉ có mỗi một băng cá nhân. Chúng tôi bị chia cắt với quân ta và tôi chẳng có một tin gì về vị trí bạn. Tôi lê lết với sức lực còn lại của mình cùng với một số đồng đội, giữa những làn đạn, những tiếng nổ và các tên lửa chiếu sáng. Để củng cố tinh thần mình, tôi lặp đi lặp lại là tiểu đoàn 6 không nao núng, không chịu thua”. Những bộ đội Việt Minh bị kích động cao đã bước đến hầm của đại uý Lơ Pagiơ nhưng không dám xuống hầm mà không đề phòng. Một người ném lựu đạn xuống bậc lên xuống làm bị thương y tá của đại đội. Chẳng ai đi ra, Việt Minh tưởng là hầm không có ai, liền bỏ đi. “Bằng rađiô, Lơ Pagiơ viết, tôi tập hợp lại trung đội của trung uý Đatanh, giữ một khu vực ít bị đe dọa hơn, để có thể giảm bớt phần nào sức ép của địch. Rồi tôi nói lời từ biệt với "Bruynô" và chờ đợi. Nhưng Việt Minh không xuống hầm, một sự yên tĩnh tương đối diễn ra. Tôi lợi dụng tình hình đó để nhảy vọt ra khỏi hố. Báo vụ viên và Oensơ, hạ sĩ quan phó chỉ huy của tôi theo chân tôi. Không có một Việt Minh nào trong hào... Chúng tôi đến với thiếu tá Thômát ở sở chỉ huy, báo cáo với ông và nhảy xuống một hầm trú ẩn khác. Oensơ đi theo tôi và giữa

352 những người chết, bị thương, chúng tôi giữ cho đến sáng”. (Chú thích: Pie Oensơ đã được thăng cấp trung sĩ nhất ngày 1-4 cùng với 6 trung sĩ khác của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa.) Gần nửa đêm, Lăng le quyết định tăng cường lực lượng và phương tiện cho trận đánh. Rađiô kêu lách tách. Ở chỗ Turê, người ta rút ra từ mỗi đại đội một trung đội nhỏ và đơn vị được hình thành từ đó giao cho đại uý Bayi, ra đi cùng trung uý Giắccơmê. Ở Ôpêra bis, đại uý Biza tách ra khỏi trung đội của trung sĩ nhất Mathuy, trung đội này bị tiêu diệt một bộ phận trong khi đi đường, không bao giờ đến được Êlian 4 (Chú thích: cũng bị mất tích trong đêm khủng khiếp đó, trung sĩ nhất Pôn Pibôlô. Pibôlô nhận được lon vàng thứ 3 ngày 1-5 với 7 trung sĩ khác...). Ghirô gửi hai đại đội, một đại đội với trung uý Lơ Cua, để lại hai chục người bị thương cho thiếu uý Minhốt, trung đội thứ hai với đại uý Brăngđông. Dưới làn đạn pháo, cối đang làm tăng thêm số hố đạn ở phân khu trung tâm và xung quanh cầu, ba đại đội chọn những đường đi khác nhau. Brăngđông đã nhận được lời gọi của Ghirô "vào nửa đêm". Những ánh chớp và tiếng ầm của trận đánh đã làm yên lòng ông: các Êlian vẫn giữ vững. “Việc tiến lên vào ban đêm trong các hào giao thông đầy nước và thường là bị phá hủy một nửa, là một việc vất vả và chậm chạp, ông nhớ lại. Chúng tôi rời bỏ chúng để vượt cầu sông Nậm Rốm mà không bị một quả đạn, một loạt súng máy nào ... Biết đường đi và dẫn đầu đoàn, tôi đã vượt qua một đơn vị Việt Minh trước khi tiếp cận phía dưới của Êlian 1 mà không có phản ứng nào của địch. Chẳng ai bắn! Chúng tôi cũng có những người Việt và ban đêm, giữa những tiếng nổ và đạn đủ loại, thật khó khăn để nhận ra người mình. Sự khôn ngoan đã thắng thế và mỗi người đi về phía mình. Với số lính lê dương đã có thể đi qua, tôi tiếp xúc với thiếu tá Brêsinhắc mà hầm ở dưới một cơn mưa bão đại cối. Đường hào đi vào hầm đầy những người chết và người bị thương”. Brăngđông điều trung đội của trung uý Rúc về mặt đông bắc để tăng viện cho bảo an đoàn. Rúc đề phòng và đi chậm lại trung uý Đuyten đã dặn anh phải cảnh giác: một số hầm do tiểu đoàn 1, trung đoàn 1 dù chiếm giữ, những hầm khác do Việt Minh: "Nếu cậu làm cho nó bắn vào mình, thì đó là Việt Minh", Đuyten thổ lộ với ông, giọng hài hước vẫn nguyên vẹn. “Đơn giản quá nếu người ta có thể đi đến đó miễn phí và quẳng lựu đạn vào, Rúc hài hước. Chúng tôi tìm ra một căn hầm trong đó có những người Pháp nhưng họ chẳng muốn biết gì để đi ra và về hậu cứ. Tôi lại đi và thế là bị lựu đạn từ đỉnh ném xuống. Chúng tôi ở giữa sườn đồi còn Việt Minh thì ở trên. Bằng rađiô tôi

353 báo cáo là tôi bị bao vây, trên đỉnh đồi là địch. Người ta nói với tôi là một trung đội sẽ đến giải quyết và quả thật tôi thấy trung đội đã đi ra. Tôi chỉ còn mười lăm người khỏe mạnh”. Trên Êlian 2, đại uý Pugiê tưởng rằng đại đội Lơ Cua Grăngmedông là dành cho ông. Vào một giờ sáng, trên tần số rađiô Êlian 4, ông được biết Brêsinhắc đang sốt ruột vì Lơ Cua chưa đến. (Chú thích: Giắc Lơ Cua Grăngmedông đã khẳng định với tác giả rằng "nhiệm vụ ban đầu của anh là leo lên phản kích vào đồi Êlian 1. Bằng rađiô và dọc đường, anh đã bị đổi hướng về Êlian 10, anh đã đến đó nhưng "không có đại đội của anh vì bị phân tán bởi pháo kích".) Thế là Pugiê tin rằng người ta đã bỏ rơi ông (Chú thích: Trung tá Lăngle không bỏ rơi Pugiê, ông đã chỉ định đại uý Biza để leo lên Êlian 2. Để lại trung đội Viên ở Ôpêra bis, Biza đã vận động ngày 7-5 lúc 6 giờ sáng. Theo ông, đại đội của ông "phải phản kích theo hướng Êlian 2 nhưng lệnh đã được hủy bỏ và tôi được bố trí để phòng ngự bên cạnh cầu Mường Thanh" (Thư trao đổi với tác giả).) và chi viện của pháo binh thì đang chuẩn bị ngừng. Từ nửa đêm, Giuytô, sĩ quan liên lạc và quan sát hiểu rằng anh không thể trông cậy vào sự chi viện của các khẩu pháo ở Isaben nữa. Nghe âm thanh, anh đoán chỉ còn một khẩu còn bắn. Pugiê bắt rađiô của thiếu tá Va đô, tham mưu trưởng của Lơmơniê. Khi ông nói với Va đô về sự tăng viện cần thiết, về cuộc phản kích mà ông chuẩn bị tung ra, Pugiê cảm thấy người đối thoại lảng tránh nhưng đó là chuyện khác: Va đơ không còn một người rỗi, không còn đạn dược để tiếp tế và ông không được phép ra lệnh rút lui. Pugiê còn bốn chục lính dù và gợi ý người ta cho phép ông chọc xuống hướng sông Nậm Rốm để trụ lại ở Êlian 3 và dựa lưng vào con sông Va đô: "ông là lính dù, ông phải ở tại chỗ và giữ vững. Ít nhất cho đến ban ngày...". Cho đến ban ngày? Điều gì sẽ xảy ra cho đến lúc rạng đông trong lúc những bóng người đang đi trên đồi, súng giương lên, có thể thuộc phía bên này hoặc bên kia? Đêm tối đã nuốt chửng thiếu uý Óclôvski (Chú thích: Sinh năm 1931, Tađiútsơ Óclôvski là người gốc Nga, bố mẹ anh nhập quốc tịch Pháp tháng 7- 1939. Tình nguyện sang Đông Dương. Đến Sài Gòn ngày 5-3-1954. Bổ dụng về tiểu đoàn 1 dù thuộc địa ngày 20-3. Trung uý (dự bị) ngày 16-4, nhảy xuống Điện Biên Phủ ngày 4-5-1954. Ốclôvski chết trong thời gian bị bắt ngày 21-6- 1954.) vào trung đội của anh, rồi trung đội của thiếu uý Pôn, Pôn đã bị bắt và, sau khi trung uý Giuylien trở về hào ở phía tây của sở chỉ huy Êlian 1, chỉ có vũ khí của trung uý Néctu là còn bắn. Néctu có cảm giác anh là người cuối cùng vẫn phòng thủ. Liên lạc không còn nữa và điện đài thì đã câm. Binh sĩ bây giờ chiến đấu trong hào, Việt Minh luồn vào đó từng tốp ba, bốn người, "lia tiểu liên,

354 chẳng cần ngắm...” Một bộ đội cao lớn, mũ hất về phía sau, bắn vào Néctu, anh nhảy sang một bên, trong khi báo vụ viên của anh là Gôđiông, bị trúng nhiều viên đạn, ngã xuống trong bùn lầy, có nhiều thân người không nhận diện được người bị thương và người chết lẫn lộn. Bộ đội Việt Minh la hét và bỗng nhiên trước mặt Néctu, một ánh chớp chói mắt.... “Tôi chẳng còn thấy gì nữa và tôi cảm thấy đau nhoi nhói vì những mảnh đạn làm bỏng đầu tôi và phía trái của thân thể mà hình như máu đang chảy. Tôi nghe thấy những tiếng rên rỉ và cả những tiếng gào thét bằng tiếng Việt. Những bàn tay vội vàng giật lấy dây đeo khẩu Côn của tôi và túi cấp cứu. Tôi sững sờ thấy người ta đặt băng nén ở dưới phổi trái của tôi. Tại sao lại có cử chỉ nhân đạo đó của một kẻ thù mà một phút trước đây còn rất hung dữ? Không biết rằng tôi chẳng nhìn thấy gì cả, người ta đẩy tôi đi chẳng nể nang, vừa đốc thúc tôi với những tiếng "mau len" mạnh mẽ, tin tưởng và cả những cú báng súng. Tôi lảo đảo, đụng vào các vật cản, trườn trong bùn, vấp phải những thân thể bất động. Rồi tôi nghe nói tiếng Pháp, tôi đang ở trên đỉnh Êlian 2, nơi Việt Minh đang tập hợp tù binh. Vừa ngồi xuống theo lệnh, kiệt sức, tôi thiếp đi trong một giấc ngủ”. Sáng tinh mơ ngày 7-5, tù binh tay bị trói giật cánh khuỷu ra phía sau lưng, thành một hàng dài, một sợi dây nối người này với người kia thành dây chuyền, họ đi về hướng đông bắc. "Bị bắt trong đợt xung phong cuối cùng, trung sĩ Sabriê nhớ lại, Việt Minh trói tôi và tôi đi giữa thượng sĩ Lănggrônhê bị mất một mắt và trung uý Néctu mà tôi phục vụ làm gậy người mù”. Pugiê đã rời đỉnh Êlian 2 để bố trí lại sở chỉ huy của ông trong một căn hầm nhỏ ở một dốc khuất, nơi mà thiếu tá Nicôla đã đặt sở chỉ huy của tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 Ma rốc đêm 30 rạng ngày 31-3. Các người tải thương đã để những người bị thương ở đó và vài người, vô danh trong số những người vô danh khác, đã chết. Là quan trắc viên súng cối 120 li thượng sĩ Pulanh chuyển thành y tá tự nguyện. Étmơ và Pugiê vẫn ở đó với Giuytô mà báo vụ viên người Việt là Mai đã bị giết. Dùng rađiô, Guytô yêu cầu cối 120 của binh đoàn lê dương bắn vào đỉnh đồi. Hạ sĩ nhất Giépphơrây đi ra để thu nhặt các băng đạn súng máy. Pugiê đi theo anh với ý định đến gặp trung đội Giuylien, hình như đang tiếp tục chiến đấu. Những tiếng lựu đạn nổ đến gần. Giuytô:

355 “Một vật tròn lăn trên mặt đất và dưới ánh sáng lóe lên, tôi thấy một qủa lựu đạn tấn công đang xì khói. Tôi dùng vai hất đại uý Étmơ và tôi cùng ông nhảy vào sau các thùng đựng đạn đã nén đầy đất ở phía phải cửa vào. Quả lựu đạn nổ, làm bị thương hoặc giết chết những người nằm dưới mặt đất. Một mảnh lựu đạn làm rách da đầu của tôi. Tôi thay đổi vị trí nhưng hai Việt Minh xuất hiện. Người thứ nhất kéo tay tôi và khi ra ngoài rồi, họ trói bàn tay tôi ra sau lưng, sau khi đã lột giầy ra. Chúng tôi có ba, bốn người và có lẽ là đã 4 giờ sáng. Một bộ đội đưa chúng tôi leo lên đỉnh đồi. Trời mưa đêm và trong đường hào, chúng tôi bước lên những thân thể mềm của Việt Minh và của người chúng ta. Mặt đất có nước và dưới chân trần của tôi, tôi cảm thấy có những mảnh kim loại. Mặc một quần sóc đen và một áo ngụy trang, tôi theo đuổi một ý nghĩ ngớ ngẩn là mình không còn quần áo nữa”. Gặp lại Giuylien và một chục binh sĩ, Pugiê liền dẫn đầu họ và đi về phía những đường hào mà, theo ông, trung đội Néctu vẫn chiến đấu. Trong bóng tối, ông đã tìm thấy những đường hào đó, lặng lẽ và đầy những xác chết; Việt Minh đã mang cả những người bị thương đi. Đạn cối bay đến và những ánh chớp nổ của chúng hắt một màu sáng bàng bạc lên Săng Êlidê nơi đang có một đoàn bộ binh nhấp nhô tiến qua. Trên Êlian 2, những tiếng súng trường, những loạt đạn ngắn phản ánh một chính sách tiết kiệm đạn dược, một cuộc phòng thủ đang tàn lụi. Có Giuylien và bốn, năm lính dù đi theo, Pugiê tìm một cửa ra mà ông hiểu rằng không tồn tại. Gặp trung uý Phétxơlê, ông cho phép anh thử vận may trên hướng ra sông. "Thoạt tiên chúng tôi rơi vào một giao thông hào đầy Việt Minh, Phétxơlê nói, nhưng chúng tôi đã có thể vượt qua nhờ lợi dụng được sự bất ngờ và ném mấy quả lựu đạn cuối cùng. Sau khi vượt sông Nậm Rốm, chúng tôi được đại uý Biza đón, ông gửi chúng tôi về tiểu đoàn 8 xung kích". Pugiê phục tùng mệnh lệnh của Vađô, ông ở lại trên Êlian 2 và dẫn đầu binh sĩ của mình, ông lao vào một hào giao thông. Giuylien không đi theo, anh kêu là mình bị thương nhưng chẳng ai nghĩ là một vết thương nặng bởi vì anh vọt qua các hào mà không kêu ca gì. Khi đau quá, anh phải đi tập hậu như kiểu cảnh giới từ xa cho đơn vị nhỏ bé của mình , rồi anh biến đi trong đêm tối, trở về với nỗi cô quạnh của những người bị thương và người chết. * * *

356 Với những xác chết đã cứng lại, xác này chồng lên xác kia, Pugiê cho dựng lên một chướng ngại vật cuối cùng và, trong cái ngõ cụt được hình thành như vậy, theo âm thanh, họ lắng nghe bước tiến của quân địch đang dùng súng máy quét các khu vực khả nghi. Pugiê đã mở chốt một quả lựu đạn và quyết ném nó vào giây cuối cùng khi ông đoán trước được sự hiện diện của bộ đội Việt Minh. Những tiếng nổ đến gần và đất bắn tung tóe lên vách hào. "Lúc này đây, ông tự nói với mình và, bằng một động tác khoáng đạt, ông tung quả lựu đạn. Sau đó, mọi việc diễn ra rất mau lẹ; ông nghe được tiếng va chạm của một quả lựu đạn vào mũ sắt của ông, nhưng ông không nhớ gì về tiếng nói cuối cùng. Ông bị loạng choạng, ông nghe những câu chuyện nói bằng giọng mũi, ghi nhận có những trao đổi âm thanh mạnh mẽ, và, lặp đi lặp lại như một điệp khúc, hai tiếng "mau lên" của kẻ chiến thắng. Khi Pugiê không giữ lại ấn tượng gì về tiếng nổ hơn là nỗi đau đớn lan tỏa trong đầu, (Chú thích: Quả lựu đạn, có lẽ là một lựu đạn tấn công, đã nổ trên mũ của tôi, làm cháy lưới ngụy trang và làm móp mũ sắt!", Pugiê viết và thêm "Tôi đã cất giữ nó suốt cả thời gian bị bắt và dùng nó làm nồi" (Thư trao đổi với tác giả).) ông sẽ lường được sự cùng quẫn của ông. Hai tay bị trói phía sau lưng, ở các khuỷu tay, ông đi trên một đường mòn trong rừng, theo sau là một bộ đội dửng dưng, vừa nhai một cọng cỏ vừa ngâm nga một bài hát. Tuy nhiên, một tiếng thở phào đã làm xẹp đôi lá phổi của ông: ông vẫn sống. Trên Êlian 4, trung uý Rúc, của đại đội Brăngđông, nhận được lệnh phối thuộc với trung uý Pốtchiê đang yểm trợ đại đội Clêđíc của tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 1 dù về phía đỉnh đồi. Lính lê dương còn thực hiện một cuộc ném nhau với địch bằng lựu đạn và, may thay, lựu đạn của họ trúng đích còn lựu đạn của Việt Minh thì nổ ngắn quá. Như để khiêu khích địch, Rúc và binh sĩ của mình đứng lên trên lô cốt đã bị pháo Việt Minh phá sập. “Mỗi lần có một Việt Minh xuất hiện, tôi lại đốt nó bằng súng các bin. Có lẽ chúng bị tổn thất nền không xuất hiện nữa. Điều làm tôi lo là đạn dược, quân nhu và lựu đạn mà chúng tôi thiếu. Để trung đội lại cho Kápka, phó chỉ huy của tôi tôi đi yêu cầu Pốtchiê chi viện bằng súng cối vì chắc chắn là địch sẽ leo lên với một lực lượng đáng kể. Tôi vừa mới trở lại thì thấy các lê dương của tôi rút lui cùng với những người bị giết, trong đó có Kápka. Bỗng nhiên, tôi bị đụng mạnh ở đầu làm ngã xuống đất. Tôi đứng dậy, chẳng bị gãy vỡ gì nhưng khó đi; tôi sờ tay ra phía sau, tôi bị thủng một lỗ khốn nạn ở mông”. Rúc giao năm lê dương còn lại cho hạ sĩ nhất Đi Xécciô và trung uý Pốtchiê đã thu nhận họ. Có Zớt, mà khẩu trung liên bị gãy, đi theo, Rúc định đi chữa vết

357 thương nhưng, không biết bệnh xá Êlian 4 ở đâu, anh đi về phía sông Nậm Rốm để tìm đến nơi trú ẩn tối cao, bệnh xá của tiểu đoàn dù ngoại quốc. Do Brăngđông chỉ huy, đại đội của Rúc không có quân số đầy đủ như lúc đến, nhưng sau đêm chiến đấu này, đại đội không đủ khả năng để làm kẻ thù thất bại. Brăngđông: “Các trung đội của tôi quân số giảm xuống chỉ còn mười lăm người, chúng tôi không thể giữ vững mình trên một vị trí khống chế địch; chúng tôi hầu như không còn lựu đạn, cũng không còn đạn. Từ 7 giờ sáng, chúng tôi chờ đợi một cuộc ném bom từ các B26 của chúng tôi, bởi vì, theo người ta nói, pháo binh thiếu đạn. Nhưng chẳng có ai đến, từ trung tâm cũng như từ trên không! Đến 9 giờ, thiếu tá Brêsinhắc, bằng rađiô, cho phép tôi "tuỳ nghi di động" và, sau một cuộc tiếp xúc cuối cùng với sở chỉ huy của tiểu đoàn dù ngoại quốc tôi cho phá điện đài. Chúng bị một làn sóng địch tràn vào và chìm ngập. Có vài lê dương đi theo, tôi định "chuồn" khỏi Việt Minh đang ra hiệu cho tôi bước lên để họ tước vũ khí. Cùng lúc đó, các máy bay B26 oanh tạc nhưng đã quá chậm đối với chúng tôi, bộ đội Việt Minh đã dẫn chúng tôi đi”. "Còn bom thì gây tổn thất cho cả hai bên", Brăngđông nói thêm. Một đơn vị tăng viện khác đã leo lên Êlian 4, sở chỉ huy của Brêsinhắc. Đó là lính bộ binh Angiêri thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri của đại uý Alíc. Trung sĩ La Bruye đi đầu tiên tới tiểu đội của anh nhưng súng cối đã ngăn chặn các sườn đồi phía nam của Êlian 4 khiến lộ trình trở nên rất nguy hiểm và La Bruye chỉ còn lại hai người khi đến sở chỉ huy của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù. Trung sĩ Ôtsvan toan đến đó cùng trung đội của anh nhưng anh đã chết trong hào liên lạc. Một sự im ắng trong nửa giờ cho phép Brêsinhắc khôi phục lại thế phòng ngự của ông bị ghìm dưới một hỏa lực có độ chính xác tài tình và độc ác. Vào khoảng 9 giờ, sau một đợt chuẩn bị hỏa lực ngắn, cuộc tấn công lại tiếp tục và quật lùi số quân không đáng kể đối địch với họ , Việt Minh bám trụ lại trên mỏm đồi. Theo lệnh của "Brêsơ", đại uý Alíc lấy một trung đội của trung sĩ nhất Guýtvinle, cố chiếm lại đỉnh đồi. Hai mươi phút sau, quân số của ông bị diệt một phần, ông lùi xuống sau khi cũng nhận được lệnh "tuỳ nghi di động". Ông cho binh sĩ mang nhẹ, phá hủy vũ khí nặng và ra lệnh rút lui về hướng các vị trí Clôđin. Ông đã cho qua được trung đội vũ khí của trung sĩ nhất Thuvơnanh, trung đội của thiếu uý Đuybua, mới nhảy dù xuống tám ngày trước đây, và trung đội Guýtvinle. Các

358 đơn vị chậm nhất của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri đều bị bắt trong sáng ngày 7, còn Alíc và đoàn người ít ỏi của ông vượt qua sông. Ở sở chỉ huy của tiểu đoàn 5 Việt Nam trên Êlian 4, thiếu tá Bôtenla được yêu cầu tiếp xúc trên rađiô với Biga. Trung uý Ácmanđi, sĩ quan liên lạc, đưa ống nghe cho ông: "Đây là "Bruynô", ông muốn nói với chỉ huy bảo an đoàn". Trời chưa sáng, những tiếng ầm nặng nề của pháo kích làm rung chuyển hầm. "Bruynô” ra lệnh bắn súng cối vào khe máng đông bắc, nơi "có đầy Việt Minh". Thật khôi hài, nhưng không thể cười nổi, Bôtenla trả lời "ông đã gửi yêu cầu đạn cối về Hà Nội, khi nào nhận được hàng, ông sẽ chấp hành mệnh lệnh". "Tôi hiểu, Biga nói mà không bình luận gì. Năm quân dự bị của anh và tung ra phản kích! Hết". Quân dự bị? Sửng sốt, Bôtenla nhìn Ácmanđi. Quả là còn có trung sĩ nhất Mêchiê, những khẩu cối, với một chục lính Nùng, trung sĩ Đuyclu, ba lần bị thương, các báo vụ viên và vài lính dù người Việt trong các hào gần đó... lấy gì mà phản kích. Đại đội 2 của đại uý Phú (Chú thích: Đại uý Phạm Văn Phú được thăng cấp ở Điện Biên Phủ. Ngày 7-5 chạy thoát ngụy quân Sài Gòn đến một đồn Pháp ở Lào. Là trung tướng trong chiến tranh của Mỹ, chỉ huy sư đoàn 1 bộ binh. Được thăng cấp thượng tướng, chấm dứt cuộc đời của mình khi các xe tăng cộng sản tiến vào Sài Gòn.) thì bị chia cắt ra rồi, đại đội 3 của đại uý Ghiơminô thì không đáp lời gọi trên rađiô, còn súng cối của thiếu uý Latan chắc là đã bị phá hủy, không thấy bắn nữa. "Tôi đến đó”. Ácmanđi nói, vừa kiểm tra lại khẩu Côn xem có buộc chặt ở đùi không. Khẩu súng lục không rời anh từ cuộc kháng chiến (Pháp chống Đức phát xít - ND), anh gắn bó với nó như ảnh quý của người yêu. Bôtenla nắm lấy cánh tay anh: "Không, cậu ở lại tôi cần đến cậu ở đây". Đó là lần đầu "Đêđê” Bôtenla xưng hô thân mật với Ácmanđi và anh hiểu rằng tình hình của họ hắn là trầm trọng lắm. Trung sĩ Mêchiê sẽ phản kích cùng với lính Nùng. Vì danh dự. Nhưng bàn tay quỷ, luôn sẵn sàng khép lại trên Êlian 4, đã giáng xuống trung đội bé nhỏ khi nó vừa qua cửa vào hầm. Một quả đạn 105 nổ và khi khói tan, Ácmanđi, trung sĩ nhất Pieragi và bác sĩ Ruôn xông đến. Có những lính Nùng bị giết, một số khác bị thương, quằn quại trên mặt đất. Họ được giúp đỡ và dẫn vào phía trong. Chẳng ai nói đến phản kích nữa.

359 Mười phút sau, mảnh vải bạt lều, che rào ngăn để kìm giữ địch, được dỡ ra, hai sĩ quan của bảo an đoàn, trong một tình trạng tồi tệ, người này dựa vào người kia, vào trong hầm: Makôviác và Latan, anh bị vỡ đầu gối, có cảm giác là đã làm một hành trình dài. Không có "Makô”, anh đã bị bỏ rơi. “Tôi nhớ đến Makôviác, Latan viết, mắt anh nhìn dò xét, tay anh nắm chặt khẩu các bin, tiến lên một cách thận trọng và nói thì thầm với tôi về những cảm giác của anh. Có lúc anh phải cúi xuống để quan sát rõ hơn đường bờ hào vì sấp bóng. Không thể cúi xuống nhanh nhẹn được như anh, tôi đứng sát vào thành hào mỗi khi anh ra hiệu báo động. Trong đường hào còn xác chết của cả hai bên, tôi khó khăn lắm mới bước qua được. Tôi đến bệnh xá trong tình trạng gần như kiệt sức. Ở sở chỉ huy có một sự náo động lớn: Bôtenla và Ácmanđi bận rộn với rađiô, bác sĩ Ruôn săn sóc, chữa, băng bó, tiêm và những bông băng bẩn rải rác trên nền đất nện mà người bị thương ngồi hoặc nằm. "Mako” giúp tôi bỏ đài vô tuyết điện xuống và cầm lấy khẩu các bin của tôi, Ruôn đặt tôi lên "bàn mổ”. Tôi trông gớm guốc bẩn thỉu, vì đầy vết bùn, vết máu khô với lối băng bó dị dạng hoặc với những cái còn lại dưới cái quần rách của tôi. Ruôn cắt lớp da ở ngang đùi và rửa các vết thương. Tiêm chống têtanốt, sát trùng, băng bó. Bôtenla hỏi vết thương có nặng không. "Anh ấy sẽ mất đầu gối!”, bác sĩ của tiểu đoàn 5 dù Việt Nam trả lời. Đó là một ý kiến quá mức nhưng vào lúc này, với một vết gãy mở và những miếng thịt nham nhở xung quanh, thì nó quả giống như cái đầu gối bị nghiền nát”. Địch ở bên trong Êlian 10 mà những ổ đề kháng của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa - tinh thần Biga - không chịu khuất phục. Trung đội của trung uý Coócbinô giữ một vị trí mà đại uý Tơráp đánh giá là "rất quan trọng”. Nó bảo vệ sở chỉ huy tiểu đoàn và giữ con đường duy nhất còn mở cửa cho các đội tăng viện. Chính nhờ có Coócbinô mà tàn quân đại đội 8 xung kích đã đến được vào ban đêm dưới sự dẫn dắt của "Giắcky" Bayi, anh không còn thì giờ để trình diện sở chỉ huy Thômát. Một viên đạn đã làm gãy xương ống quyển. Một vết thương khốn nạn? Còn Giắccơmê, khi nhìn thấy trung uý Đatanh, từ chỗ Lơ Pa giơ, anh đã nhấn mạnh đến sự mệt nhọc của anh và của binh sĩ anh, giải thích rằng Turê không giữ gìn sức khỏe cho họ, họ không được ngủ và việc trèo lên Êlian 10 dưới đạn pháo cối đã làm cho họ mệt nhoài. Giắccơmê nhận bảo vệ một vị trí nhưng anh nói không thể phản kích. Đatanh phải chấp nhận. Giắccơmê ở Điện Biên Phủ từ 28-3. Do thiếu vệ sinh trong sinh hoạt, sức khỏe của anh đã xuống cấp và chế độ ăn bắt buộc với lính dù của tiểu đoàn 8 xung kích không còn được đặt ra để trả lại cho anh hình dáng. (Chú thích: 1 sinh năm

360 1924 ở Muy, nhập ngũ lúc 18 tuổi. Clốt Giắccơmê đi Triều Tiên năm 1951. Bị thương, được tuyên dương, phong thiếu uý, cùng đơn vị sang Đông Dương. Bổ nhiệm về tiểu đoàn 8 dù xung kích, Giắccơmê nhảy xuống Điện Biên Phủ ngày 28-3. Mất trong thời gian làm tù binh ngày 2-7-1954.) Trong một lá thư đề ngày 26-3, viết hai ngày trước khi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, tinh thần của anh cũng dã có những rạn nứt nhỏ: “Tôi đã mệt mỏi vì cuộc sống mà tôi đang sống mà bố mẹ tôi chẳng hay biết gì cả, anh viết cho những người bạn cũ ở Muy, Giơ dép Pieruygơ và vợ. Bố mẹ tôi vẫn cứ nghĩ rằng tôi chưa rời Viêngchăn. Thực ra, từ ngày 28-8-1953, tôi không đặt chân đến đó nữa. Tôi đã bị phụ thuộc vào các cuộc hành quân ... Chủ nhật, tôi sẽ nhảy xuống Điện Biên Phủ. Viết thư từ đó là không thể được và điều đó làm tôi lo ngại. Tháng 9, khi bố mẹ tôi tưởng tôi đang làm nhiệm vụ ở Hà Nội thì tôi lại ở bệnh viện: bệnh thương hàn miền núi hay là sốt rét. Tháng hai, tôi lại vào bệnh viện Viêngchăn vì bong gân, sau đó lại chữa bệnh sỏi thận. Ngày mai tôi đã sang tháng thứ tám ở chiến dịch, xin hiểu cho là tháng thứ bảy sắp đóng lại. Hậu quả: tôi đã chán ngấy”. Ở Muy, nơi anh đã sinh ra, nơi anh đã tập sự làm thợ làm bánh, vợ chưa cưới của anh, ClerơC. . . chờ anh, nhưng nàng thấy thời gian quá chậm trễ. Nàng mong cho Clốt chán chiến tranh, nhưng làm sao anh có thể thoát ra khỏi guồng máy mà anh đã tự nguyện tham gia? Đại uý Tơráp không bằng lòng với những đội tăng viện này: “Tôi đã nhận được hai trung đội lê dương để giúp đỡ tôi nhưng các lê dương không nhiệt tình. Vào lúc 5 giở sáng, sau một cuộc giã pháo lớn, họ bay hơi hết, kéo theo lính người Việt cùng rút lui ... Bayi, của tiểu đoàn 8 xung kích cũng đến nhưng họ đã mất nhiều người ở dọc đường và vừa mới bị thương nặng. Sáng sớm ngày 7, tôi ở lại với hai lê dương và bảy người của tiểu đoàn 8 xung kích”. Những hành động cục bộ đã diễn ra, vẫn không thể gọi đó là phản kích, vả lại đạn dược, quân nhu trở nên hiếm hoi. Để tự tiếp tế người ta phải lấy trộm của người chết và người bị thương. Trung uý Đatanh mà bạn bè xem là "Tanh tanh”, đã bị một "quả đấm dữ dội vào ngực" làm anh ngã ngửa. Có phải binh sĩ của anh đã đưa anh xuống một hầm trú ẩn? Anh không nhớ là còn sức để làm việc đó không và khi anh tỉnh lại anh nằm dài giữa một lính dù đang hấp hối và một người khác đã lạnh. Êlian 10 trở thành nghĩa địa cuối cùng của lính dù tiểu đoàn 6. Bàn tay Đatanh bò trên ngực anh rồi khám phá ra dưới một miếng băng nén có

361 vết thương sâu do mảnh đạn. Quả tim anh gần đó thôi. “Vũ khí của Coócbinô gây nên một cuộc tàn sát trong hàng ngũ địch, Tơráp phấn khởi. Việt Minh chiếm một phần điểm tựa nhưng vào lúc này họ không muốn liều lĩnh đi xa. Họ vẫn có những đơn vị còn khỏe khoắn, mới đến, trong lúc tất cả chúng ta đã đến tận cùng sau bảy tuần chiến đấu liên tục Mờ sáng ngày 7-5, lại có một cuộc nã pháo mới, đặc biệt nhằm vào điểm tựa Coócbinô. Sau khi pháo dứt, tôi đến xem trung đội vì liên lạc rađiô bị đứt. Trung đội đã trải qua một thử thách lớn: chỉ còn ít người sống, vài người còn khoẻ mạnh nhưng lại bị choáng vì tiếng nổ. Coócbinô vừa bị giết chết”. (Chú thích: Sinh năm 1928, Rôlăng Coócbinô đi Đông Dương ngày 5-7-1952. Về tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, nhảy xuống Điện Biên Phủ với tiểu đoàn Biga.) Chân đi khập khiễng nhưng mang một ý chí kiêu hãnh và khó hòa đồng không chịu để rơi vào tay địch, trung sĩ nhất Mênagiơ dựa vào hạ sĩ nhất Mác xông và kéo theo các lính dù của mình đi về Êlian 3 gần sông Nậm Rốm mà anh hy vọng tìm thấy một tuyến phòng ngự mới. Những lính dù của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa gặp họ, một số khác rút lui, mất phương hướng. Vậy thiếu tá Thômát ở đâu? Mênagiơ: “Vào 7 giờ sáng. Việt Minh bao vây chúng tôi trong một đường hào. Mỗi người lo thân mình, chúng tôi cố ra khỏi đó. Xa hơn một chút, tôi gặp đại uý Tơráp; ông đi một mình với chiếc điện đài trên lưng và nói với tôi rằng chúng ta sẽ gặp may hơn để theo kịp, nếu mỗi người đi theo một đường khác nhau. Chúng tôi chia tay nhau nhưng, đến chỗ khuỷu hào, một tốp Việt Minh nhảy lên lưng chúng tôi (cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng), chúng lấy trang bị của tôi, khẩu các bin của tôi và dùng dây dù trói cánh khuỷu tôi, đẩy tôi vào một căn hầm trong đó có những người bị thương khác và những người hấp hối. Không có vấn đề săn sóc. Tôi nhờ một người bị thương cởi trói và tôi ở lại đầu giường một hạ sĩ nhất bị thương ở phổi”. Tơráp không đi xa. Ông tập hợp mấy người còn sống sót của tiểu đoàn 8 xung kích nhưng trung uý Giắccơmê đã mất tích và, trong ánh sáng của một ngày mới bắt đầu chiếu xuống hàng chục những thân thể đau đớn hoặc đã cứng đờ, chẳng ai có thể cho biết anh ta đi đâu. Một hạ sĩ quan của tiểu đoàn 8, trung sĩ nhất Bécnô, bị một va chạm dữ dội ở thái dương và đã bị gục, choáng váng như bị cả một bức tường đè lên đầu". "Khi tôi tỉnh lại, tôi thấy viên đạn bắn vào mình, đã chọc thủng chiếc mũ sắt,

362 điều đó đã cứu sống tôi. Bên cạnh tôi, các lính dù của tiểu đoàn 8 đã dùng cạn số lựu đạn cấp cho họ và tôi có cảm giác rằng một báo vụ viên ở chỗ chúng tôi đang chào vĩnh biệt thiếu tá Turê. Việt Minh lao vào chúng tôi và đẩy chúng tôi vào một đường hào đầy những người bị thương của phía họ. Chúng tôi qua 36 giờ không ăn gì và tôi cảm thấy sức lực đã cạn kiệt, như mình đang ở trong một trạng thái thứ hai để chứng kiến cho cái chết của chính mình”. Cách gần một trăm mét, đầu óc của Tơráp nảy ra một ý nghĩ, cái ý nghĩ vẫn luôn luôn tồn tại trong con người thép này, tiến hành một cuộc phản kích mới, nhưng lần này tiếng cồng đã điểm: "Lúc 8 giờ, tôi bị một viên đạn vào chân ống và thành bất động. Với cái chân gãy, tôi lê ra khỏi hào vì sợ rằng pháo binh và không quân ta sẽ oanh tạc vị trí". Ông không nói gì hơn nữa. Ở Lơ Pa giơ sự việc chẳng tốt hơn gì: “Tôi thấy mũ lá đi trong đường hào. Cùng với tôi luôn có báo vụ viên của trung đội Herrô và Oensơ, hạ sĩ quan phó chỉ huy của tôi. Tôi đã quyết định. Không đến một giây, tôi ra khỏi hầm và bằng một bước vọt, vượt qua đường hào trên đầu Việt Minh. Bị bất ngờ, chúng không kịp ngắm bắn. Và cùng với Oensơ và báo vụ viên đang đi theo, chúng tôi nhảy vào một hào khác nửa ngập nước dẫn đến sông. Chúng ngần ngại, chúng tôi bắn qua sông và người đầy bùn, năm phút sau tôi trình diện sở chỉ huy của đại tá Lăng le, đến đây tôi khuỵu xuống kiệt sức. "Lơ Pa giơ đáng thương của tôi!", Biga nói khi nhìn thấy tôi”. Thiếu tá Thômát, trung uý Êlidơ đã bị bắt và tàn quân của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa ở dưới quyền một sĩ quan dự bị, trung uý Allerơ, người chỉ huy các khẩu cối 81 bố trí trên sông Nậm Rốm. Hôm trước, anh đã được lệnh đóng ở Êlian 12 và bắn yểm trợ Êlian 10. Cũng như ở bảo an đoàn, đạn dược không đi theo, nhưng Allerơ không quyết định phá hủy các khẩu 81. Anh liên lạc bằng rađiô với "Bruynô" và anh tin sắt đá rằng ông ta sẽ gửi đạn cho anh. Rải rác trong cái hỗn độn của bãi chiến trường, hàng trăm kiện hàng thả dù đang chờ người đến thu nhặt và có thể một số trong đó chứa đạn 81, nhưng làm sao nhận biết được và thu thập chúng vào lúc nào nếu không phải là ban đêm? Việt Minh kiểm soát chiến trường và dùng hỏa lực trừng trị mỗi toan tính. Họ cũng có những đường đạn chuẩn bị sẵn để đêm đêm bắn giữa các kiện hàng, gây thiệt hại cho các kíp của đại uý Vécđenhan. Alle đón những người thoát nạn ở Êlian 10, thiếu uý Herrô, hạ sĩ quan vượt khung đã kết thúc nhiệm kỳ ba và đến nhập với trận địa cối, cởi trần, mặt méo

363 mó vì cố gắng nhưng khẩu các bin cầm tay, băng đạn sẵn sàng. Trung sĩ Rinhắc theo anh mười phút. "Chúng ta đang ở tiền duyên, Alle chỉ dẫn, đằng sau chúng ta, về hướng các Clôđin, còn đánh nhau nhưng tương lai của chúng ta bấp bênh. Thiếu tá Thômát không trả lời nữa, đại uý Tơráp cũng vậy. Trên kênh của tiểu đoàn 6, tôi chẳng tìm thấy ai". Sĩ quan đầu tiên của tiểu đoàn 6 còn sống là đại uý Lơ Buđéc. Lúc trời mới sáng, ông ở bên cạnh Lơ Pa giơ khi ông này đến ẩn ở sở chỉ huy Thômát. Điều không may đã đến với họ khi một quả lựu đạn nổ gần hai người. Một lần nữa, Lơ Pa giơ lại thoát được nhưng Lơ Buđéc bị cánh tay phải trúng nhiều mảnh đạn. Được băng bó, ông chỉ còn việc vượt sông mà trở về trạm giải phẫu của bác sĩ Ginđrây để được chữa chạy. Ngòi nổ đã nổ trong cẳng tay và làm gãy xương ông. Cùng với các trung uý Misen Đatanh và Gaêtan Bulay của tiểu đoàn 6, Lơ Buđéc đã lập một kỷ lục lạ lùng. Cả ba người cộng lại có mười bốn vết thương bị ở vùng "lòng chảo”, còn vết thương thứ 15 là một mảnh đạn pháo cắm vào ngực "Tanh tanh" cách đây hai giờ. Trên Êlian 4, những người sống sót của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù, của bảo an đoàn và của đại đội 4, tiểu đoàn 1 dù thuộc địa đã bị đánh vu hồi, đường rút lui bị cắt, chịu một sức ép đang tăng lên khi trời sáng, khi Việt Minh hiểu rằng quả đồi này là khu vực đề kháng duy nhất trên tả ngạn mà hạt nhân đang sắp bị thanh toán là Êlian 10. Hai xe tăng, chiếc Étlanhgien của thượng sĩ Tốpphôlô và chiếc Pôden vẫn làm cụm hỏa lực chi viện gần sở chỉ huy của Brêsinhắc nhưng chúng phải được tiếp dầu và đạn. Chúng không trở lại nữa. Sau chưa đến ba giờ, mọi việc đã đổi thay và nếu Brêsinhắc đã cho phép Brăngđông và Alíc "tuỳ nghi di động”, là để cho binh sĩ không bị tàn sát một cách vô ích. Đại uý Clêđíc chỉ huy đại đội cuối cùng của "Brêsơ”, đến 9 giờ ông thấy Êlian 1 đầy bộ đội: “Đó là một đơn vị mới, khỏe khoắn xuống thẳng chỗ chúng tôi. Chúng tôi không còn đạn bắn vòng cầu nữa mà mặc dầu các súng máy của chúng tôi tấn công dữ dội, chúng tôi sẽ bị tràn ngập. Dùng rađiô, tôi yêu cầu thiếu tá Brêsinhắc cho phép chúng tôi trở về GONO. Chúng tôi còn ít quân và bị bắn phá, áp đảo, đêm đã diễn ra gay go quyết liệt. Lời yêu cầu được chấp nhận. Tôi đi sau hai lính bộ binh, với báo vụ viên, trung uý Xêdarini, người đã phá hủy các cối 81 của mình và chúng đi về Êlian 10 mà tôi biết là do tiểu đoàn 6 dù thuộc địa đóng giữ. Đi được một trăm mét trong hào thì một trận lựu đạn đã cắt phần đuôi của chúng tôi và Việt Minh đã đứng sừng sững hai bên. Xêdarini bị một mảnh đạn dưới xương bả vai nhưng vẫn đi được. Chúng tôi bị tước vũ khí và bị trói tay ra sau lưng rồi

364 bị đẩy đến một lô cốt của Êlian 10. ở đó Thômát, chúng tôi gặp thiếu tá đại uý bác sĩ Barô của tiểu đoàn 2 Thái cùng một sĩ quan liên lạc và quan sát Sau đó chúng tôi được đưa về các Đôminíc”. Kiềm chế nỗi vui mừng của họ, các tù binh chứng kiến cuộc tấn công bổ nhào vào một đại đội pháo cao xạ của một chiếc máy bay Coócxe không quân của hải quân, rồi họ đi xuống một hầm ngầm đào sâu dưới Đôminíc 2 và trải qua một cuộc hỏi cung đầu tiên do một sĩ quan Việt Minh thực hiện, người sĩ quan này đang tự hào là bắt được thiếu tá Brêsinhắc. Tin này làm cho Clêđíc vui mừng vì ông đang lo khi được tin về cái chết của sếp mình. Một đề tài phấn khởi khác: sự vắng mặt của trung uý Pốtchiê đi tập hậu với trung sĩ Carông. Khi thấy Việt Minh ở cả bên này, cả bên kia hào, Pốtchiê đã rút lui rồi đi vòng Êlian 10 trước khi đến sông Nậm Rốm mà anh vượt qua dưới sự yểm trợ của xe tăng Étlanhgien. Chiếc xe tăng này đi đón lính dù của tiểu đoàn 6 dù thuộc địa và của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù cho đến lúc hai quả rốc két làm hỏng động cơ của nó. Thượng sĩ Tốpphôlô qua sông trở lại và được chiếc Pôsen của trung sĩ Pơti kéo, Étlanhgien trở về đại đội xe tăng. Một chiếc khác, Muynhudơ thay thế Pôsen khi Pôsen cũng trúng đạn rốc két, và giữ thông lối vào cầu Bai lây cho đến đầu giờ buổi chiều trong khi các xe tăng bất động yểm trở bằng hỏa lực, Đuômông từ Êpécviê, Công ti từ ngoại vi Êlian 12 và Smôlăng, vì đại bác 75 bị hỏng, bắn bằng trọng liên 12,7mm. Cầu đã được trung sĩ Bruyséc gỡ mìn buổi chiều ngày 6 theo lệnh của trung uý Alútxcơ của tiểu đoàn 8 xung kích. Người gỡ mìn đề xuất ý tưởng là thực hiện kế hoạch vào sẩm tối, nhưng Alútxcơ vẫn giữ mệnh lệnh và Bruyséc ra đi tin chắc rằng mình sẽ không quay trở lại nữa. Nhưng vận may của người con này của những người di cư Nga - Ba lan chưa hết. Trên Êlian 4, Brêsinhắc và đại uý Phôrúc đã lĩnh biệt Lăng le và Biga trên rađiô và lời cầu mong cuối cùng của vị tiểu đoàn trưởng được thổ lộ bằng một giọng xúc động: "Nhất là xin đừng nã pháo, có rất nhiều người bị thương trong tất cả các hào chiến đấu". Trung uý bác sĩ Guốcđan là một người bị thương của chính bệnh xá của mình nằm trên sườn Êlian 4, cách xa ít nhiều sở chỉ huy của "Brêsơ". Anh đang đứng bên cạnh trung sĩ y tá Stêphan thì Việt Minh vào ra lệnh (mau len, mau len) ra khỏi hầm: “Tất cả những ai có thể đi được, dẫu là khó khăn như trường hợp tôi, Giuôcđăng viết, đều phải đi ra hậu cứ theo các hào giao thông bề bộn những xác người chết và chúng tôi đi qua phía sau Êlian 4 trước khi đến chân các quả đồi. Khi trời tối, chúng tôi đi theo một đường mòn, nhưng tôi cảm thấy mình không thể theo được nữa. Khi họ đã hiểu, Việt Minh đã để tôi và một số thương binh khác không còn

365 sức, và cả họ nữa, đi lâu hơn. Họ hỏi tôi có thuốc không nhưng tôi chẳng có gì khác ngoài cái áo dù và một pigiama màu xanh của trạm giải phẫu Ginđrây. Sự kiệt sức đã đến mức mà chúng tôi quên mất khái niệm chính xác về địch và tôi không biết chúng tôi đã phải ở đây bao lâu rồi”. Trên sườn phía bắc của đồi Êlian 4, đại uý Tơrêhiu đã tỉnh lại vào nửa đêm và vào lúc bình minh của ngày 7-5, ông ra khỏi các hốc đào trong vách của đường hào mà trung uý Pốtchiê và hạ sĩ nhất Moren đã đưa ông vào ẩn nấp. Việt Minh đến, ông chạy ra và đã bị bắt. Từ hang - hầm của sở chỉ huy tiểu đoàn 5 dù Việt Nam người ta nghe từ ngoài vọng đến những tiếng súng và những tiếng nổ, nhưng "không phải là tiếng ồn ào dữ dội của đêm tối" Khoảng 7 giờ, nghe được những câu nói chuyện bằng tiếng Việt ở trên mái, tiếp theo là những tiếng đập nặng nề. Các sĩ quan bảo an đoàn đều chung một ý nghĩ: Việt Minh muốn làm nổ sở chỉ huy và đào một đường hầm. Bôtenla ra lệnh cho một lính dù người Việt đi ra ngoài và thương lượng: "Nói với họ đây là một bệnh xá, người ta sẽ đi ra, có những người bị thương. Họ đừng ném lựu đạn". Trong lúc người lính thi hành lệnh, Bôtenla gọi "Bruynô” để vĩnh biệt, nhưng giọng ông nghẹn ngào và ông đưa ống nói cho Ácmanđi, nhưng Ácmanđi cũng như vậy, máy vang lên tiếng hip, hip, hip, tiếng hoan hô của lính dù. Bôtenla nhắc: "Hãy nói với "chàng trai Pie" rằng người ta yêu ông lắm”. "Chàng trai Pie", chính là Lăngle trong cả đêm qua đã "xài sang" mất bốn tiểu đoàn dù. Ông chỉ còn lại tiểu đoàn 8 xung kích của Turê cũng yếu đi rất nhiều rồi. Ácmanđi ra vẻ như muốn bắn hỏng rađiô nhưng Bôtenla ngăn lại không cho làm, sợ những cuộc trả thù đối với thương binh. Sĩ quan thông tin tháo điện đài, lấy các chi tiết và đặt lại vào hộp khung của nó, trông ngoài như nguyên vẹn. Các ống nhòm bị đập vỡ, các súng lục bị tháo và phân tán các chi tiết. Các khóa nòng của tiểu liên và những súng hiếm cũng chịu số phận như vậy. Đó là sự kết liễu của bảo an đoàn, sự kết thúc của Êlian 4. “Ở ngoài, Latan kể, là cuộc phi nước đại của bộ đội Việt Minh. Người ta nghe họ nói the thé bằng tiếng Việt và những cú đập nặng nề tiếp tục trên mái". Bôtenla ra lệnh rời đi. Ông quyến luyến an ủi những người bị thương, làm yên lòng họ, nói với họ rằng chúng tôi không thể hành động nữa. "Chúng tôi sẽ nói với họ là các bạn ở đây, họ sẽ quan tâm đến các bạn”.

366 Bác sĩ Ruôn cúi xuống người tôi: "Tôi để cậu lại. Hãy can đảm lên. Khi chúng tôi đi rồi, hãy quan tâm đưa người bị thương ra và cậu ra với họ. Đừng để ai lại phía sau, họ sẽ ném lựu đạn đấy". Bôtenla đi đầu, Ácmanđi, người của sở chỉ huy, Ruôn, các y tá, những người bị thương các chi trên đã biến mất sau mảnh vải bạt che lối vào, họ giơ tay lên để tránh mọi sự hiểu lầm. Chúng tôi còn lại bốn, năm người tàn tật và bỗng nhiên là sự im lặng, một sự yên tĩnh làm cho người ta yên tâm”. Người bên cạnh Latan là trung sĩ nhất Mêchiê. Sinh năm 1926 ở Tananarivơ, anh đã ngụy trang các khẩu cối dưới đất, gần sở chỉ huy và các khẩu súng không nhìn thấy này bắn theo một khe núi hẹp, nghiêng như kiểu các pháo Việt Minh. Khi các "bộ đội" đến ở phía ngoài họ đã hiểu cái mưu chước đó, họ ném lựu đạn vào súng cối. Mêchiê bị thương bởi "nhiều mảnh đạn từ thắt lưng đến cổ, một số chọc thủng lồng ngực từ bên này sang bên kia. Bác sĩ Ruôn "đã tự thân bít các lỗ hổng vết thương và Mêchiê đã được điều trị bằng dolosal-phénergan-morphine và các thuốc kháng sinh; nhưng các vết thương sâu, các chỗ gãy đáng ngại" và máu vẫn tiếp tục chảy và làm bẩn thêm các giải băng đã lấm bùn. Nằm sấp giữa một chục người bị thương, viên hạ sĩ quan không thể đứng dậy được hoặc quay người được và hình như xương bả vai bị gãy. Ít tàn phế hơn, các thương binh người Việt kéo lê ra ngoài và bỏ đi. Còn lại chỉ có Latan và Mêchiê. Người này giúp người kia, bước đi trong tiếng kêu đau đớn mà họ không thể kiềm chế được, hai người rời hầm trú ẩn và nhờ vào ý chí tìm được một vị trí mà ở đó nỗi đau của họ chịu đựng được tốt hơn. "Chúng tôi đi bên cạnh nhau, Latan nói, trên đầu chúng tôi là một bầu trời xanh. Sự mệt lả của Mêchiê làm tôi xúc động. Đôi con mắt của người chết, đầu nghiêng về một bên không động đậy, tôi lo cho tính mạng của anh. Chúng tôi dừng lại một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 88

Đang tải bình luận...