phần mỗi ngày). Vậy người ta có thể giả thiết là tướng Giáp đã quyết tâm tiếp tục cuộc chiến đấu ít nhất là đến hết tháng 5. Tuy nhiên, một bản tổng hợp ngày 23-4 (số 132/EMIFT/AV) đi xa hơn bởi vì phòng nhì ở Hà Nội nhận định rằng "từ cuối tháng 4, Bộ chỉ huy địch có thể khôi phục đội dự bị chiến dịch ở Tuần Giáo cho phép họ duy trì chiến dịch ít nhất đến cuối tháng 6". Vào giữa mùa mưa? Về phía mình, với hơn hai tiểu đoàn trên một kilômét vuông, GONO có một mật độ chiếm lĩnh quá cao nghĩa là dễ bị tổn thương khi nhận đòn. Các phương tiện hỏa lực của họ đã giảm đi đến mức các cán bộ dưới quyền của trung tá Vayăng đã quá vất vả để bảo đảm các chi viện cho bộ binh: 24 khẩu 105 nay chỉ còn 19, trong đó 8 khẩu ở Isaben, 4 khẩu 155, chỉ còn lại 2 và 32 khẩu cối 120 với tổn thất 50% chỉ tập hợp lại được hơn 15 khẩu. Tổn thất đến mức đã làm cho nhiều khẩu 105 im lặng trong 24 giờ không bắn được phát nào vì thiếu pháo thủ, phải lấy bộ binh đào tạo gấp để thay thế.
293 Theo bản tổng hợp ngày 23-4, người ta phải đếm từng ngày ở Điện Biên Phủ. Tác giả cho rằng quả thật "giá trị của quân đội đã kém xa tình trạng ban đầu". Về nguyên nhân có ba nhân tố: a. Sự mệt nhọc cực độ của các đơn vị đã chiến đấu không được thay phiên trong một chiến dịch kéo dài đã 42 ngày. b. Thiếu người chỉ huy. Trong 5000 người loại khỏi cuộc chiến có 160 sĩ quan. Một số đơn vị không còn trung đội trưởng. c. Sự mệt mỏi chán nản của một đơn vị đồn trú, đầy ắp những người bị thương, đang cảm thấy mình bị hy sinh vì không nhìn thấy lối thoát cho tình huống của mình. Cùng sống và cùng chịu khổ trên trận địa với binh sĩ của mình, các trung đội trưởng là những người đứng đầu sóng ngọn gió. Chẳng có gì phải ngạc nhiên về sự hao tổn của họ. Một người trong số họ, thiếu úy Latan, thuộc tiểu đoàn 5 dù người Việt, đã đơn cử một ví dụ. “Tôi tin rằng người ta không muốn biết và không muốn tưởng tượng, anh viết, nhưng tôi không nghĩ rằng Việt Minh sẽ thắng. Khi kịch bản - tai họa xuất hiện, tôi sẽ đuổi nó khỏi ý nghĩ của tôi, bởi vì tôi tin rằng sẽ có điều gì đó đưa chúng ta thoát ra khỏi tình huống này. Hồi tháng 3, còn ổn, tháng 5 tình hình tồi tệ xảy đến, nhưng tháng 4 là thời kỳ của những tin tức xấu với cảm giác là vận may tiềm ẩn đã cạn kiệt. Tôi đã gỡ được khó khăn ở cứ điểm số 307 với trung úy Spêgiô, sự rút đi của 306 đã thành công sát nút nhưng trọng lượng của những tin xấu đè nén tôi. Cái chết của thiếu úy Thêlô, của thiếu úy Thiện dễ mến, của trung sĩ Vinlơmanh, phó của tôi, mà tôi yêu mến như anh em, lưng bị mảnh đạn cày xới. Tôi đã mất một người phó hồi tháng 12 là trung sĩ Phisô, rồi đến trung sĩ Coócnếc, vỡ hàm ở Huy ghét 6. Tôi đã được tin về cái chết của một người bạn thân, chuẩn úy Căngtông (Chú thích: Sinh năm 1923, Guy Căngtông là người kháng chiến. Tháng 3-1943 bị đày vào trại tập trung Búckhenvan. Được tự do tháng 4-1945. Tham gia không quân Bắc Phi thuộc Pháp 1946. Lần lượt qua các trung đoàn dù. Bị chết tại Điện Biên Phủ tháng 4-1954, được truy phong cấp thiếu úy ngày 2-4-1954.), của hai sĩ quan khác của bảo an đoàn, Gaven và Mácke, tóm lại, những mất mát ngày càng nhiều, sự hỗn loạn, sự lo lắng, những thiếu thốn (chúng tôi thiếu nước), tình trạng sức khỏe của mẹ tôi làm tôi lo ngại... Có quá nhiều đòn nặng nề trong một thời gian quá ngắn. Sự mệt nhọc nữa, sự
294 mất ngủ, sự nản lòng, sự sợ hãi. Nhất là hàng ngày lo lắng làm sao sống qua được ngày đó và sống thêm ngày nữa..”. Đã có thông báo về những cuộc đào ngũ. Có những người đổi phía; một số tự nguyện biến mất trong mê cung của các đường hào, ẩn trốn trong các hang hốc đào ở bờ sông Nậm Rốm. Người ta gọi họ là "chuột Nậm Rốm" và Caxtơri đã nhấn mạnh đến sự hiện diện của họ trong báo cáo của ông: "Chịu sự ảnh hưởng của tuyên truyền Việt Minh và cả các cuộc nghe đài phát thanh bằng tiếng Pháp và vài tờ báo được thả dù, tinh thần của một số đơn vị đã dao động; những cuộc đào ngũ đã được ghi nhận, có những người ẩn trốn trong hầm hào để khỏi phải chiến đấu". Lăng le chống lại "sự đào ngũ của tất cả những ai không phải là người Âu . Ông xác định: "Với từ đào ngũ tôi hiểu đó là sự trơ ì hoàn toàn, cả thể xác lẫn tinh thần". Người ta có thể phân biệt ba loại bỏ ngũ, loại ít xảy ra nhất là đào ngũ mang theo vũ khí. Loại thứ hai, là những người ẩn trốn trong hầm hào để khỏi phải chiến đấu nữa. Loại thứ ba, thưa hơn, kết thúc rất tồi tệ; thần kinh bị chấn động mạnh vì sự dữ dằn, tính quyết liệt của hành động, binh lính chạy lui về tuyến xuất phát của họ. Họ vấp phải một hạ sĩ quan không có thì giờ để lập lại trật tự đã nổ súng vào những người chạy trốn. Kiểu phản ứng như vậy đã được thấy ở tiểu đoàn 6 dù thuộc địa, ở tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù và về sau ở tiểu đoàn 1 dù thuộc địa. Nói chung, trước thái độ kiên quyết của các hạ sĩ quan, binh lính bỏ chạy đã quay lại và lại tiến lên phía trước. Đôi khi sự sợ hãi làm cho một số người ngồi tê liệt dưới đáy hố. Ta hãy đọc những ý kiến làm chứng của đại úy Brăngđông thuộc tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc: "Lính lê dương của chúng ta và lính dù thật là tuyệt vời! Chúng ta không thể có những lời lẽ như vậy đối với những người Việt mà chúng ta cũng đã dùng để "nhuộm vàng” cả các đơn vị lê dương. Họ không muốn chiến đấu nữa, nhất là từ khi có pháo binh Việt Minh. Phải dùng chân đá vào họ để đẩy họ ra khỏi hầm trú ẩn”. Nhưng, những kẻ đào ngũ, những "con chuột ở sông Nậm Rốm", những kẻ trốn lang thang, và những người sống ngoài lề khác, họ có bao nhiêu? Trong một bản tổng kết ngày 24-5 có ghi một dòng viết tay "Do ông Sơvinhê chuyển đến”, người ta lấy được con số 254 người đào ngũ của quân đội chính quy. Ở quân bổ sung, đặc biệt là ở lính Thái, tổng số đào ngũ là 907, thêm vào đó có 479 người
295 mất tích, nhưng ở những mức độ khác nhau. Có thể xem là đào ngũ không đối với những lính Thái, vào lúc kết thúc hợp đồng, lợi dụng đêm tối dày đặc để trở về làng, kể cả hoàn cảnh làng ở trong vùng kiểm soát của cộng sản? Còn một số quân hoạt động bí mật gồm những người Angiêri của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 bộ binh Angiêri, những người của tiểu đoàn 3 Thái, những người Ma rốc của tiểu đoàn 1, trung đoàn 4 bộ binh Ma rốc và các lê dương. Một số có mang vũ khí, họ tránh lộ mặt ban ngày, ban đêm họ trà trộn vào những người làm nhiệm vụ đi nhặt các kiện hàng thả dù. Không thiếu chuyện thanh toán trả thù nhưng không bao giờ làm giữa ban ngày, vì "chuột" tránh khu vực chiến đấu. Vấn đề loại bỏ họ đã được đặt ra. "Không một hình phạt nào có thể được áp dụng, Caxtơri khẳng định, binh đoàn không đồng hóa về mặt pháp lý ở một địa điểm đang bị bao vây”. Quả vậy, GONO không phải là một đơn vị lớn có một đội quân cảnh do một sĩ quan đứng đầu. Các tiểu đoàn do một căn cứ phía sau đóng ở vùng châu thổ quản lý còn tòa án quân sự để xử những kẻ đào ngũ thì đóng trụ sở ở Hà Nội. Vậy từ khi đường băng hạ cánh đã bị bỏ, làm sao mà đưa một bị can về Hà Nội? Từ tháng 11-1953 đến tháng 3-1954, thiếu tá Máctinenli, phó lữ trưởng của bán lữ đoàn lê dương 13, đã đảm nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng quân đồn trú; với chức vụ này, ông có uy quyền với trung sĩ nhất Xalaun và đội quân cảnh gồm 9 cảnh sát của Xalaun. “Một số lương thực thực phẩm thả dù đã bị lấy mất, Xalaun viết, nhưng đó có thể là sự việc của các đơn vị chính quy mà cũng có thể là chuyện của các cá nhân riêng lẻ. Mặc dầu tôi có nhiều tiếp xúc với GONO, tôi không nhận được yêu cầu nào về việc tìm kiếm những quân nhân vắng mặt ở đơn vị. Còn về giả thuyết phải xử bắn vài tên ăn cướp để làm gương, thiếu tá Va đô đã xem xét nhưng ông gạt ra vì tập đoàn cứ điểm thiếu quyền xét xử đặc biệt. Va đô cho rằng nếu không có xét xử thì những vụ hành quyết đó bị coi là giết người”. Việc khai mạc Hội nghị Giơnevơ được dự định vào đầu tháng 5 và trưởng đoàn đại biểu Pháp, Giăng Sôven, đã yêu cầu những người có trách nhiệm ở cấp cao, nhất là tướng Na va, cho ông biết về nhưng nhận xét cá nhân của họ. Ngày 21-4, theo kênh của tướng Êli, Nava trả lời chính thức cho Sô ven. Ông tán thành - một cách thận trọng - ý tưởng cắt đôi Việt Nam theo vĩ tuyến 17 hoặc vĩ tuyến 18 với điều kiện bảo toàn các pháo đài ở Hà Nội và Hải Phòng. Làm như là ông ta vẫn là ông chủ của cuộc chơi? Một số đại biểu phương Tây cũng ủng hộ giải pháp cắt đôi, nhưng ít khả năng là chính phủ miền Nam - Việt Nam chấp nhận sự cưa cắt
296 theo "kiều Triều Tiên" đó. Còn giữ Hà Nội và Hải Phòng, thì ngay bản thân Nava cũng không tin là có thể. Thực ra, Tổng chỉ huy không phải là người cực đoan. Trong khi ông trả lời chính thức với Sô ven, thì ông giao cho một người thân cận, đại tá Lennuyơ, "người hiểu rõ về tư tưởng của ông”, một lá thư gửi cho Êli trong đó ông bày tỏ "ý kiến cá nhân về cơ hội của một cuộc ngừng bắn”. Đối với Nava, như người ta đã cảm thấy ở Hà Nội, trận Điện Biên Phủ đã thất bại. Nếu Caxtơri và cùng với ông là các sĩ quan dưới quyền hiểu được tư tưởng của Tổng chỉ huy liệu họ có đặt câu hỏi về tính giá trị, tính hiệu lực của cuộc chiến đấu của họ không? “Tôi cho rằng, cuối cùng, một cuộc ngừng bắn ngay 1à tốt hơn cho các cuộc thương lượng diễn ra trong lúc người ta vẫn tiếp tục đánh nhau, Nava gợi ý. Các vị có nhớ tháng 10-1918 khi những quân đội ưu tú nhất không còn quyết tâm chiến đấu nữa vì những cuộc thương lượng đã bắt đầu! Các vị có nhớ tháng 6- 1940 khi thống chế Pêtanh đưa ra yêu cầu đình chiến! ở đây, với sự chồng chéo của các vị trí, với những đội quân người Việt luôn luôn sẵn sàng trốn đi nếu không thì phản bội, sau vài tuần lễ thương lượng, chúng ta có nguy cơ rơi vào một tình thế rối rắm chỉ có lợi cho Việt Minh. Hai tháng trước đây, ý nghĩ đưa ra sự đồng ý của tôi về một cuộc ngừng bắn ngay chưa đến trong đầu óc tôi vì có những điều bất tiện rất lớn, nhưng bây giờ, khi tôi đã biết Việt Minh gây một sức ép quân sự, chính trị và tinh thần với chúng ta như thế nào (và nhất là với Việt Nam) tôi nhận rõ tiếp tục chiến đấu trong khi hai bên đang thương lượng có thể còn nhiều điều bất lợi hơn. Hội nghị Giơnevơ (mà càng ngày tôi càng tin là một tổ ong vò vẽ đáng sợ) đặt chúng ta trước một sự lựa chọn tàn nhẫn: hoặc ký một loại hòa bình với mọi giá. hoặc chấp nhận quốc tế hóa cuộc chiến tranh trong đó những gì còn lại của lợi ích Pháp ở Đông Dương chắc chắn sẽ biến mất (. . .).” Kết thúc bài công kích này, kết luận của Nava vẫn là khó hiểu: Tôi tự hỏi có phải là hạ súng ngay sau khi viết trang sử hào hùng của Điện Biên Phủ (nhất là nếu Điện Biên Phủ vẫn giữ vững vào lúc ký hiệp định) mà chúng ta tìm ra lối thoát danh dự - và cũng là lối thoát vinh quang - khỏi tổ ong vò vẽ mà 8 năm qua, một chính sách không chặt chẽ, liên tục đã đặt chúng ta vào. Có một hạt cát trong lý luận này: Việt Minh có ý định đưa trận đánh này đến kết thúc, nghĩa là nghiền nát Điện Biên Phủ. Mục tiêu của tướng Giáp không chỉ là giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ mà là đánh bại đạo quân viễn chinh và trở thành người chiến thắng trong chiến tranh
297 Đông Dương để Hồ Chí Minh có thể thiết lập một nền dân chủ nhân dân. Ở Sài Gòn, Mô rít đờ Giăng bất đồng với Nava: “Tướng Nava đã đề nghị với chính phủ một cuộc ngừng bắn ngay. Tôi phản đối một đề nghị như vậy vì theo ý tôi nó không cứu được Điện Biên Phủ mà là phó mặc tất cả các lực lượng Pháp - Việt cho kẻ thù khu xử (...) Tôi nghĩ rằng trong ý nghĩ cửa ông một cuộc ngừng bắn ngay tất phải có một cuộc thương lượng ngắn; về phần tôi, tôi cho rằng điều cần thiết là mọi cuộc thương lượng phải được những bảo đảm quốc tế” Về cuộc "thương lượng ngắn”, 9 ngày sau đờ Giăng được thỏa mãn yêu cầu, chính xác là ngày 30-4. Gioócgiơ Biđơn, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cử đại tá Misen đờ Brêbítxông bí mật đến Giơnevơ gặp đại tá Hà Văn Lâu, thành viên đoàn đại biểu quân sự Việt Minh, để "cố gắng tìm hiểu những ý định của họ về việc giải quyết cuộc xung đột Đông Dương". Có người lính nào ở Điện Biên Phủ lại tưởng tượng được rằng vào giờ phút mà các cuộc chiến đấu đang tăng gấp đôi cường độ, những sĩ quan Pháp và những đại diện của Quân đội nhân dân tiến hành các cuộc nói chuyện êm nhẹ để chấm dứt chiến tranh bằng những phương tiện khác không phải là vũ khí? Về mặt chính thức, nhiệm vụ của Brêbítxông là nêu vấn đề sơ tán người bị thương và cải thiện hoàn cảnh sinh hoạt của tù binh, tuy nhiên những vấn đề này chỉ là cái bình phong, đằng sau đó những điều kiện quân sự có thể có của một cuộc ngừng bắn đã được xem xét. Đây là lần đầu nước Pháp chấp nhận đàm phán, ngầm công nhận các quân nhân Việt Minh là những người đối thoại và con đường hậu quả là sự tồn tại của một nước Việt Nam khác ngoài miền Nam - Việt Nam. Từ 30-4 đến 8-6-1954, Brêbítxông và Hà Văn Lâu gặp nhau sáu lần. Tiếp theo sau đó là bốn cuộc nói chuyện, tham gia với Brêbítxông lần này là tướng Đentây và trước mặt ông là Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Quốc phòng. Những bức điện của phái đoàn Pháp gửi từ Giơnevơ phát hiện rằng những người cộng sản cũng mong muốn ngừng chiến sự. Điện Biên Phủ phải trả giá đất, nhân dân mệt mỏi, thuế má nặng nề, và một cuộc tấn công vào vùng châu thổ đòi hỏi những hy sinh không chịu nổi. Bởi vậy, những người đối thoại của Đentây và Brêbítxông có gợi ý, không phải một giải pháp chính trị không thuộc thẩm quyền của họ, mà là một giải pháp quân sự thực tế nhất có thể được. Thời kỳ hậu - Điện Biên Phủ mới là mục tiêu của các cuộc nói chuyện mà chủ đề là: sau khi ngừng bắn, Quân đội nhân dân sẽ chiếm miền Bắc Việt Nam và Trung bộ và các lực lượng Pháp - Việt
298 sẽ rút về phía nam một vĩ tuyến sẽ được xác định. Đó là lập trường của các đại biểu Pháp ở Giơnevơ. Sau đó, chậm nhất là trong 6 tháng, sẽ có các cuộc bầu cử để nhân dân Việt Nam bày tỏ sự lựa chọn của mình. Tin rằng các cuộc bầu cứ này sẽ xoay chuyển có lợi cho họ, những người cộng sản tán thành ý tưởng này, một ý tưởng chẳng bao giờ được cụ thể hóa. “Ngày 9-6 như ông đã viết, Brêbítxông, trước những người đối thoại, phát triển ý tưởng sau: nếu một cuộc dàn xếp hòa bình cuộc xung đột Đông Dương không xảy ra thì tình hình sẽ như thế nào? a. Chúng ta lại đánh nhau và các ông tấn công vùng châu thổ Bắc bộ. Ai thắng không quan tâml nhưng điều chắc chắn là: đất nước các ông sẽ thấy những tài nguyên cuối cùng của mình bị phá hủy, Hà Nội và Nam Định sẽ bị san bằng. b. Cuộc xung đột quốc tế hóa và Đông Dương trở thành một Triều Tiên mới. Trong hai giả thuyết - không có giả thuyết nào khác nữa - Chính phủ Việt Nam dẫu thuộc khuynh hướng nào, để khôi phục lại cuộc sống cho một đất nước hoàn toàn bị kiệt quệ, buộc lòng phải lệ thuộc vào một trong hai khối và như vậy sẽ để mất nền độc lập của mình”. Trong các bức điện của ông được bảo tồn ở lưu trữ Ke d'Oócxay, Brêbítxông lưu ý rằng những ý kiến của ông được lắng nghe "chăm chú" và được ghi lại để chuyển lên cấp trên. Ngay cả khi Việt Minh eo ý định một ngày nào đó sẽ khống chế toàn bộ nước Việt Nam, tình hình lúc này buộc họ phải lấy lại "sức khỏe , nghĩa là phục hồi kinh tế. Nhưng trước khi làm việc dó, tướng Giáp đã quyết tâm dứt điểm cho xong Điện Biên Phủ. Mỗi đêm lại đem đến những đoàn tăng viện nhảy dù và ngày 21-4, một sĩ quan dành cho tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù bước qua cửa máy bay. Được cử về bảo an đoàn, trung úy Mô rít Đuyten đã từng được không vận đến hồi tháng 12: "Đại úy Bôtenla đã đón tôi vừa nói với tôi rằng ông không cần đến tôi, rằng tôi hãy làm quen với tiểu đoàn và trở về Hà Nội thay thế người chỉ huy căn cứ ở phía sau". Lần này, khi nhảy xuống từ máy bay C47, Đuyten ngại đâm phải cọc hàng rào dây kẽm gai, đã buộc phải tắm bắt buộc trong sông Nậm Rốm, ướt sũng, anh xuống một hầm trú ẩn, gặp một lính công binh chỉ đường cho anh về Êlian 4. Viên sĩ quan tin rằng mình sẽ là người có may mắn bất ngờ. Lần này không có nguy cơ bị trả về Hà Nội! Cuộc đón tiếp của thiếu tá Brêsinhắc làm anh thay đổi
299 ý kiến: "Tôi yêu cầu binh lính thì người ta lại gửi cho tôi sĩ quan!". Đuyten chịu đựng không nói nửa lời; anh được cử làm phó cho đại úy Clêđíc. Bốn ngày sau, ở vị trí các súng cối 120 gần nhất, mặc dầu lính lê dương đã nghĩ ra nhiều cách ngụy trang, trung úy Clêmăng đã ngã xuống vì một mảnh đạn: "Tôi đã được đưa đến chỗ bác sĩ Girđrây, ông đã mổ cho tôi. Khi tỉnh lại, chân trái tôi đã được bó bột. Tôi tưởng rằng xương ống chân tôi đã bị đạn cắt đứt nhưng đây lại là một vết thương xuyên, mảnh đạn chui qua xương ống quyển nhưng không làm gãy xương. Tôi chỉ còn việc đợi vết thương được củng cố trong một lô cốt nhỏ có các lính lê dương của tôi săn sóc". Ở Isaben, tiếng nổ của đạn pháo 105 và đạn cối 120 làm rung chuyển các hào và lô cốt đã bị mưa xói. Trung đội trưởng ở đại đội 7 tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri, trung úy Giuốcđanh làm chứng: "Isaben chưa bao giờ bị tấn công. Các tổn thất của chúng tôi chủ yếu do những cuộc đánh trả của Việt Minh khi chúng tôi xuất kích để lấn chiếm hoặc lấp bịt hào địch ... Nguyên nhân tổn thất khác là hiệu quả phản pháo của Việt Minh vào pháo thủ ta . Ngày 22-4: “Việt Minh tiếp tục xây công trình ở phía đông và nhất là phía tây bắc của điểm tựa Uyemơ cũ, đổi tên lại là điểm tựa Sân bay. Pháo Việt Minh bắn liên tục vào trận địa: 4 người bị giết và 7 người bị thương. Ngày 23 phá hủy các lô cốt Việt Minh ở phía đông. Ba xe tăng của trung đội thiết giáp Prêô bắn vào các ĐKZ 75: Ngày 24, tập kích đêm vào đường hào của Việt Minh. Isaben bị pháo 105 và súng cối hạng nặng quấy nhiễu. Tiểu đoàn 3, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa của thiếu tá Liu chỉ còn tám khẩu 105 có thể bắn. Nghiêm trọng hơn, bác sĩ Rêđiô hiện có 117 người bị thương phải sơ tán. Mười hai người bị thương nhẹ đã được trả về đơn vị họ; những người quấn băng ngày càng nhiều ở các vị trí chiến đấu. Ngày 25 còn 15 người đang điều trị trong các bệnh xá”. (Báo cáo của Lalăng). Ngày 26, thiếu tá Giăngxênen thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri được lệnh phản kích theo hướng điểm tựa sân bay. Mục tiêu được phòng ngự vững chắc, tiểu đoàn trưởng chỉ định một trong các sĩ quan giỏi nhất, trung úy Su lê của đại đội 7. "Vì những tổn thất, sự mệt nhọc của binh sĩ và thiếu cán bộ, Giăngxênen giải thích, tôi thành lập đơn vị này gồm bốn trung đội, mỗi đại đội góp một trung đội"
300 Hào đầu tiên của địch đã bị tiếp cận vào tảng sáng. Sau 30 phút bắn nhau, một cuộc đánh trả mạnh mẽ của bộ đội đã đẩy lính Angiêri về vị trí xuất phát với 6 người chết, trong đó 1 trung sĩ Angiêri và 22 người bị thương. Chắc là 1 khẩu SKZ, các tiểu liên và hai khẩu cối đã lấy được của địch nhưng địch không hề nhượng bộ. "Hành động tác chiến này giống một cuộc tập kích bắt tù binh", Giăngxênen viết. Cuối chiến dịch, tiểu đoàn của ông có 44 người chết, 221 người bị thương. Lúc này Giăngxênen được biết là đại tá Lalăng không bằng lòng về thất bại của lính Angiêri. Cho rằng "đại đội đã mất tinh thần chiến đấu, ông quyết định mỗi trung đội phải xử bắn hai người". Các sĩ quan tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri sửng sốt. Giăngxênen: “Tôi không biết liệu quyết định này có thể quy cho Lalăng không, ông ta chưa bao giờ ở trong các đơn vị người bản xứ, hoặc cho người nào đó trong những người thân cận ông - Ở đó không có một người lính bản xứ nào - nhưng tôi có thể, không phải không bị lôi thôi, làm cho ông hủy bỏ quyết định này, nhờ sự giúp đỡ của trung úy Benhabít, người Angiêri chỉ huy đại đội 8 từ khi người tiền nhiệm của ông là đại úy Luyxiêng, từ binh chủng xe hỏa đến và đã ra đi sau đó ít lâu để về Hà Nội chữa răng và không thấy trở lại”. (Chú thích: Benhabít tuyên bố với Bécna Phan rằng Giăngxênen đã tán thành quyết định đó của Lalăng (xem B.Phan, "Điện Biên Phủ, một góc dịa ngục", Robert Laffont) - Điều đó không đúng, Giăngxênen viết. "Tôi có đủ kinh nghiệml đối với quân đội bản xứ để có thể hiểu nếu quyết định này được thi hành, thì thật là thảm họa, điều đó có nguy cơ gây nên những cuộc đụng độ giữa lính bản xứ và lính lê dương và nhiều cuộc đào ngũ”. Năm 1979, tướng Nava nói về "một loại binh biến trong một tiểu đoàn Angiêri ở Isaben" (Hăng ri Nava: "Thời gian của những sự thật, Paris, Plon, 1979). Phẫn nộ, Giăngxênen đã viết thư cho ông và Na va đã hứa hủy bỏ đoạn nói về tranh chấp.) Ngày 30, các SKZ bắn vào lô cốt ở phía đông của điểm tựa sân bay. Các xe tăng của Prêô dùng hỏa lực đánh trả và đại đội 5 của trung úy Tymen (tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 Angiêri) toan vượt sang bờ bên kia sông Nậm Rốm để giảm bớt khó khăn cho điểm tựa đã bị phong tỏa một nửa. “Chúng tôi bị bắn bởi súng cối hạng nặng, Tymen viết. Một quả đạn lắp ngòi nổ
301 chậm đã chọc thủng mái, nổ dưới mặt đất cách tôi vài mét và làm căn hầm sụp đổ. Bị đè dưới đống đổ nát, tôi tỉnh lại trong đêm tối, nhưng may mắn, với một túi không khí trên đầu. Lấy hết sức lực mà tôi nghĩ rằng mình sẽ không thể làm nổi, tôi đã cào đất, cào nữa và cuối cùng đã lộ ra, làm cho binh lính của tôi rất ngạc nhiên tưởng rằng tôi đã chết. Tôi ra khỏi đó với một vết thương ở đầu và chấn động hoàn toàn cột sống”. Cùng ngày, một phân đội của tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 Angiêri đến tăng cường cho đơn vị lính Thái, Bôtenla, đại úy từ đầu tháng, cũng bị thương. "Tôi đang ở hữu ngạn thì một quả 105 đã quật tôi ngã xuống đất. Tôi bị thương ở mắt cá trái, một mảnh đạn đi qua xương gót, trong lúc một phần hầm đổ xuống người tôi. Bị chôn vùi một nửa, tôi bị hôn mê, các lê dương đã kéo tôi ra khỏi nơi đó". Điểm tựa Sân bay giữ cho đến ngày 2-5 rồi vào buổi sáng sớm, sau nhiều đợt xung phong, Việt Minh đã chiếm. Lalăng yêu cầu pháo bắn vào điểm tựa đã mất và quân lê dương thuộc đại đội 11 của đại úy Phuốcniê phản kích cùng các xe tăng của Prêô. Bị phá nát dưới các làn đạn pháo, không thể ở được nữa, điểm tựa được chiếm lại một phần nhưng đại đội Phuốcniê có thêm 4 người chết và 21 người bị thương, trong đó có đại úy của họ, Lalăng cho bỏ vị trí. Nhưng không vì thế mà ông dọa thiếu tá Grăng d'Esnông phải bắn ở mỗi trung đội của Phuốcniê hai lính lê dương? Ngày 30-4, Camơron (Chú thích: Camerone (tiếng Mêhicô là Camaron) là một địa phương ở Mêhicô, ở đó lính lê dương Pháp đã chiến đấu tự bao vệ, chống lại người Mêhicô ngày 30-4-1863. Ngày nay đã trở thành ngày hội của đội lê dương ngoại quốc - (ND). luôn luôn là chủ đề của các lễ hội riêng của đội lê dương, theo một ngày lễ truyền thống để tưởng nhớ cuộc chiến đấu anh dũng mà đại úy Đănggiu và binh sĩ của ông đã tử trận. Sự huy hoàng và những cuộc chè chén thiếu vắng trong ngày lễ Camơron ở Điện Biên Phủ. Trung tá Lơmôniê tuy nhiên muốn kỷ niệm ngày lễ với quân phục chỉnh tề không thể chê vào đâu được - ủng đánh xi - ông mời Lăng le và Biga làm hạ sĩ danh dự của đội lê dương. Turê trở thành lê dương hạng nhất, Giơnơvievơ đờ Ga la cũng vậy, Caxtơri cũng tỏ ý kín đáo là ông rất yêu mến... Lơmôniê , con người dễ tính, độ lượng, nhận lời mời của Lơmôniê và tất cả mọi người uống một cốc đầy tràn rượu cô nhắc ấm rót thẳng từ những dự trữ bí ẩn của đội lê dương. Ở Isaben, hai cha tuyên úy, cha Ghiđông và mục sư Tít xô, được Lalăng tôn vinh và ở đấy người ta lại nâng cốc. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người lê dương được mừng lễ Camơron trong niềm hân hoan chung. Trong nhật ký của tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 bộ binh ngoại quốc, đại úy Cônđờbớp đã tiết lộ cảnh ủ ê của ngày lễ: "Một Camơron không
302 rượu, không dồi lợn”. Trong đêm 30-4 rạng ngày 1-5 những máy bay C47 chở đầy người, luồn lách giữa các làn đạn cao xạ. Hai sĩ quan nữa được thả dù trong đêm đó, trung úy Sơ mít, tham mưu trưởng tương lai của quân đội, và đại úy Alíc. Liệu họ có nhảy vào cái chảo chỉ còn giữ được nhờ cái quai nếu họ biết rằng ở Giơnevơ đại tá Brêbítxông đang đối thoại với các sĩ quan Việt Minh? Sơ mít công tác ở Nam Định trong một đơn vị của trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa và được biết rằng ở Điện Biên Phủ, trung tá Vayăng cần một sĩ quan thông tin, anh đã tình nguyện đến đó. Trong hai ngày huấn luyện, người ta đào tạo anh thành người nhảy dù, rồi giao cho anh một bó thư một công văn mật cho Caxtơri, và trong tối 28-4, Sơ mít và Alíc, một người cũ ở đội ô tô quân y từ Triều Tiên về mới quen nhau ở trạm bảo dưỡng máy bay trước khi lên máy bay. Hai giờ sau, lúc đang bay, họ được tin về tiết trời u ám ở Điện Biên Phủ. Rađiô báo cho căn cứ biết một cuộc trở về do thời tiết xấu nghĩa là không thực hiện được nhiệm vụ. Ngày 29, Alíc và Sơ mít lại gặp điều không may nữa; máy bay cất cánh nhưng chở lính lê dương lên cho Isaben. Theo Lalăng, 9 người đã nhảy đêm 28-4, còn 63 người nữa nhảy đêm sau. Cuối cùng, ngày 30-4, họ đi trên một chiếc Đacôta mới và Sơ mít nhảy xuống chiến trường sau Alíc. Đôminíc 3 chắn hai hướng: đường đến cứu ở sông Nậm Rốm bởi Êlian 12 và đường vòng Êlian 1 và Êlian 2, giữa tỉnh lộ 41 và sông. Từ ngày 2-4, trung úy Philôđô thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri đã tập hợp lại bảy trung đội ở phần phía nam của vị trí, ở đây từ ngày mai đại đội Sáclơ của tiểu đoàn 2, trung đoàn 1 dù sẽ đến để tăng viện. Sáclơ sau đó sẽ đến Êlian 1. Các đơn vị dù khác sẽ dừng chân ở Đôminíc 3, nhất là các đơn vị của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, nhưng họ sẽ nhanh chóng trở lại với nhiệm vụ xung kích. Bắt đầu một thời kỳ mà mỗi cử chỉ của người Angiêri sẽ bị quân địch theo dõi từ trên cao Đôminíc 2. Liên lạc, tiếp tế, thu nhặt hàng thả dù, mỗi bước là một mối hiểm nguy, tối thiểu thì cũng là một viên đạn của tay súng bắn lén. Để khiêu khích, mỗi tối khoảng 18 giờ, Việt Minh bắn súng không giật 57 và SKZ, phá hủy lần lượt các lỗ châu mai, phải làm lại trong đêm. Sự kiên nhẫn vô tận của người chiến binh. Ngoài ra, bộ đội Việt Minh lại còn tiếp cận. Sau khi đại đội pháo Bruynbrúc rút lui, ngày 31-3 họ đã chiếm phần phía bắc của Đôminíc 3 và từ nay họ chỉ cách các vị trí tiền tiêu của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri có 50 mét. Ngày 4-4, Philôđô nhận được 600 mìn chống cá nhân và tối hôm đó, trung úy Crêpanh Lơblông và các lính công binh của anh đã chôn mìn trước hàng rào dây kẽm gai, dưới làn đạn cối. Từ đó; bộ mặt của điểm tựa đã thay đổi. "Dễ bị tổn
303 thương vì pháo binh, Philôđô viết, các hầm trú ẩn tập thể đã bị loại bỏ và được thay thế bằng những hốc cá nhân đào trong vách hào. Người lính lót vải dù vào hốc và sắp xếp những hốc khác nhỏ hơn để quần áo, thức ăn, lựu đạn...". Việc phân phối lựu đạn được tăng thêm, chứng tỏ sự sụp đổ của Đôminíc 2 đã được lấy làm bài học. Với cận chiến, những vũ khí tốt nhất chẳng phải là tiểu liên và lựu đạn hay sao? Khoảng ngày 15-4, trung úy Mudi về tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri "bị một vết thương ở đùi ngày 30-3 và khó lên sẹo". Các khẩu phần đã hết, thay bằng bánh mì và đường, hoặc bằng cơm và thịt bò muối. Những lính dù cuối cùng đã rời đi ngày 20-4 và thiếu tá Sênen của tiểu đoàn 2 Thái, đã cử đại đội 5 của trung úy Đờ la Malen đến tăng viện cho Đôminíc 3. Sở chỉ huy của Sênen ở Êlian 12. Từ ngày 24, ông cảm thấy Việt Minh tăng sức ép đối với Đôminíc 3, ở đó người Angiêri và người Thái của Đờ La Malen đến lượt họ thấm thía nỗi khổ mất ngủ và những ảnh hưởng khác đối với cơ thể. Một đường hào Việt Minh từ Đôminíc 2 đi xuống và chia thành hai nhánh, một nhánh dừng lại ở phía tây điểm tựa 15 mét, nhánh kia cách rào dây kẽm gai ở phía đường cái 10 mét. Tối 24, Philôđô giành chủ động; một toán do trung sĩ nhất Mâyê chỉ huy được bố trí và đến 21 giờ, nó lao vào các đường hào của Việt Minh ở mặt tây và đội lựu đạn vào. Những tiếng kêu đau đớn chứng tỏ hiệu quả của cú đánh bất ngờ đối với địch. Hạ sĩ Bunbađauy chân bị mảnh đạn cắt chảy hết máu. Mâyê rút lui. Sáng 25, Việt Minh, coi khinh lính Angiêri và lính Thái, trương những lá cờ đỏ sao vàng rất lớn. Quả thực, họ không đánh giá cao cuộc xuất kích của toán quân Mâyê và cố giành lại quyền chủ động. “Họ tìm cách diệt chúng tôi bằng hỏa lực, Philôđô nói. Pháo, cối, đại bác không giật 57 tham gia vào đòn phá hủy này. Cối 120 gây cho chúng tôi nhiều khó khăn bằng việc phá hủy các đường hào và các hốc, hố cá nhân đè lên những người đang chiếm giữ ở đó. Những kíp đào đất đã được bố trí, họ hoạt động xen giữa các đợt bắn và nhờ công việc của họ, những tổn thất vì ngạt thở đã được giảm bớt. Đêm đến., chúng tôi dự đoán sẽ có những cuộc di chuyển quan trọng trong đường hào từ Đôminíc 2 xuống. Đó là những người phu đào giao thông hào đến gần nhất và buổi sáng, nghe tiếng họ rời đi dưới sự yểm trợ của những đội biệt kích nhẹ ném lựu đạn và gây nổ tại bãi mìn”. * * * Ngày 30 từ lúc bình minh, không có pháo hỏa chuẩn bị, quân địch tấn công phía tây điểm tựa và ném lựu đạn chất dẻo gây tiếng nổ đinh tai. Tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri đánh trả; để lại 20 xác trong hàng rào kẽm gai, Việt Minh
304 rút lui. Phải chăng họ muốn thử nghiệm cuộc phòng ngự? Lính bộ binh Angiêri phấn khởi nhưng họ đã kiệt sức, cần được thay thế. Nhảy dù xuống trong đêm, đại úy Alíc nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn và Philôđô chuyển cho ông các mệnh lệnh. Alíc hy vọng hơn, ít ra cũng được một đại đội dù, song ông cho trình diện những hạ sĩ quan của tiểu đoàn 3, trung đoàn 3 Angiêri mà không nhận xét gì. Ông nhận được chỉ thị chỉ huy lính Angiêri ở mặt tây của Êlian 4, theo lệnh của thiếu tá Brêsinhắc. Đại đội 5 của trung úy Đờ La Malen sẽ được đại đội 8 của trung úy Pagie thay thế. Một nguồn sinh lực mới cho Đôminíc 3. Tốt nghiệp Xanh Xia ("khóa Lơcléc” ) Pagie dã hòa nhập được với lính Thái của anh đến mức anh lại thực biện nhiệm kỳ hai với họ. Đầu tiên là trung đội trưởng dưới quyền của trung úy Vêlêa, người đầu tiên hướng dẫn anh thích nghi với sinh hoạt trong môi trường Thái. Pagie đã lên nắm quyền chỉ huy đại đội khi Vêlêa được hồi hương. Sáng ngày 1-5, Biga tăng cường cho quân Thái bằng đại đội 3, tiểu đoàn 6 dù thuộc địa của Perê, đại úy từ 1-4. Perê tiếp nhận điểm tựa với khoảng cách 60 người và đại úy Alíc yêu cầu những người tình nguyện trong lính Angiêri ở lại với ông. Trung úy Ghêranh và trung sĩ nhất Guýtvinle nhận lời. “Tôi rất thất vọng về tổ chức trận địa, Perê nói. Rào dây kẽm gai thì bị đạn chặt gãy và các vị trí chiến đấu thì bị hư hỏng, phần thì do pháo Việt Minh, phần thì do mưa gió. Tôi hiểu rằng rốt cuộc Đôminíc 3 cũng sẽ bị sụp đổ, nhưng không muốn bị nuốt chửng như một quả trứng sống, phải làm một điều gì đó. Việc đầu tiên tôi yêu cầu là những cuộn dây kẽm gai để giăng ra phía trước chúng tôi trong đêm. Người ta hứa cung cấp cho tôi vào cuối ngày. Chỉ còn vấn đề hiệu chỉnh các cuộc bắn của súng cối. Trung úy Đatanh, phó của tôi, cùng một kíp mang dây kẽm gai đến. Bị thương hai lần trong vài ngày, rất mệt nhọc và đi một cách khó khăn, theo tôi Đatanh không còn ở tình trạng sức khỏe có thể chiến đấu dù anh có một ý chí không nao núng. Tôi đưa anh về sở chỉ huy của tiểu đoàn 6. Tiếp theo đó, sự chờ đợi của chúng tôi chỉ ngắn thôi”. Quả nhiên, đêm đã xuống khi pháo Việt Minh khai hỏa. Sự chuẩn bị hỏa lực này báo hiệu một cuộc tấn công cục bộ hay là một cuộc tấn công thứ ba vào tập đoàn cứ điểm? Binh sĩ chỉ hiểu được một điều: khi những làn đạn vươn dài ra là lúc bộ đội vọt lên từ các hào chiến đấu. Vậy phải chờ đợi và thu mình lại để tránh hàng ngàn mảnh đạn đang làm cho không khí cũng phải rùng mình khi chúng bay đến. Quả nhiên đây là trận tấn công thứ ba, mà cuộc pháo hỏa chuẩn bị cũng đã giáng xuống các cứ điểm Êlian và Huy ghét. Sênen được thông báo bằng rađiô về cuộc tấn công vào Đôminíc 3. "Các chi viện hỏa lực được thực hiện bằng pháo của Isaben, các súng cối 120 của quân lê dương và các trọng liên bốn nòng của trung
305 úy Rơđông, ông chứng nhận, nhưng các cuộc chi viện đó không phải sử dụng toàn bộ cho Đôminíc 3 bởi vì những vị trí khác bị tấn công cũng yêu cầu”. Khi pháo Việt Minh nâng làn đạn lên, những người bộ đội vừa chạy đến vị trí vừa la hét, vấp phải một cuộc phòng ngự vững chắc nhưng thiếu mạnh mẽ, ít được tăng cường dưới con mắt của những người tấn công. Trời đêm bị xiên rạch bởi hàng ngàn vạch lửa, Pagie nhận xét, tiếng rít của đạn, tiếng hét, tất cả những biểu hiện của một trận tấn công như thường lệ đã được hội tụ . Đôminíc 3 giữ vững và ngày càng nhiều những hình người bỏ chạy về phía bắc. Sênen nhận được một bức điện của Pagie: "Các chàng trai giữ vững trước đồn địch. Chắc là có một số tổn thất nhưng khó lường được thiệt hại”. Đi lại trong đêm tối, dưới trời đang mưa lại là một thử thách. Tốt hơn là ở tại chỗ. Khi anh đến gặp Perê để báo cáo trong lô cốt - sở chỉ huy của ông, Pagie không nói dài: "ổn cả, gay go, nhưng ổn thôi”. Đêm đến với Việt Minh. Pháo của họ mở đợt chuẩn bị mới, phải chăng có những khẩu pháo khác nữa đã tăng cường cho các khẩu trước? Cuộc nã pháo xem ra mãnh liệt hơn. Nó nghiến nát tất cả. Và đằng sau những quả đạn cuối càng, các bộ đội lại xông lên. Pagie: “Với đợt xung phong, chúng tôi bị tràn ngập. Những tiếng kêu, nhất là bằng tiếng Việt; Việt Minh ở trong các hào, trên các hào, phía trước và phía sau và những quả lựu đạn được tung ra... Trung sĩ nhất Giênanh đã bị giết, tôi cảm thấy bị đè xuống dưới sức nặng của những bóng đen đang gào thét bằng tiếng Việt. Quy luật của số đông. Tôi bị một cú vào đầu mũ sắt rơi xuống, tôi đã ở trong tay họ!” Người còn khỏe và người bị thương được đẩy lên phía bắc, bị xô đẩy, nhưng Pagie biết những nơi này, anh lợi dụng trời tối để nhảy từ một hào này sang hào khác và hướng về phía đông nam rồi nấp vào một cái hốc đào trong vách hào Ở chỗ các lính dù của tiểu đoàn 6, Perê được Pagie báo rằng: "Việt Minh đã vững chân trong một đoạn hào". Từ đó, rađiô của đại đội 8 Thái không trả lời nữa, Perê báo cáo cho thiếu tá Thômát ở sở chỉ huy của tiểu đoàn 6. "Tôi sẽ cử Coócbinô đến với anh để phản kích?". Bạn thân của Perê, thiếu sinh quân cũ, bị thương ngày 10- 4 ở Êlian 1, trung úy
306 Coócbinô mới ra viện được 5 ngày. 30 phút sau, không phải Coócbinô đến, mà là cả đại đội của Tơráp. Vào giữa đêm, chẳng có gì chắc chắn về vị trí và về sự cổ động của Việt Minh, nhưng theo đại úy Tơráp, "Coócbinô kéo theo các toán quân của anh, với cái giá tổn thất nặng nề, đã đẩy lùi Việt Minh khỏi một