Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

hồi vào phía ngoài hệ thống hàng rào - những cuộn dây kẽm gai

hồi vào phía ngoài hệ thống hàng rào - những cuộn dây kẽm gai

hồi vào phía ngoài hệ thống hàng rào - những cuộn dây kẽm gai bùng nhùng chằng chịt - để chặn đường vào của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc. Không có liên lạc rađiô từ khi xuất phát, Mănggien bỗng nhiên bắt được liên lạc với "người chỉ huy cuộc hành quân”. Anh báo cáo là Việt Minh rất đông và nếu Huyghét 1 đã bị oanh tạc khá mạnh thì nay nhiều ổ súng tự động đang chiếm lĩnh trí chiến đấu. Người đối thoại không tin và nói rằng hai đại đội của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc đến từ cứ điểm Ôpêra đã tiếp cận. Mănggien nói rằng không thấy giao chiến, nhưng những lời khẳng định của anh chẳng khiến ai quan tâm. Anh có thể gọi cho đại uý Hecvuiét, chỉ huy xe tăng, bằng rađiô được không? Hoặc sở

279 chỉ huy Lăng le? Xe tăng Đuômông tiến đến máy bay Quyếctít Commăngđô, mặc dầu cái mũi của nó bị đập vỡ tan, nhưng hình hài vẫn còn nguyên vẹn và sẵn sàng cất cánh. Chiếc máy bay hai động cơ có cánh thấp này là một chiếc máy bay có kích thước lớn với bốn mươi chỗ ngồi nhưng chẳng ai lại nghĩ rằng bộ đội Việt Minh có thể giấu mình ở đó. Thế là, khi chiếc Đuômông đến gần máy bay, một quả cầu lửa vọt ra và nổ sau xe tăng. Mănggien hiểu ngay và ra lệnh cho người lái xe đi thụt lùi theo hình chữ chi. Nhờ cách vận động đó, một quả rốc két thứ hai đã bắn trượt nhưng quả rốc kết thứ ba đã nổ phía trước Muynhudơ, tổ lái của trung sĩ nhất Prađin bị loạng choạng nhưng không việc gì. Các xe thiết giáp phải dừng lại ở một cự li hợp lý khi mà những loạt súng máy toé ra từ bụng máy bay Quyếctít và quạt mạnh vào số bộ binh đang nấp trong các hố đạn. Rađiô đã thông báo về những tổn thất. Mănggien xử lí chiếc máy bay bằng pháo 75 và các hành khách bí mật của Quyếctít chẳng bao giờ được viết hồi ký của họ. Có liên lạc trên rađiô giữa sĩ quan chỉ huy xe tăng với sở chỉ huy của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, chắc là với đại uý Galuê. Mănggỉen có cảm giác rằng người chỉ huy giam mình trong sở chỉ huy chẳng thấy được tình hình thực tế. Anh không lầm. Người đối thoại với anh khẳng định rằng đại đội 5 của trung uý Bi rê đang tiến lên, còn anh thì, ở nơi mà người ta cho rằng người của Bi rê đã đến, chỉ thấy những mũ lá lô nhô trong đường hào. Anh rút ngắn cuộc nói chuyện và cho các xe tăng đi ngược lên dọc theo con đường mà anh thấy xuất hiện nhiều mục tiêu. Cuộc hành quân đã khởi sự không tốt và có thể là, nếu Liêdenphen hoặc Galuê, thậm chí một sĩ quan liên lạc bình thường, ngồi trong tháp xe tăng Đuômông, thì nhãn quan sẽ bớt quan liêu. Một giọng nói quen thuộc bỗng vang lên trong ống nghe của Mănggien. Đó là "Bruynô” hỏi vị trí của anh. Đang ngạc nhiên về sự thâm nhập của Biga vào mạng thông tin, Mănggien báo cáo anh có một xe tăng ở phía bắc Huyghét 2 cùng đại đội 5, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, còn chiếc Đuômông thì ở gần máy bay Quyếctít mà nó đã phá hủy một phần. "Bruynô yêu cầu anh mở to mắt mà nhìn vì "quân bạn" sẽ vượt qua đường từ tây sang đông. Mănggien nghẹt thở? sự vận động được thông báo đó có nghĩa là cuộc phản kích đã thất bại và quân lê dương đang rút lui. Điều gì đã xảy ra? Caxtơri có thói quen nghe rađiô trực tiếp từ các đại đội chiến đấu và ông nhanh chóng tin rằng Liêdenphen không làm chủ được cuộc hành quân nhằm vào Huy ghét 1. Ông cho đánh thức Biga dậy và yêu cầu Biga đến tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc mà theo ông, hành động "thiếu quả đấm quyết định" Ngồi sau tay lái chiếc xe Jeep, có Cayô đi theo, "Bruynô" đến Huy ghét 2. Liêdenphen xác định giờ đến

280 của ông là khoảng 13 giờ 45, nghĩa là trước khi quân dù tấn công. Trong báo cáo của mình, Biga xác định giờ đến sở chỉ huy tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc là khoảng 15 giờ, nghĩa là sau khi xuất kích, như vậy có lẽ đúng hơn. Người ta không biết chi tiết cuộc nói chuyện giữa hai người nhưng người ta biết Biga có một tiếng hét nổi tiếng. Liêdenphen, Galuê và có lẽ cả trung uý Đuyrăng, sĩ quan thông tin ở trong hầm và chờ tin các đại đội bị dính chặt vào mặt đất vì làn đạn vũ khí tự động. Liên lạc bằng rađiô đã bị đứt. Liêdenphen phàn nàn là các đồn của ông bị hiệu ứng fađin (sự nhụt) vì ở gần các tấm kim loại lát đường băng còn Biga thì nhận thấy "việc chèn các tần số làm tồi". Việc rađiô im lặng do nguyên nhân gì không cần biết, chỉ biết sở chỉ huy của tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc nằm ì không hoạt động được và không một sĩ quan nào đến tại chỗ để nắm chắc tình hình và đề ra những quyết định thích hợp. Biga nuôi hiềm thù dai dẳng hằng năm trời đối với Liêdenphen mà ông quy trách nhiệm về sự thất bại. Ông chỉ còn cách là hạn chế sự tan rã và thu hồi binh sĩ trước khi họ bị tàn sát hết. Quân lê dương không tìm hiểu nguyên nhân khi họ được lệnh chạy cắt ngang sân bay. Những làn đạn dày đặc đón tiếp họ chứng minh Việt Minh đã hồi phục, đã giành lại thế trận. Sau khi phải chịu đựng hỏa lực súng máy nấp trong chiếc Quyếctít Commăngđô, một trung đội đã đến được lô cốt đầu tiên của Huy ghét 1 hay nói đúng hơn là đến chân phế tích của lô cốt. Một số quân đi lẻ đã tiếp theo sau nhưng rồi bị những làn đạn bắn là là mặt đất, dòng người đảo ngược, những thân thể ngã xuống đầy đường băng, chẳng ai đi theo nữa. Không có đại đội Clêđíc mà cũng chẳng thấy đại đội Lơ Pa để đẩy lùi Việt Minh. Những đợt chi viện hỏa lực cuối cùng của pháo binh, những chùm bom mới của không quân chỉ mang đến một sự hỗ trợ không nghĩa lý gì cho những con người, mà khi nhận được lệnh rút lui, đã hiểu rằng cuộc phản kích đã thất bại. "Bruynô" biết tiết kiệm máu của binh sĩ, nhưng ông đã tiên đoán rằng sự tổn thất lúc về cũng bằng lúc đi, nếu không muốn nói là nhiều hơn. Ở đại đội 8, đại uý Pêtơrê thuộc tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc bị nhiều mảnh đạn "ở gáy và sau lưng, (Chú thích: "Sau khi được bệnh xá săn sóc, tướng giặc Pêtơrê viết, tôi vẫn có thể tiếp tục việc chỉ huy. Sau ngày 23-4 tôi chỉ nhận được một sĩ quan đến tăng cường, đó là trung uý Môrítcommécxiông (Thư trao đổi với tác giả).) nhưng Garanh, phó chỉ huy thứ nhất của ông "đã dẫn đại đội xung phong vào các hào chiến đấu của Việt Minh, Liêdenphen viết. Chỉ có một cú nhảy vọt đã chiếm được mục tiêu thứ nhất. Chính lúc đó Garanh đã ngã xuống” (Chú thích: Thư của thiếu tá Liêdenphen do Mác xen Garanh em của Giăng Garanh giao cho tác giả. Sinh năm 1924, thiếu sinh quân, Giăng Garanh vào học trường Cận vệ năm 1944. Đi Đông Dương nhiệm kỳ 2. Được bổ nhiệm về tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc, nhảy

281 xuống Điện Biên Phủ ngày 10-4.). Một mảnh đạn đã cắt động mạnh chủ và những mảnh khác làm gãy chân anh. Mộ của anh là cái hố bom nơi anh tử trận ... Tôi đã ra lệnh không mang xác về để khỏi làm tăng thêm những tổn thất quá nặng nề của tiểu đoàn. Binh sĩ của ông không muốn bỏ ông lại ở một ngôi mộ không được canh gác . Cũng bị thương, trung uý Yskiécdô tập hợp những người thoát nạn của đại đội 8 và dẫn họ về cứ điểm Opêra. Ở đại đội 7 của trung uý Lơ Cua, báo vụ viên của thiếu uý Minhốt bị thương ngay từ đầu của hoạt động. Nhảy dù xuống ba ngày trước đây, Minhốt đã tự liên lạc được với sở chỉ huy của tiểu đoàn, vừa di chuyển dưới làn đạn Việt Minh cho đến khi trúng "các mảnh lựu đạn vào lưng, vết thương này không buộc tôi phải rời trận địa”. Đại đội 5 của trung uý Birê ít may mắn hơn vì đại đội trưởng bị một mảnh đạn vào đầu gối. Gần 15 giờ, Bi rê vừa mới gặp trung đội 3 của anh trong đường hào thứ nhất mới chiếm được thì đã bị trúng dạn. Qua rađiô, anh báo cáo là anh không đi được nữa, Liêdenphen cho biết sẽ cử một sĩ quan đến thay anh. Mười phút sau, đại uý Píccatô đến; ông được cử đến tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc hồi tháng hai. Cuộc nói chuyện giữa hai sĩ quan ngắn ngủi hiếm thấy; Píccatô đột nhiên ngã qụy xuống đường hào bùn lầy; một tay súng thiện xạ vừa bắn một viên đạn vào đầu ông. Liêdenphen: “Đại uý Píccatô đứng bên cạnh tôi khi trung uý Birê gọi qua rađiô yêu cầu tôi cử người thay anh vì anh vừa bị thương. Píccatô nghe nói thế liền yêu cầu tôi cử ông đi. Thế là tôi không được thấy lại ông ấy nữa. Sự kháng cự của Việt Minh cứng rắn hơn và phản ứng của Việt Minh mỗi lúc thêm mãnh liệt. Píccatô bị một viên đạn vào giữa trán. Mộ của ông là một góc hào của Việt Minh, nơi ông đã ngã xuống.” (Chú thích: Thư của thiếu tá Liêdenphen cho Mađờlen Píccatô. Phiếu công việc của đại uý Píccatô ghi: "Tử trận do bị đạn vào đầu ngày 23-4 lúc 16 giờ. Mai táng ở nghĩa trang Điện Biên Phủ cùng ngày". Lời kể lại của Liêdenphen gần đúng với sự thật hơn.) Píccatô chết, Birê lại giữ chức vụ của mình và chẳng ai ngạc nhiên khi thấy anh trên đường rút lui, được sự giúp đỡ của Moaxen, lính hầu cận của anh, kẹp dưới nách hai xẻng nhỏ làm nạng chống. Ở trạm cấp cứu, y tá Vinli Ruýst rửa vết thương ở đầu gối, băng bó tạm thời và cho dẫn anh đến trạm giải phẫu Viđan. Một ngày nặng nề đối với tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc: 19 người bị giết trong đó có 2 sĩ quan, Garanh và Píccatô, và 62 người bị thương trong đó có 7 hạ sĩ quan và 4 sĩ quan, Pêtơrê, Birê, Minhốt và Yskiécđô. Có lúc người ta còn thêm trung uý

282 Gioóc Naxiê vào danh sách những người bị giết. Người gốc xứ Lăng, 23 tuổi, Naxiê đã chết. . . ở Angiêri tháng 1-1958. Hai ngày sau, tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc và tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc nhập lại thành một tiểu đoàn hành quân giao cho Ghirô chỉ huy. Liêdenphen rời sân khấu. Ông làm kẻ bung xung cho sự thất bại của cuộc phản kích và rời quân đội vào năm 1956 với cùng cấp bậc như lúc này, ở tuổi 43, sau 25 năm phục vụ. Vài năm sau, người ta thăng cấp trung tá cho ông, trong ngạch dự bị. Píccatô không gặp may. Đờlaphông không gặp may. Ông này, độc thân hoặc có vợ, vẫn là một chiến binh, còn Píccatô, sau nhiệm kỳ đầu, không nhìn quân đội bằng con mắt xưa nữa; ông muốn ưu tiên cho vợ, con, còn binh nghiệp thì cũng là chiến tranh, không phải là sở điện lực Pháp cũng không phải là Công ty vận tải Pari tự quản. Tuy nhiên, khi Liêdenphen muốn cử người thay Birê, ông đã không ngần ngại. (Chú thích: Sinh năm 1919, vợ là Mađơlen, có hai con. Lêôngxơ Píccatô phục vụ ở miền Nam Việt Nam từ 1949 đến 1951 trong một đội biệt kích. Bị thương, về nước, được cử vào trường hành chính quân sự. Được chỉ định sang Đông Dương nhiệm kỳ 2, đáp tàu ngày 24-1-1954. Đại uý, về tiểu đoàn 2 dù ngoại quốc ngày 10-2-1954 và nhảy xuống Điện Biên Phủ.) Từ Si di Ben Abe mà ông đến vào tháng 1-1954, Píccatô không ngừng viết cho vợ những bức thư đầy hứa hẹn và những lời âu yếm. Ông cố làm yên lòng vợ, nói cả ngày về, thậm chí giải thích cho bà là ông vẫn thuộc bộ phận giữ đồn của quân lê dương, rằng "đi nhanh thì lại về nhanh”. Píccatô hoàn toàn trái ngược với trung uý Béctơrăng của tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, người đi làm một cuộc chiến tranh tươi mới, vui vẻ và viết về cuộc chiến tranh đó gửi cho bố mẹ đang khiếp đảm, rụng rời. Píccatô bị chỉ định, ông tuân lệnh nhưng ý nghĩ một lần nữa lại lội bì bõm trong ruộng lúa đối với ông hình như lệch lạc quá; làm sao ra đi với tâm trạng nhẹ nhõm được khi vợ đang ở giai đoạn trầm uất? Bức thư của anh đã chứng tỏ anh chỉ muốn sống trong hòa bình với những người thân và không muốn nghe nói về chiến tranh nữa. Việc anh được chỉ định đi học trường Hành chính quân sự đã đưa anh về thế giới chiến tranh và anh đã mất phương hướng khi trở lại đây. Ngày 7-1, sau khi mô tả cho vợ nghe ngày lễ của các vua mà lính lê dương được xem (“anh thấy cái đầu mà các vị trường Hành chính quân sự đã làm trước một sự cuồng loạn như vậy!"). Píccatô báo tin cho vợ biết là anh sẽ làm "một cuộc vận động tới Xêtíp". "Anh định xuống tàu ngày 24-1 và em yêu dấu, anh mong rằng em hãy hoàn toàn tin tưởng ở Chúa và ở anh. Anh tin chắc rằng mọi việc sẽ ổn cả”.

283 Lòng tin chất phác và bền vững mà viên sĩ quan cố truyền cho vợ bằng những con đường thông thường từ Philippơvin mà ông đến vào giữa tháng giêng có lẽ là để luyện nhảy dù, ông đã thú nhận với Mađơlen: “Từ bấy lâu nay anh ở trong một tình trạng khó tả. Hình như mình không còn sống nữa. Làm mọi việc như một cái máy tự động. Cái gì còn sống trong người anh, đã ở lại bên em ... Đôi khi anh hoảng sợ thấy vị trí mà em chiếm giữ trong tâm hồn anh”. Vợ ông hỏi ông có quan hệ tốt với các binh sĩ lê dương dưới quyền không. Không nhận được sự chỉ huy, ông trả lời: "Trong thực tế anh đơn độc trong

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 71

Đang tải bình luận...