Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

phần dưới lưng anh và có khả năng là thận đã bị thương, có

phần dưới lưng anh và có khả năng là thận đã bị thương, có

phần dưới lưng anh và có khả năng là thận đã bị thương, có thể bị cắt. Làm thế nào để chữa một vết thương như vậy" Chẳng ai dám liều lĩnh. Bay xê kiểm tra xem máy điện thoại có hoạt động nữa không, rồi yên tâm, anh gọi bệnh xá, nói rõ tình hình, yêu cầu cử gấp đến một thầy thuốc và những người khiêng cáng. Người thầy thuốc, đừng có mong, chỉ có các y tá đến, có thể là một y tá thôi, anh này chẳng làm được gì và chỉ đưa Bruynbrúc đến chờ phân loại của bác sĩ Grauuyn. Để chu đáo hơn, sau đó Bay xê gọi sở chỉ huy của phân khu và thiếu tá Va đô cầm máy nghe, phó đại đội trưởng pháo báo cáo. Va đô nghe qua

260 đã hiểu ngay, ông ngoảnh lại nói với cha Tơranhcăng đang ở trong hầm: "Thưa cha tuyên úy, cần đến chỗ Bruynbrúc ở đại đội 4 pháo, anh ấy bị thương”. Rồi nói vào máy với Bay xê: "Được rồi, cha tuyên úy sẽ đến". Cha Tơranhcăng đến Điện Biên Phủ từ giữa tháng hai. Thay vì đi theo những giao thông hào đứt quãng và đụng vào những đống dây kẽm gai, tuyên úy đi trên một đường ngoằn ngoèo dẫn đến đại đội 4 pháo mà những hốc chứa đạn là mục tiêu của địch và hốc này kết tiếp theo hốc kia bị phân rã, vứt những quả đạn trơ lên nền đất lạnh lẽo. Đến bờ một đường hào sâu nối liền với các trận địa pháo, cha tuyên úy ngập ngừng rồi nhảy xuống đáy hào nhìn không rõ. Các pháo thủ người châu Phi đang ngồi xổm, thậm chí nằm trên đất sét đợi pháo kích chấm dứt. Họ giãn ra nhường lối cho cha tuyên úy, cha bước vào căn hầm trú ẩn lặng lẽ. Bay xê đang cầm điện thoại, chắc là báo cáo với sở chỉ huy hỏa lực. Sáu người Pháp đang ở đó, cánh tay lủng lẳng, vô ích. “Áo quần và mặt mũi của họ bám đầy một loại bụi xám làm cho những người còn đứng cũng như người đã nằm xuống dưới đất ngày càng giống nhau, cha Tơranhcăng viết. Vả lại ở đây không còn phân biệt được người da vàng, da đen, da trắng nữa, tất cả chúng ta đều thuộc giống xám nhạt của sự kinh hoàng và sự khốn khổ". Ở gian sát cạnh "phòng" Bruynbrúc, những người bị thương nhẹ ngồi lưng dựa vào vách. Chẳng ai nói một câu. Sau khi nhìn vết thương kinh sợ, linh mục quỳ xuống ở đầu giường. Trong hơi thở, Bruynbrúc cảm ơn cha đã đến và bắt đầu xưng tội. Cha Tơranhcăng ngăn lại và nói với anh, những tội lỗi của anh đã được tha thứ vì anh đã hối tiếc. Quan trọng hơn là anh đã được miễn tội - cha đã cho anh - và chịu lễ ban thánh thể. "Tôi có mang những bánh thánh đến...", tuyên úy nói thêm. Ông chỉ cho anh một miếng nhỏ bởi vì bánh thánh rất hiếm mà nhu cầu thì lại quá nhiều. Ở phía ngoài, khi một quả đạn nổ, một đám bụi xám rất mịn rơi từ mái xuống và những con mắt lo lắng lại ngước lên nhìn. Cha Tơranhcăng đã đọc tên người sĩ quan trên cái hòm con đặt ở đầu giường - Bruynbrúc - và im lặng cầu nguyện bên cạnh con người đang bị vết thương cày xới. Ở Điện Biên Phủ, từ khi anh ngăn chặn được Việt Minh bằng các khẩu pháo của anh ngày 30-3, tất cả mọi người đều biết anh. Một người y tá đến tiêm cho anh một ống moócphin. Những người khiêng cáng đi theo anh làm anh kêu lên đau đớn khi họ muốn dìu anh gần như ở tư thế đứng, dựa vào lưng của Bay xê, để đi qua cửa chật hẹp của hầm trú

261 ẩn, để đặt anh nằm lên cái cáng đặt trong đường hào di đến cửa hầm trú ẩn. Tình trạng sức khỏe của anh đáng lo ngại đến mức anh được chuyển thẳng đến phòng mổ nơi bác sĩ Ginđrây vừa mới thực hiện xong một ca mổ. Mi mắt bị sạm đi vì quá mệt mỏi, đôi mắt của nhà giải phẫu trẻ tuổi bị đỏ lên và lồi ra. "Anh vừa nói là Bruynbrúc, trung úy Pôn Bruynbrúc của đại đội 4 pháo binh?” ông hỏi người ý tá có ý hoài nghi. Ông quen Bruynbrúc? Họ cùng ở một trung đoàn pháo binh ở Xutxơ ở Tuynidi năm 1952, rồi gặp lại nhau ở Mác xây, năm sau, ngồi với nhau một tối cuối cùng trước khi lên tàu sang Đông Dương. Chiến tranh đã chia cách họ. Ginđrây thậm chí không biết là Pôn chỉ huy một đại đội pháo bắn cách trạm giải phẫu của ông không đến hai trăm mét. Ông chăm chú khám vết thương của người bạn và cái bĩu môi của ông biết trước là tình hình dễ xấu đi. “Không còn gì để làm nữa, mà cũng chẳng còn hy vọng, Ginđrây viết cho Giêra Bruynbrúc, em của Pôn. Tuy nhiên, anh ấy đã nhận ra tôi, đã nói với tôi vài lời: "ông bạn thân đáng thương của tôi, tôi... " Tôi không hiểu anh nói gì ở đoạn sau. Anh bình tĩnh, không đau đớn nữa, nhưng mắt anh đã mờ đi. Tôi quỳ xuống bên anh, đờ đẫn và vái anh và tôi gọi tuyên úy, cha đã làm lễ lâm chung cho anh. Anh chết trong tay tôi, tôi ôm anh mà khóc, vuốt mắt cho anh, đặt tay anh chéo vào nhau và làm những việc cần thiết để mai táng anh”. (Chú thích: Sinh năm 1926, Pôn Bruynbrúc vào học Xanh Xia 1948. Được cử sang Đông Dương 1-1953. Bổ nhiệm vào tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 pháo binh thuộc địa, anh ở vùng châu thổ sông Hồng rối Nà Sản ngày 4-12 kế tục đại úy Công bơ ở đại đội 4 pháo. Không vận cùng đơn vị anh lên Điện Biên Phủ ngày 25-12.)

262

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 64

Đang tải bình luận...