Điện Biên Phủ từ góc nhìn của người lính Pháp

phần mười của giây. Bị trúng một quả đạn, chiếc

phần mười của giây. Bị trúng một quả đạn, chiếc

phần mười của giây. Bị trúng một quả đạn, chiếc máy bay sụt xuống càng bánh của nó và nhiên liệu bốc cháy còn cái hình người nhỏ bé ngồi trên ghế máy bay đã biến mất trong lò lửa. Việt Minh ngừng bắn vào máy bay, trong lúc đó từ các hầm trú ẩn và các lỗ châu mai, mọi con mắt đổ về xác máy bay cháy đen và co rúm. Hai ngày sau, vào 8 giờ sáng, trung úy Đờ la Metơri được an táng ở nghĩa trang Điện Biên Phủ. (Chú thích: Sinh năm 1929,

237 Béctơrăng Đờ la Su Đờ la Metơri là thiếu úy tháng 10-1950. Sau một kỳ thực tập về phòng không, anh được bổ nhiệm về trung đoàn pháo binh 32 ở Đức. Phi công loại máy bay hạng nhẹ, anh phục vụ ở không đoàn quan trắc pháo binh số 2. Lấy Suyzan Ruhiê ngày 19-10-1953 hai tháng trước khi sang Đông Dương. Được bổ nhiệm về tiểu đoàn 2, trung đoàn 41 pháo thuộc địa rồi không đoàn 23 quan trắc pháo, được phái lên Điện Biên phủ, rồi Mường Sài.) Trong bốn đêm, việc phòng ngự Êlian 2 và các cuộc phản kích cứu Huy ghét 6 đã cho phép hạ vài cây lao của các sư đoàn của tướng Giáp, tuy nhiên không vì thế mà có thể đặt lại GONO vào một tình thế vững chãi. Viện binh không đủ để lấp những lỗ hổng và Lăng le, sau luồng ôxy do Brêsinhắc đem đến, yêu cầu gửi nhanh tiểu đoàn 3 dù ngoại quốc. Các tổn thất hằng ngày cũng bằng quân số một đại đội và nơi ăn chốn ở cho người bị thương đã thành một vấn đề nan giải. Tuy nhiên, nếu Điện Biên Phủ phải kéo dài, Na va và Cônhi có nhiệm vụ tiếp tế cho chiến dịch và các y sĩ e ngại bị bó tay trước một tình huống giao phó cho họ. Lơ Đamany tuy vậy được ưu tiên, những yêu cầu của ông đối với Hà Nội nói chung đều được đáp ứng. Trong thời gian từ 13-3 đến 22-4 hơn bảy mươi hai tấn thuốc và dụng cụ đã được thả dù, những con số này đã xác nhận điều đó. Nhờ hệ thống mở dù chậm không phải lúc nào cũng được hài lòng, các cuộc thả dù được thực hiện ở độ cao lớn và mất chính xác nhưng mặc dầu có những điểm chưa hoàn hảo đó, hệ thống này cho phép thả dù kiện hàng ở khoảng hai và ba ngàn mét để cho dù mở ở khoảng bốn trăm mét, nhưng độ tản mát vẫn phụ thuộc vào các lớp gió, sự vận hành tốt hệ thống mở dù chậm và sự khéo léo của người thả. Cho nên các phi công phải liên lạc chặt chẽ với mặt đất. "Mỗi lần phi công lơi lỏng tiếp xúc bằng rađiô thì kết quả thật tồi tệ, trung tá Lalăng nhớ lại. Có thể dẫn chứng trường hợp máy bay thả dù cách vị trí một hoặc hai kilômét và chỉ bắt liên lạc để nói mỗi một câu "nhiệm vụ đã hoàn thành". Từ 13-3 đến 22-4, hơn năm triệu đơn vị kháng sinh và 5600 ki lô streptomycine đã được thả xuống cùng với 690 cáng, 200 giường, 15700 cuốn băng cá nhân, 32250 băng các loại và đặc biệt là 850 lọ huyết tương khô, 580 lọ huyết tương tươi và 528 lọ máu tươi. Hơn một ngàn bộ pyjama và khoảng 900 chăn để cho một số người bị thương không còn quần áo - vì những người bị nhiều mảnh đạn đâm lỗ chỗ thường phải cởi quân phục chiến đấu đã ít nhiều bị rách nát - được mặc áo quần tử tế. Trí tưởng tượng cũng giúp người ta giải quyết vấn đề như việc không thu nhặt những thùng đẳng nhiệt xếp đầy những lọ máu. Khoảng bốn chục thùng như vậy đã được thả xuống mà không có hy vọng thu hồi, "người ta liền tìm ra một giải pháp. Các thùng đựng vỏ đạn cùng với mùn cưa và nước đá được

238 xem là hoàn hảo". Cũng có dự kiến gửi một trạm giải phẫu mới thả bằng dù. Đó là trạm cuối cùng. Việc thả dù do trung úy bác sĩ Bécgiơrông và kíp của anh thực hiện được dự kiến vào đêm ngày 6 rạng ngày 7-4 nhưng vào thời điểm cuối cùng, Torri đỏ cho biết bằng rađiô rằng Việt Minh đã bố trí một khu vực nhảy giả ở ngoài tập đoàn cứ điểm và máy bay phải quay về. Đêm sau, trạm giải phẫu dù 5 của Hanz thay thế Bécgiơrông. Mười ngày trước, Hanz ở Lào, từ đó ông ta được hồi hương về Hà Nội với căn bệnh vàng da. Ông y sĩ vừa mới được phong cấp đại úy, có những dấu hiệu của bệnh vàng da sắp lành. "Việc lên đường của trạm giải phẫu được thực hiện với tiếng ồn ào của việc bốc hàng, ông viết. Hàng chục chiếc máy bay chuẩn bị lên đường để bảo đảm việc tiếp tế bằng thả dù đêm. Một chiếc Đacôta đã được dành cho chúng tôi, và cả đoàn chui vào đó". Trên thung lũng lốm đốm sáng của những vụ nổ, máy bay bắt đầu hạ độ cao từ hai ngàn mét và Hanz có cảm giác rằng chiếc Đacôta là là trên các ngọn đồi "trước khi nhào xuống trục của khu vực nhảy được đánh dấu bằng những bi đông đầy cát và dầu bốc cháy. Từ lúc đó, quang cảnh giống như một đêm pháo hoa: đạn vạch đường hướng lên phía máy bay đang bay chậm lại, những đom đóm chiếu sáng làm cho Việt Minh phải "kinh ngạc" những cánh hoa dù của chúng ta và cuối cùng là làn đạn ngăn chặn để làm khiếp sợ những kẻ vừa đến... mà vô sự. Đôi khi trong hàng rào dây kẽm gai hoặc với tôi trên mui một chiếc xe đốt giơ đã chui nửa xe vào hầm: "Cậu không bị đòn ư? " một lính lê dương thét to: "Không, tớ chui xuống dưới gầm xe". Cả đoàn đã tập hợp lại và người ta dành cho chúng tôi một chỗ ở dưới đất, một nhà ở cũ của sĩ quan. Các kiện hàng đã được thu thập lại, một số ngay trước mũi Việt Minh và một giờ sau trạm giải phẫu dù số 5 đã được triển khai. Chẳng thiếu gì, kể cả mười lăm người bị thương nặng phải xử lý "khẩn cấp" mà những người khiêng cáng đặt trên nền đất bùn lầy". Tính từ trạm giải phẫu dù số 3 của trung úy bác sĩ Rêdiô thả dù xuống Isaben ngày 14-3, thì đây là trạm giải phẫu thứ ba thả dù từ ngày 13-3 và mỗi bác sĩ đều ý thức được rằng cần phải chữa tạm bằng mọi giá đợt sóng thần những người bị thương mà tiền lệ chỉ có vào lúc cao điểm của những năm chiến tranh 1914- 1918. Nhân viên và đặc biệt là phương tiện vẫn thiếu thốn và các bác sĩ trạm giải phẫu, như Hanz nói, thực hiện một "giải phẫu học cực độ, họ cảm thấy yếu ớt ở trên bờ của sự bất lực khi sự đè bẹp có phương pháp, một đội quân đồn trú đã đưa đến những cuộc tàn sát như vậy. Chỉ riêng trạm giải phẫu dù số 5 đã xử lý

239 gần một ngàn người bị thương gồm hơn sáu mươi phẫu thuật bụng, trong đó có một lần thực hiện "bảy ca mổ trong 24 giờ" và tiến hành hơn ba trăm cuộc gây mê toàn bộ. Cũng như Ginđrây, Viđan, Vécđaghê, Rông đi, Prêmiliơ và những người khác, Hanz ngủ mười phút chỗ này, năm phút chỗ kia, giữa hai ca mổ, trên một đống dù, trước một đoàn người bị thương dài vô tận đang ùn đến hết ngày này sang đêm khác. Tuy nhiên, Điện Biên Phủ đối với anh vẫn là đất lành bởi vì, anh nhận xét với giọng hài hước, bệnh vàng da của anh sẽ thoái lui trong gần mười lăm ngày nữa. "Trong một tháng, tôi có cảm giác đang sống ở tận cùng thế giới - các y tá của tôi thì nói "ở đáy của thế giới - trong một cuộc sống khác, một thế giới ảo mà tôi chỉ có việc là đi qua". Hà Nội đã làm những việc có thể làm để bít những lỗ hổng trong các đơn vị bị tổn thất nhiều nhất, trước hết là tiểu đoàn 8 xung kích của Turê và tiểu đoàn dù ngoại quốc của Ghirô đã chiến đấu tại chỗ từ năm tháng nay. Lăng le cũng yêu cầu điều đến cho ông "một đại úy thâm niên"; người ta thả dù cho ông đại úy Rôbe Cayô trong đêm ngày 5 rạng ngày 6-4. Trong số những người nhảy dù mỗi đêm, số sĩ quan không nhiều. Tháng tư, tiểu đoàn 8 dù xung kích nhận từ bầu trời bốn trung úy: Êchiên Oantơ, thay thế Bômle Rutxen ở ngành thông tin, Phơrăngxoa Poăngsinhông được cử về đại đội Bay, Clốt Giắccơmê, nhảy dù với một đội tăng viện ba mươi lăm người và Mắc Giannanh Vô đô, một nhà thể thao cao 1,85 mét. Ở tiểu đoàn 1 dù ngoại quốc, trung úy Rúc bị thương ngày 12-1 đã trở về, anh nhảy lúc 3 giờ sáng, xuống phía ngoài hàng rào kẽm gai "Tôi qua đêm không động đậy, vì Việt Minh và vì những người lính gác của chúng ta, nhưng tôi buồn ngủ quá và có lúc tôi ngủ thiếp đi". Được một chiếc C47 tiếp theo thả xuống, trung úy Sfabenrát, người cũ của tiểu đoàn 3 dù ngoại quốc ở Xêtíp, đã tìm thấy nơi quen biết là đơn vị Ghirô. Tiểu đoàn 6 dù thuộc địa xin được hai trung úy Pie Lơ Roa và Emê Lăng, nhưng Biga gửi thêm cho tiểu đoàn trung úy Giăng Combanâyrơ, anh được bổ nhiệm về đơn vị Turê, sẽ được biệt phái về tiểu đoàn 6 dù thuộc địa. Ở đơn vị này sáu người bị giết và hai mươi bốn người bị thương còn được ghi nhận ngày 2-4. Cùng ngày "Bruynô" đã mất trung úy Mác xen Buốcgia, anh bị trúng đạn ở ngực khi đang cùng Biga và Bôtenla quan sát từ Êlian 4 (Chú thích: Sinh tháng 12-1921, Mác xen Buốcgia nhập ngũ 1945. Chuẩn úy tháng 3-1947, chọn đơn vị dù và ngày 2-8-1948 cưới Môníc Cốtskê, có 2 con. Sang Đông Dương tháng 11. Bị thương tháng 4-1949. Trung úy 1-1950. Về nước 11-1950. Trở lại Đông Dương 7-1952, trước khi được cử về tiều đoàn 6 dù thuộc địa; Nhảy xuống Điện Biên Phủ trong chiến dịch Hải li và trở lại Điện Biên Phủ ngày 16-3 với tiểu đoàn 6.

240

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 56

Đang tải bình luận...