phần cơ săn chắc của bụng dưới, tiếp theo là đến màng bụng mỏng, để lộ thành tử cung dày màu mận. Bác sĩ phẫu thuật đổi sang kéo cắt băng để giảm thiểu nguy cơ cứa vào thai nhi và rạch đường cuối cùng. Những bàn tay đeo găng thò vào kéo ra một sinh linh mới - nhưng Zack vẫn chưa chào đời. Nó “ở trong màng thóp”, theo cách họ nói; nghĩa là vẫn được bao bọc bởi lớp màng ối mỏng kín. Nó phồng lên như một quả bóng, một lớp màng mờ đục bao quanh thai nhi như một quả trứng nylon. Vào thời điểm đó, Zack vẫn đang ăn qua cơ thể mẹ, vẫn nhận chất dinh dưỡng và oxy qua dây rốn. Bác sĩ sản khoa và các y tá tham gia phẫu thuật cố gắng giữ vững dáng vẻ chuyên nghiệp, nhưng cả Kelly và Eph đều cảm nhận được sự lo lắng lộ rõ ở họ. Mãi đến sau này Eph mới biết tỷ lệ trường hợp các em bé
sinh ra trong màng thóp chỉ chưa tới một phần nghìn, và con số một nghìn đó tăng lên đến hàng vạn với những đứa bé không bị sinh non. Khoảnh khắc lạ lùng này kéo dài, đứa bé chưa chào đời vẫn nối với người mẹ sức cùng lực kiệt, nó đã ra ngoài, nhưng vẫn chưa chào đời. Rồi tấm màng đột nhiên toác ra, rách ngược từ đầu Zack và để lộ khuôn mặt lấp lánh của nó. Lại thêm một khoảnh khắc mà thời gian ngừng trôi… rồi thằng bé òa khóc và được đặt lên ngực Kelly trong khi vẫn đang tong tỏng nước. Sự căng thẳng kéo dài trong phòng phẫu thuật, xen lẫn với niềm vui sướng hiển nhiên, Kelly kéo tay chân Zack ra để đếm số ngón. Cô lục soát người nó kỹ càng để tìm dấu hiệu dị tật, và chỉ thấy niềm hạnh phúc. Thằng bé được ba cân sáu, đầu trụi lủi như một đống bột nhào bánh mì và cũng trắng như vậy. Chỉ số Apgar (23) của nó là tám sau hai phút, chín sau năm phút. Đứa trẻ khỏe mạnh. Tuy nhiên, Kelly lại phải chịu chứng trầm cảm sau sinh nghiêm trọng. Không gì khó lường và hủy hoại sức khỏe nặng như chứng trầm cảm, dĩ nhiên là trừ nỗi kinh sợ u ám. Quá trình lâm bồn trường kỳ vất vả khiến cô mất sức đến mức không ra được sữa, cộng với kế hoạch sinh bị bỏ xó khiến cô thấy mình như một kẻ thất bại. Có thời điểm, Kelly bảo Eph rằng cô cảm thấy mình đã khiến anh thất vọng, và điều này làm anh bối rối. Cô cảm thấy mình suy sụp từ bên trong. Mọi thứ trong đời đã đến quá dễ dàng, với cả hai người họ, trước khi chuyện này xảy ra. Khi cô đã khá hơn - khi cô ôm cậu bé vàng, đứa con trai mới sinh của mình - cô không hề rời Zack nửa bước. Suốt một thời gian, cô trở nên ám ảnh với hiện tượng sinh trong màng thóp và nghiên cứu ý nghĩa của nó. Một số nguồn tuyên bố rằng trường hợp kỳ lạ này là một điềm may, thậm chí là dự báo trước điều gì đó vĩ đại. Những giải thích khác ám chỉ rằng người mang màng thóp, họ được gọi như thế, là người thấy được tương lai, không bao giờ chết đuối và được các thiên thần che chắn tâm hồn. Cô tìm ý nghĩa của nó trong văn chương, viện dẫn vài nhân vật mang màng thóp, như David Copperfield và cậu bé trong tiểu thuyết The Shining. Những người nổi tiếng trong đời thật, như Sigmund Freud, Lord Byron và Napoleon Bonaparte. Đồng thời, cô không thèm đếm xỉa đến những mối liên hệ tiêu cực - thật ra, ở một vài quốc gia châu Âu, người ta đồn rằng đứa bé được sinh ra trong màng thóp có thể đã bị nguyền rủa - trái ngược với những cảm giác không thỏa đáng đáng buồn của chính cô khi quả quyết rằng con trai cô, tác phẩm của cô, là một đứa trẻ khác biệt.
Qua thời gian, chính những thôi thúc này đã đầu độc mối quan hệ của cô với Eph, dẫn đến cuộc ly hôn anh không hề mong muốn, cùng với trận chiến giành quyền nuôi con kéo theo sau đó: một trận chiến, từ khi cô bị biến đổi, đã chuyển thành cuộc tranh đấu sống còn. Kelly đã quyết định rằng nếu không thể trở nên hoàn hảo cho một người đàn ông đòi hỏi cao đến thế, vậy thì cô sẽ không là gì với anh cả. Vậy là chính sự suy sụp của cá nhân Eph - chứng nghiện rượu của anh - đã khiến cô vừa âm thầm hoan hỉ vừa phát hoảng. Mong ước tệ hại của Kelly đã thành sự thật. Vì nó cho thấy rằng ngay cả Ephraim Goodweather cũng không thể đạt đến được những tiêu chuẩn quá cao của chính mình. Eph mỉm cười chế giễu với bản thân mới cạo râu một nửa trong gương. Anh với lấy chai rượu mơ và uống mừng sự hoàn hảo khốn nạn của mình, nuốt ực hai ngụm ngọt gắt. “Anh không cần phải làm vậy.” Nora tiến vào, nhẹ nhàng đóng cánh cửa phòng tắm lại sau lưng. Cô đi chân trần, đã thay sang quần jean mới và áo phông rộng, mái tóc đen được kẹp ra sau đầu. Eph nói với hình phản chiếu của cô trong gương. “Chúng ta lỗi thời rồi, em biết chứ? Thời của chúng ta đã qua rồi. Thế kỷ hai mươi là những con virus. Còn thế kỷ hai mốt? Ma cà rồng.” Anh lại uống, như để chứng tỏ anh có uống cũng không sao và chứng minh rằng không lý lẽ nào có thể can ngăn được anh. “Anh không hiểu sao em lại không uống rượu. Rượu được làm ra cho mục đích này mà. Cách duy nhất để nuốt trôi cái hiện thực mới này là săn đuổi nó với vài thứ có ích.” Thêm một ngụm nữa, rồi anh nhìn lại nhãn hiệu. “Phải chi anh có được vài thứ có ích.” “Em không thích anh như thế này.” “Anh là loại bị các chuyên gia gọi là ‘nghiện rượu chức năng cao’. Hoặc anh có thể giấu tiệt nó khi ra ngoài, nếu em muốn.” Cô khoanh tay lại, dựa nghiêng vào tường, nhìn chằm chằm lưng anh và biết cô sẽ chẳng đi được tới đâu cả. “Chỉ là vấn đề thời gian thôi, anh biết mà. Trước khi cơn khát máu dẫn Kelly quay lại đây, tìm Zack. Và điều đó có nghĩa, thông qua cô ấy, là Chúa Tể. Dẫn hắn thẳng đến Setrakian.” Nếu chai rượu không còn gì, có khi anh đã đập nó vào tường. “Thật là điên hết sức. Nhưng nó rất thật. Anh chưa từng gặp cơn ác mộng nào gần với thực tại đến thế này.” “Ý em là em nghĩ anh phải đưa Zack đi khỏi đây.”
Eph gật đầu, bấu cả hai tay vào thành bồn rửa. “Anh biết. Chính anh cũng đang dần chấp nhận quyết định đó.” “Và em nghĩ anh cần đi cùng thằng bé.” Eph cân nhắc một lúc, một cách nghiêm túc, rồi quay người khỏi tấm gương để đối mặt với cô. “Việc này kiểu như khi trung úy thông báo với đại úy rằng anh ta không đáp ứng được nhiệm vụ à?” Nora nói, “Việc này kiểu như khi ai đó quan tâm đến anh đủ để sợ rằng anh sẽ làm chính mình bị thương. Thế là tốt nhất cho thằng bé - và tốt hơn cho anh.” Câu nói đó đã xoa dịu anh. “Anh không thể bỏ em lại đây để thế chỗ anh, Nora. Cả hai ta đều biết thành phố đang sụp đổ. New York tàn rồi. Thà nó đổ xuống anh còn hơn là xuống em.” “Uống rượu xong nói năng linh tinh.” “Em đúng về một chuyện. Có Zack ở đây, anh không thể cống hiến hết mình cho cuộc chiến này. Thằng bé phải đi. Anh cần phải biết là nó đã rời khỏi đây, nó đã được an toàn. Có một chỗ này, ở Vermount…” “Em không đi đâu.” Eph hít thở sâu. “Cứ nghe anh đã.” “Em không đi đâu, Eph. Anh cứ tưởng anh đang ra tay nghĩa hiệp, nhưng thật ra, anh đang xúc phạm em đấy. Đây là thành phố của em thì đúng hơn là của anh. Zack là một đứa trẻ tuyệt vời, anh biết là em nghĩ vậy mà, nhưng em ở đây không phải để làm những công việc của phụ nữ như trông trẻ và xếp quần áo. Em là một nhà khoa học y dược giống như anh.” “Anh biết tất cả những điều đó, tin anh đi. Anh chỉ đang nghĩ về mẹ em thôi.” Câu nói khiến cô đột ngột dừng lại. Môi Nora vẫn mở, sẵn sàng đáp trả, nhưng lời anh nói khiến cô không thở nổi. “Anh biết bác ấy không khỏe,” anh tiếp tục. “Bác đang trong giai đoạn đầu chứng mất trí, và anh biết em vẫn luôn canh cánh lo cho bác ấy, cũng y như anh bận tâm về Zack. Đây là cơ hội để em đưa bác đi cùng. Anh đang muốn nói với em rằng họ hàng Kelly có một chỗ này, trên một ngọn núi ở Vermount…” “Ở đây, em có thể có ích hơn.” “Nhưng em có thể không? Ý anh là, anh có thể không? Đến anh cũng
chẳng biết nữa. Bây giờ, việc gì là quan trọng nhất? Anh sẽ nói là sống sót. Đó chắc chắn là điều tốt đẹp nhất ta có thể hy vọng. Ít nhất là với cách này, một trong hai ta sẽ được an toàn. Và anh biết đó không phải điều em muốn. Anh biết đòi hỏi em như thế là quá nhiều. Em nói đúng - nếu đây là một bệnh dịch bình thường do virus, em và anh sẽ là những người quan trọng nhất trong thành phố này. Ta sẽ là mấu chốt của chuyện này - vì mọi lý do thỏa đáng. Còn với tình trạng bây giờ, dị chủng này đã vượt hẳn ra khỏi kiến thức chuyên môn của ta. Thế giới không cần ta nữa, Nora. Nó không cần bác sĩ hay nhà khoa học. Nó cần thầy trừ tà. Nó cần Abraham Setrakian.” Eph tiến đến chỗ cô. “Anh biết vừa đủ để trở nên nguy hiểm. Và vì vậy - anh phải trở nên nguy hiểm.” Câu nói kéo cô tiến ra xa khỏi tường. “Chính xác thì điều đó có nghĩa là gì?” “Anh có thể làm vật hy sinh. Hoặc ít nhất thì cũng có giá trị hy sinh như người bình thường. Trừ phi cái người bình thường đang được nói đến là một chủ tiệm cầm đồ già với trái tim không khỏe mạnh. Khỉ thật, Fet giờ cống hiến cho cuộc chiến này nhiều hơn anh nhiều. Với ông già, cậu ấy đáng giá hơn anh.” “Em không thích cách anh đang nói.” Anh sốt ruột vì phải chờ cô chấp nhận thực tế như cách anh hiểu. Vì phải làm cho cô hiểu. “Anh muốn chiến đấu. Anh muốn cống hiến hết mình cho nó. Nhưng anh không thể, khi Kelly đang bám theo những người anh quan tâm nhất. Anh cần phải biết rằng những Người Thân của anh đang được an toàn. Có nghĩa là Zack. Và có nghĩa là em.” Anh với lấy tay cô. Ngón tay họ đan vào nhau. Sự rung động thật sâu sắc, và Eph bất chợt nghĩ đến một chuyện: tính đến giờ, đã bao nhiêu ngày rồi kể từ khi anh trải nghiệm sự tiếp xúc thân thể đơn giản với một người khác? “Anh định làm gì?” Nora hỏi. Anh đan ngón tay chặt hơn vào tay cô, đo lường sự vừa vặn trong khi anh một lần nữa xác nhận kế hoạch đang thành hình trong đầu. Nguy hiểm và liều lĩnh, nhưng hiệu quả. Có thể khiến thế trận thay đổi. Anh trả lời, “Đơn giản là tỏ ra hữu dụng thôi.” Anh quay đi, cố với chai rượu trên thành bồn rửa, nhưng cô đã nắm cánh tay anh kéo anh lại phía mình. “Cứ để nó ở đó đi,” cô nói. “Xin anh đấy.” Đôi mắt màu nâu trà của cô thật đẹp, thật buồn - thật con người. “Anh không cần nó đâu.”
“Nhưng anh muốn nó. Và nó muốn anh.” Anh những muốn quay đi nhưng cô đã nhanh tay giữ anh lại. “Kelly không khiến anh dừng lại được à?” Eph suy nghĩ một hồi. “Em biết đấy, anh còn không chắc liệu cô ấy có bao giờ thực sự cố gắng không nữa.” Nora với tay lên mặt anh, đầu tiên chạm vào bên má chưa cạo, còn lởm chỏm râu, rồi đến bên đã nhẵn mịn, nhẹ nhàng vuốt ve nó bằng mu ngón tay. Sự đụng chạm khiến cả hai tan chảy. “Em có thể khiến anh dừng lại,” cô nói, áp sát mặt anh. Cô hôn bên má lởm chởm trước. Rồi anh chạm môi cô, trải nghiệm niềm hy vọng và xúc cảm dâng tràn mạnh mẽ, y như cái ôm đầu tiên. Mọi ký ức về hai lần làm tình trước đó của họ ồ ạt trở lại với anh một cách nóng bỏng và đầy mong đợi, và chính sự tiếp xúc thân thể cơ bản này đã khiến những cái ôm hôn nồng nàn hơn. Thứ từng bị mất giờ đã được khát khao trở lại. Kiệt sức, rã rời và hoàn toàn không chuẩn bị trước, họ vẫn dính chặt lấy nhau trong lúc Eph đẩy lùi Nora áp vào bức tường lát đá, đôi tay anh khao khát da thịt cô. Đối mặt với tình trạng kinh hoàng vô nhân tính này, cơn cuồng say của con người chính là một hành động bất chấp.
TAO ĐOẠN II OCCIDO LUMEN: GIAI THOẠI NGƯỜI MÔI GIỚI DA NÂU MẶC ÁO KHOÁC Nehru bằng nhung đen xoay xoay chiếc nhẫn ngọc mắt mèo xanh quanh phần gốc ngón tay út trong lúc dạo mát ở kênh đào. “Xin ông nhớ cho là tôi chưa từng gặp Mynheer Blaak. Ông ấy thích như vậy hơn.” Setrakian đi bên cạnh người môi giới. Setrakian đang du hành với hộ chiếu Bỉ, dưới cái tên Roald Pirk, nghề nghiệp được khai là “buôn bán sách cổ”. Hộ chiếu này được làm giả vô cùng tinh vi. Đó là năm 1972. Setrakian bốn mươi sáu tuổi. “Tuy nhiên, tôi có thể đảm bảo rằng ông ấy rất giàu có,” người môi giới tiếp tục. “Ông có thích tiền lắm không, ông Pirk?” “Có chứ.” “Vậy thì ông sẽ thích Mynheer Blaak lắm. Với quyển sách ông ấy đang tìm kiếm này, ông ấy sẽ trả cho ông hậu hĩnh. Tôi được ủy quyền để nói rằng ông ấy sẽ trả được mức giá ông đưa ra, mà tôi thì cho là tuyên bố đó khá hùng hồn. Điều này có làm ông vui không?” “Có.” “Nên vậy. Ông quả là may mắn khi có được quyển sách hiếm đến thế. Tôi dám chắc ông biết nguồn gốc của nó. Ông không mê tín đấy chứ?” “Thật ra là có. Nghề này là thế mà.” “À. Và đó là lý do ông chọn từ bỏ cuốn sách à? Cá nhân tôi nghĩ nó giống như phiên bản sách của truyện Con quỷ trong chai. Ông biết câu chuyện đó không?” “Stevenson, có đúng không?” “Chính xác. Ồ, tôi hy vọng ông không nghĩ là tôi đang kiểm tra kiến thức văn học để đánh giá mức độ thành thật của ông. Tôi nhắc đến Stevenson chỉ vì gần đây tôi mới môi giới một ấn bản cực hiếm của quyển Chúa Tể Ballantrae. Nhưng trong cuốn Con quỷ mà rõ ràng ông có nhớ ấy, cái chai bị nguyền rủa mỗi lần bị bán lại thêm một lần mất giá. Với quyển sách này thì không. Không, không hề. Ngược lại mới đúng.” Mắt người môi giới ánh lên vẻ hào hứng trước một cửa sổ trưng bày sáng
choang họ vừa bước qua. Khác với hầu hết các tủ trưng bày khác dọc De Wallen, quận đèn đỏ của Amsterdam, người chiếm giữ ô cửa sổ đặc biệt này là một anh chàng chuyển giới, không phải gái bán hoa thông thường. Người môi giới vuốt ria mép rồi hướng mắt về con đường lát gạch. “Dù sao thì,” ông ta nói tiếp, “quyển sách đó luôn để lại những hậu quả rắc rối. Riêng tôi thì tôi sẽ không đụng đến nó. Mynheer Blaak là một nhà sưu tập đầy thèm khát, một chuyên gia hàng đầu. Ông ấy thích những quyển sách cấm ít người biết đến, và chi phiếu của ông ấy luôn rõ ràng. Nhưng tôi cho là phải cảnh báo ông điều này thì mới công bằng, đã có một vài mưu toan gian lận đấy.” “Tôi hiểu.” “Tất nhiên, tôi không phải chịu trách nhiệm về số phận của những tay bán sách gian dối này. Dẫu vậy, tôi phải nói rằng Mynheer Blaak vô cùng hứng thú với quyển sách, vì ông ấy đã trả tôi nửa số tiền hoa hồng cho mỗi giao dịch không thành công. Để tôi có thể tiếp tục tìm kiếm và đưa những người có tiềm năng đến cửa nhà ông ấy, có thể nói là vậy.” Người môi giới hờ hững lôi ra một đôi găng tay cotton trắng đẹp đẽ đeo vào bàn tay được tỉa tót cẩn thận. “Xin ông thứ lỗi cho,” Setrakian nói, “tôi không đến tận Amsterdam để đi bộ dọc các kênh đào xinh đẹp. Như đã nói, tôi là một người mê tín, và tôi muốn giải phóng bản thân khỏi gánh nặng của một quyển sách quý giá nhường này càng sớm càng tốt. Thẳng thắn mà nói, tôi thậm chí còn lo về cướp hơn là về lời nguyền.” “Tôi hiểu, đúng vậy. Ông là người thực tế.” “Khi nào và ở đâu Mynheer Blaak sẽ có thể thực hiện cuộc giao dịch này?” “Vậy ông có mang cuốn sách theo không?” Setrakian gật đầu. “Nó đây.” Người môi giới chỉ vào chiếc va li quai đôi, khóa đôi, bằng da cứng màu đen trong tay Setrakian. “Mang theo người à?” “Không, quá mạo hiểm.” Setrakian chuyển chiếc va li từ tay này sang tay kia, hy vọng đưa ra được tín hiệu chỉ điều ngược lại. “Nhưng nó ở đây. Ở Amsterdam. Gần đây.” “Vậy xin ông hãy thứ lỗi cho sự đường đột của tôi. Nhưng nếu ông thực sự sở hữu cuốn Lumen, thế thì ông phải biết nội dung của nó. Lý do tồn tại của nó, đúng chứ?”
Setrakian dừng lại. Bây giờ ông mới nhận thấy họ đã lang thang rời khỏi những con phố nhộn nhịp và giờ đang ở trong một con hẻm hẹp không một bóng người. Người môi giới chắp tay lại sau lưng như đang nói chuyện bình thường. “Tôi biết,” Setrakian nói. “Nhưng sẽ thật ngu xuẩn nếu tôi tiết lộ quá nhiều.” “Thật vậy,” người môi giới nói. “Và chúng tôi cũng không trông chờ ông sẽ làm vậy, nhưng - ông có thể tóm tắt ngắn gọn ấn tượng của ông về nó được không? Chỉ vài lời thôi, nếu ông có thể.” Setrakian nhận thấy ánh kim loại nháng lên sau lưng người môi giới - hay đó là bàn tay mang găng của ông ta nhỉ? Dù sao thì Setrakian cũng không sợ. Ông đã sẵn sàng cho tình huống này. “MaTakh Elohim. Sứ giả của Chúa. Các thiên thần. Tổng lãnh thiên thần. Trong trường hợp này, những Thiên Thần Sa Ngã. Và dòng giống đồi bại của chúng trên trái đất này.” Ánh mắt người môi giới thoáng lóe lên, rồi lại tĩnh lặng. “Tuyệt vời. Chà, Mynheer Blaak vô cùng háo hức được gặp ông và sẽ sớm liên lạc.” Người môi giới chìa một bàn tay đeo găng trắng ra cho Setrakian. Setrakian đang đeo găng tay đen, và người môi giới chắc chắn đã cảm nhận được những ngón tay còng queo của ông khi họ bắt tay - nhưng, trừ việc cứng người lại một cách bất lịch sự, ông ta không phản ứng gì khác. Setrakian nói, “Tôi cho ông địa chỉ ở đây của tôi nhé?” Người môi giới thô lỗ xua bàn tay đeo găng. “Tôi không được biết gì cả. Thưa ông, tôi chúc ông mọi sự thành công.” Ông ta cất bước quay lại lối họ vừa đi. “Nhưng ông ấy sẽ liên lạc với tôi bằng cách nào?” Setrakian hỏi với theo. “Tôi chỉ biết là ông ấy sẽ liên lạc,” người môi giới nói với lại qua bờ vai viền nhung. “Chúc ông buổi tối tốt lành, ông Pirk.” Setrakian dõi theo người đàn ông bảnh bao, đủ lâu để thấy ông ta rẽ về phía ô cửa sổ họ đã đi qua lúc nãy và lịch sự gõ cửa. Setrakian dựng cổ áo choàng lên và đi về hướng Tây, rời con kênh đen như mực để đến Quảng trường Dam. Amsterdam, thành phố của những kênh đào, là một nơi trú ẩn khác thường cho một Strigoi, vốn bản chất không thể vượt qua dòng nước chảy. Nhưng tất cả những năm tháng truy lùng tên bác sĩ Đức Quốc xã Werner Dreverhaven,
bác sĩ trại Treblinka, đã dẫn Setrakian vào trong mạng lưới những nhà buôn sách cổ bí mật. Tiếp đó, nó đặt ông lên con đường dẫn đến đối tượng nỗi ám ảnh của Dreverhaven, bản dịch Latin cực hiếm của một văn bản Lưỡng Hà ít người biết. De Wallen nổi tiếng nhờ hợp chất ma túy khủng khiếp, quán cà phê, câu lạc bộ tình dục, nhà thổ và trai gái bán dâm đứng trong cửa sổ. Tuy nhiên, các con hẻm và kênh đào của thành phố cảng này cũng là nơi trú ngụ của một nhóm tuy nhỏ nhưng có sức ảnh hưởng lớn gồm những nhà buôn sách cổ đã mua đi bán lại các văn bản gốc khắp thế giới. Setrakian biết được rằng Dreverhaven - dưới lốt một nhà sưu tầm sách tên Jan-Piet Blaak - đã lẩn trốn đến Vùng Đất Trũng (24) sau chiến tranh, dịch chuyển khắp nước Bỉ cho đến đầu thập niên 1950, vượt biên vào Hà Lan và định cư ở Amsterdam năm 1955. Ở De Wallen, hắn có thể di chuyển tự do vào buổi tối, dọc những con đường được các kênh lạch đưa ra ngoài vòng pháp luật, và nghiên cứu vào ban ngày mà không bị ai phát hiện. Các kênh đào khiến hắn không muốn ở đây, nhưng rõ ràng cám dỗ từ nghề buôn sách - đặc biệt là cuốn Occido Lumen - quá hấp dẫn. Hắn đã dựng ổ ở đây và chọn thành phố này làm nơi ở cố định. Khu vực giữa thành phố trông như một hòn đảo, tỏa ra từ Quảng trường Dam, được kênh đào bao quanh một phần nhưng không bị chia làm hai. Setrakian băng qua những tòa nhà đầu hồi ba trăm năm tuổi, mùi khói thuốc lá cuộn bay ra từ những ô cửa sổ vang tiếng nhạc dân ca Mỹ. Một phụ nữ trẻ hối hả chạy qua, tập tễnh trên một chiếc giày gãy gót, bị muộn ca làm đêm, đôi chân đeo nịt tất và đôi tất mắt lưới lộ ra dưới viền áo khoác lông chồn giả. Setrakian bắt gặp hai chú bồ câu đậu trên mấy viên sỏi rải đường, không hề để ý ông đang đi tới. Ông bước chậm lại, nhìn xem thứ gì đã thu hút sự hứng thú của chúng. Lũ bồ câu đang rỉa xác một con chuột cống. “Tôi nghe bảo ông có cuốn Lumen à?” Setrakian cứng đờ người. Kẻ đó đang ở rất gần - thật ra là ngay đằng sau ông. Nhưng giọng nói lại xuất phát từ trong đầu ông. Setrakian xoay nửa người lại, thất kinh. “Mynheer Blaak?” Ông đã lầm. Không có ai đằng sau ông cả. “Ông Pirk phải không nhỉ?” Setrakian nhảy bật sang bên phải. Trong lối vào tối tăm của một con hẻm,
một dáng hình đứng bệ vệ, mặc áo choàng dài trang trọng, đội mũ chóp cao, tì vào một cây gậy nhỏ đầu bịt kim loại. Setrakian nuốt dòng adrenaline, sự mong chờ cùng nỗi sợ hãi của mình vào trong lòng. “Làm sao ông tìm được tôi, thưa ông?” “Quyển sách. Nó mới quan trọng. Ông có giữ nó không, Pirk?” “Tôi… tôi cất nó gần đây.” “Khách sạn của ông ở đâu?” “Tôi thuê một căn hộ gần ga. Nếu ông muốn, tôi rất sẵn lòng thực hiện giao dịch của chúng ta ở đó…” “Tôi e là mình không tiện đi xa đến thế, vì tôi bị gút nặng.” Setrakian xoay hẳn người về phía bóng đen đó. Có vài người trên quảng trường, và ông đánh liều tiến một bước về phía Dreverhaven, ra vẻ không ngờ vực gì cả. Ông không ngửi thấy mùi đất thường thấy ở Strigoi, nhưng mùi khói thuốc lá cuộn thấm vào màn đêm như nước hoa. “Vậy ông đề nghị thế nào? Tôi rất muốn kết thúc vụ mua bán này trong tối nay.” “Nhưng ông phải quay lại căn hộ của ông trước.” “Phải. Chắc là vậy.” “Hừm.” Hình bóng kia dấn lên một bước, gõ chân gậy bọc kim loại xuống mặt đường lát sỏi. Mấy con chim bồ câu vẫy cánh bay lên sau lưng Setrakian. Blaak hỏi, “Tôi lấy làm lạ là một người giữa một thành phố xa lạ lại tin tưởng để một thứ đồ giá trị như thế trong căn hộ của mình thay vì tự thân bảo vệ nó.” Setrakian chuyển chiếc va li từ tay này sang tay kia. “Ý ông là gì?” “Tôi không tin một nhà sưu tầm thực thụ lại mạo hiểm để một vật phẩm quý báu như thế rời khỏi tầm mắt. Hoặc tầm tay của ông ta.” Setrakian đáp, “Quanh đây đầy cướp đấy.” “Trong chính chúng ta cũng có. Nếu ông thật sự muốn giải thoát bản thân khỏi gánh nặng của món đồ bị nguyền rủa này với một mức giá cao thì giờ ông sẽ đi theo tôi, Pirk. Nhà tôi chỉ cách đây mấy bước chân thôi.” Dreverhaven xoay người đi vào hẻm, dùng gậy nhưng không dựa vào nó. Setrakian trấn tĩnh lại, liếm môi và vừa sờ tay lên đám râu cứng gớm guốc của mình vừa bước theo tên tội phạm chiến tranh xác sống vào trong con hẻm lát đá.
Lần duy nhất Setrakian được phép ra ngoài hàng rào kẽm gai ngụy trang của trại Treblinka là để làm thư viện cho Dreverhaven. Tên bác sĩ sống trong căn nhà chỉ cách trại vài phút lái xe, công nhân lần lượt được chuyển tới đó bởi một nhóm ba lính gác vũ trang người Ukraina. Setrakian không tiếp xúc mấy với Dreverhaven ở nhà hắn, và may mắn hơn cả, anh cũng không hề tiếp xúc với hắn trong phòng khám bệnh ở trại, nơi Dreverhaven cố gắng thỏa mãn trí tò mò về khoa học và y khoa của hắn theo kiểu một thằng nhóc được nuông chiều đang bị bỏ mặc một mình chơi trò cắt giun làm đôi và đốt cánh ruồi. Ngay từ hồi đó, Dreverhaven đã thích sưu tầm sách, dùng cách rò rỉ thông tin về chiến tranh và cuộc diệt chủng - cướp vàng và kim cương từ các xác sống - để trả những món tiền khổng lồ cho những văn bản hiếm có từ