Húng Nhại

Chương 7

Chương 7

Tôi bỗng thấy tò mò khôn tả. “Thế anh đã hôn ai? Ở đâu?”

“Nhiều quá không nhớ nổi. Sau trường, trên đống xỉ, bất cứ chỗ nào,” anh nói.

Tôi đảo mắt. “Vậy em trở nên cực kỳ đặc biệt khi nào? Khi họ tống em đến Capitol à?”

“Không. Trước đấy khoảng sáu tháng cơ. Ngay sau khi đón năm mới ấy. Lúc đó mình đang ở chợ Hob, ăn xúp ở quán bà Greasy Sae. Còn Darius thì trêu rằng sẽ lấy một con thỏ để đổi lại cho em một nụ hôn. Và anh nhận ra... anh thấy khó chịu,” anh kể tôi nghe.

Tôi nhớ lại hôm đó. Mới bốn giờ chiều mà trời sầm sì, lạnh se sắt. Chúng tôi đang đi săn thì phải quay về thị trấn vì gặp tuyết lớn. Chợ Hob đông nghẹt người tìm chỗ trú. Xúp quán bà Greasy Sae, được nấu từ nước hầm xương chó hoang mà chúng tôi bắn được một tuần trước đó, không ngon như mọi bữa. Nhưng nó vẫn nóng hổi và tôi thì đói ngấu xúc lấy xúc để, chân khoanh tròn trên quầy. Darius dựa vào cột quầy hàng chọc chọc đuôi bím tóc vào má tôi trong khi tôi hất tay anh ra. Anh thao thao giải thích tại sao nụ hôn của mình lại đáng giá một con thỏ, hoặc có thể là hai, vì ai cũng biết đàn ông tóc đỏ là sung nhất. Còn Greasy và tôi thì phì cười vì anh đúng là lố bịch và dai như đỉa, không ngớt chỉ ra các bà các cô quanh chợ Hob mà theo lời anh là đã trả hơn một con thỏ để được thưởng thức môi anh. “Thấy không? Cái cô quàng khăn xanh ấy? Ra mà hỏi cô ta.

Nếu

em cần tham khảo.”

Cách đây hàng triệu dặm, hàng tỷ ngày, chuyện ấy đã xảy ra. “Darius chỉ đùa cho vui thôi mà,” tôi nói.

“Có thể. Mặc dù nếu anh ấy không đùa thì em cũng còn khướt mới phát hiện ra,” Gale bảo tôi. “Cứ lấy Peeta ra làm ví dụ này. Hay lấy anh. Hay thậm chí là Finnick. Trước anh lo anh ta để mắt đến em, nhưng giờ anh ta có vẻ trở lại đúng hướng rồi.”

“Nếu anh nghĩ Finnick từng yêu em thì anh chả hiểu gì về anh ấy cả,” tôi nói.

Gale nhún vai. “Anh biết là anh ta từng tuyệt vọng. Điều đó khiến con người ta làm đủ thứ điên rồ.”

Tôi không thể không nghĩ rằng câu đó nhắm thẳng vào mình.

Rạng sáng hôm sau, các bác học tập trung lại bàn về vấn đề Hạt. Tôi được yêu cầu đến dự cuộc họp mặc dù chẳng có gì nhiều mà đóng góp. Tôi tránh xa bàn hội nghị, vắt vẻo trên bậu cửa sổ rộng trông ra ngọn núi đang được bàn tới. Chỉ huy Quận 2, một phụ nữ trung niên tên Lyme, dẫn chúng tôi tham quan ảo một vòng quanh Hạt, bên trong và các công sự của nó, đồng thời nhắc lại những nỗ lực đánh chiếm thất bại. Tôi đã chạm mặt sơ sơ với bà vài lần kể từ khi đến đây, và cứ có cảm giác là đã gặp bà rồi. Bà khá đáng nhớ, cao chừng mét năm tám, cơ bắp cuồn cuộn. Nhưng khi xem đoạn ghi hình bà trên cánh đồng, chỉ huy cuộc tập kích tại cửa núi chính dẫn vào Hạt, tôi mới chợt nhận ra mình đã được diện kiến một người chiến thắng khác: Lyme, vật tế Quận 2, người chiến thắng Đấu trường Sinh tử cách đây hơn một thế hệ. Effie đã gửi cho chúng tôi cuốn băng về bà, lẫn trong các cuốn khác, để chuẩn bị cho Huyết trường Tứ phân. Có lẽ tôi đã thoáng thấy bà trong các kỳ Đấu trường những năm qua, nhưng bà khá mờ nhạt. Nhớ lại phát hiện mới mẻ về cách Capitol xử Haymitch và Finnick, tôi chỉ có thể nghĩ đến một điều: Capitol đã làm gì bà sau khi bà chiến thắng?

Khu Lyme thuyết trình xong, phía bác học bắt đầu đặt câu hỏi. Hàng tiếng trôi đi, giờ ăn trưa đến rồi qua trong khi họ cố tìm ra một kế hoạch thực tế để đánh chiếm Hạt. Nhưng dù cho Beetee cho rằng ông có thể khống chế những hệ thống máy tính nhất định, và mọi người đã bàn đến việc tận dụng khả năng của số điệp viên trong tay ít ỏi, thì cũng không ai nảy ra sáng kiến ra trò nào. Khi chiều tàn, cuộc thảo luận cứ xoay về một chiến lược đã thử đi thử lại – đột kích các cửa núi. Tôi có thể thấy nỗi thất vọng tích tụ của Lyme, vì có quá nhiều biến thể của kế hoạch này bị thất bại, quá nhiều chiến binh của bà phải bỏ mạng. Cuối cùng, bà buột miệng nói, “Người tiếp theo đề nghị chúng ta đánh chiếm các cửa núi nên có cách tiến hành xuất sắc, bới anh sẽ là người chỉ huy nhiệm vụ này!”

Gale, vốn quá cuồng chân cuồng tay không thể ngồi dính vào bàn quá vài tiếng đồng hồ, lúc thì đi đi lại lại, lúc lại nhập hội cùng tôi bên bậu cửa sổ. Ngay từ đầu, anh xem ra đã chấp nhận lời khẳng định của Lyme rằng không thể đánh chiếm các cửa núi, và hoàn toàn rút khỏi cuộc trao đổi. Chừng một tiếng đồng hồ cuối cùng, anh ngồi yên, lông mày nhíu lại tập chung, chằm chằm nhìn Hạt qua kính cửa sổ. Trong bầu im lặng nối theo sau lời cảnh báo tối hậu của Lyme, anh cất tiếng. “Có thật là nhất thiết phải đánh chiếm Hạt không? Hay chỉ cần vô hiệu hóa nó là đủ?”

“Làm thế thì hẳn là bước đi đúng hướng rồi,” Beetee nói. “Thế cháu có ý gì?”

“Coi đó là hang chó hoang,” Gale nói tiếp “Ta sẽ không tìm cách xâm nhập vào đó. Vậy ta có hai lựa chọn. Bẫy lũ chó ra bên trong hoặc lùa chúng ra ngoài.”

“Chúng tôi đã thử đánh bom cửa núi rồi,” Lyme nói. “Chúng được đặt quá sâu trong đá tới mức hầu như không bị sứt mẻ gì.”

“Tôi không nghĩ đến việc đó,” Gale nói. “Tôi nghĩ đến việc lợi dụng ngọn núi kia.” Beetee đứng lên lại gần Gale bên cửa sổ, nheo mắt nhìn qua cặp kính không vừa vặn. “Thấy không? Chạy xuôi hai bên sườn ấy?”

“Những con đường lở,” Beetee thì thầm. “Khó nhằn đấy. Chúng ta phải thiết kế chuỗi vụ nổ cực kỳ cẩn thận, và một khi nó bắt đầu, chúng ta không thể hy vọng kiểm soát nó được đâu.”

“Chúng ta không cần kiểm soát nó nếu chúng ta từ bỏ ý định phải chiếm Hạt,” Gale nói. “Chỉ cần cho nó ngừng hoạt động thôi.”

“Tức là cậu đề nghị chúng ta gây sạt lở chặn các cửa núi ử?” Lyme hỏi.

“Chính thế,” Gale nói. “Nhốt kẻ thù bên trong, cắt mọi nguồn cung ứng. Khiến chúng không thể cho tàu bay ra ngoài.

Trong khi tất cả cân nhắc kế hoạch, Boggs giở qua chồng bản thiết kế của Hạt đoạn nhíu mày. “Làm thế là có nguy cơ giết hết mọi người bên trong đấy. Nhìn hệ thống thông hơi mà xem. Khá nhất cũng chỉ thô sơ thế này thôi. Không hề giống Quận 13 chúng ta. Nó phụ thuộc hoàn toàn vào việc bơm không khí từ sườn núi. Bịt những lỗ này là ta sẽ làm chết ngạt bất cứ ai bị nhốt.”

“Họ vẫn có thể thoát ra ngoài qua đường hầm tàu hỏa dẫn tới quảng trường,” Beetee nói.

“Chẳng có cơ đâu nếu ta làm nó nổ tung,” Gale cộc cằn nói. Ý định của anh, toàn bộ ý định của anh, trở nên rõ ràng. Gale chẳng màng đến việc giữ mạng sống cho những người trong Hạt. Chẳng màng đến việc nhốt con mồi để dành đấy.

Đây là một trong những cái bẫy chết của anh.

15.

Những ẩn ý trong lời đề xuất của Gale lặng lẽ bao trùm khắp phòng. Có thể thấy phản ứng dần lộ trên các khuôn mặt. Có đủ thái độ từ hài lòng đến lo ngại, từ đau buồn đến thỏa mãn.

“Phần lớn công nhân là dân Quận 2,” Beetee nói giọng trung lập.

“Thế thì sao?” Gale vặc lại. “Chúng ta sẽ không bao giờ có thể tin tưởng họ được nữa.”

“Ít nhất cũng phải cho họ cơ hội đầu hàng chứ,” Lyme góp ý.

“Chà, chúng tôi đâu có cái cơ hội xa xỉ đó khi chúng đánh bom Quận 12, nhưng các người thì thân với Captitol hơn nhiều,” Gale độp lại. Nhìn vẻ mặt của Lyme, tôi nghĩ dám bà bắn anh lắm, hay ít nhất cũng đấm anh một cú. Có lẽ bà cũng có lợi thế hơn, với tất cả kỹ năng rèn luyện của mình. Nhưng sự giận dữ của bà chỉ chọc tức Gale, anh liền hét lên, “Chúng tôi đã chứng kiến lũ trẻ chết cháy mà chẳng làm gì được!”

Tôi phải nhắm mắt lại một thoáng khi hình ảnh đó xé toạc lòng tôi. Nó mang lại hiệu quả mong muốn. Tôi muốn tất cả mọi người trong ngọn núi đó chết hết. Dợm nói ra câu ấy. Nhưng mặt khác… tôi còn là dân Quận 12. Không phải Tống thống Snow. Tôi không thể làm khác được. Tôi không thể giáng xuống ai đó cái án tử mà anh đang đề xuất. “Gale à,” tôi nắm cánh tay anh, cố nói giọng hợp tình hợp lẽ. “Hạt là một mỏ than cũ. Việc đó sẽ giống như gây ra một tai nạn mỏ than trầm trọng vậy.” Chắc chắn những lời đó đủ sức khiến bất cứ người dân Quận 12 nào cũng phải cân nhắn lại kế hoạch.

“Nhưng không nhanh bằng vụ giết chết cha em, ” Anh bẻ lại. “Đó là vấn đề của tất cả mọi người à? Rằng kẻ thù của chúng ta có thể có vài giờ suy ngẫm cái thực tế là chúng đang hấp hối, thay vì chỉ bị nổ tung thành từng mảnh?”

Nhớ lại ngày xưa, khi chúng tôi chỉ là hai đứa trẻ đi săn ngoài Quận 12, Gale đã nói những điều tương tự và còn tệ hơn thế. Nhưng khi ấy chúng chỉ là lời nói. Ở đây, được đưa vào thực hiện, chúng trở thành hành động không bao giờ đảo ngược được.

“Anh đâu biết vì sao những người dân Quận 2 đó lại làm việc trong Hạt,” tôi nói. “Họ có thể bị ép lắm chứ. Biết đâu họ không muốn nhưng vẫn bị bắt giữ. Một số còn là gián điệp của chúng ta. Anh cũng sẽ giết họ à?”

“Anh sẽ hy sinh vài người, phải, để tiêu diệt phần còn lại,” anh đáp. “Và nếu anh là gián điệp đang ở trong đó, anh sẽ nói ‘Cho đất đá sạt lở đi!’ ”

Tôi biết anh nói thật. Biết Gale sẵn sàng xả thân theo cách này vì đại cục – không ai nghi ngờ điều đó cả. Có lẽ chúng tôi thảy cũng đều làm như vậy nếu chúng tôi là gián điệp và được quyền lựa chọn. Tôi đoán mình cũng sẽ làm như thế. Nhưng đó là một quyết định nhẫn tâm đối với nhưng kẻ khác và bao người yêu thương họ.

“Cậu nói chúng ta có hai lựa chọn,” Boggs bảo anh. “Nhốt họ hoặc lùa họ ra ngoài. Tôi cho rằng chúng ta có thể tìm cách làm sạt lở núi, nhưng đừng động tới đường hầm tàu hỏa. Mọi người có thể trốn thoát tới quảng trường, và chúng ta sẽ đợi họ ở đó.”

“Vũ trang đầy đủ, tôi đoán thế,” Gale nói. “Ông biết chắc họ sẽ làm vậy mà.”

“Thông báo cho Quận 13 ngay,” Beetee đề nghị. “Hãy để Thống đốc Coin cho ý kiến.”

“Bà ta sẽ muốn chặn cả đường hầm,” Gale nói chắc như đinh đóng cột.

“Phải, nhiều khả năng là như vậy. Nhưng cháu biết đấy, Peeta đã nói đúng một điểm trong ĐTT của cậu ấy. Về nguy cơ giết sạch chúng ta ấy. Bác đã thử tính toán một chút. Kể cả số người thương vong và… bác nghĩ nó đáng giá ít nhất một cuộc bàn thảo,” Beetee nói

Chỉ vài người được mời lại bàn thảo. Glae và tôi cùng những người khác được tan họp. Tôi đưa anh đi săn để anh xả giận, nhưng anh không đả động gì đến chuyện đó. Có lẽ quá bực tôi vì đã chống lại anh.

Cuộc gọi đã được thực hiện, quyết định được đưa ra, và đến chiều tôi được khoác lên mình trang phục Húng nhại, đeo cung trên vai và mang theo tai nghe kết nối tôi với Haymitch ở Quận 13 – nhỡ khi có cơ hội tốt nảy sinh một ĐTT. Chúng tôi đợi trên mái Tòa Tư pháp, mục tiêu nằm gọn trong tầm mắt.

Ban đầu các chỉ huy trong Hạt chẳng đếm xỉa gì đến tàu bay của chúng tôi, vì trước đây những món này chả đáng bận tâm hơn lũ ruồi vo ve quanh hũ mật là mấy. Nhưng sau hai lượt đánh bom vào giờ cao điểm phía trên của ngọn núi thì chúng đã phải để mắt tới. Đến khi vũ khí phòng không của Capitol khai hỏa thì đã quá muộn.

Kế hoạch của Gale vượt quá mong đợi của bất kì ai. Beetee đã nói đúng về việc không thể kiểm soát vụ sạt lở một khi nó bắt đầu. Các sườn núi vốn đã không vững, nay lại bị vụ nổ làm lung lay, nên cơ hồ lở bung ra. Toàn bộ các phần của Hạt sụp xuống trước mắt chúng tôi, xóa sạch bất cứ dấu vết nào cho thấy con người từng đặt chân đến đây. Chúng tôi đứng không thốt nên lời, bé nhỏ và nhạt nhòa trong khi từng đợt đá lăn sầm sập xuống núi. Chôn vùi các cửa núi dưới hàng tấn đá. Gây nên đám bụi mù mịt và đống đổ nát làm sa sầm cả bầu trời. Biến Hạt thành nấm mồ.

Tôi tưởng tượng ra thảm cảnh bên trong ngọn núi. Tiếng còi rền rĩ. Đèn nhấp nháy hắt sáng vào bóng tối. Bụi đá dày đặc trong không khí. Những tiếng hét kinh hoảng, những người bị mắt kẹt loạng choạng nhốn nháo tìm lối ra, để rồi nhận thấy các cửa núi, bệ phóng tên lửa, và ống thông hơi đã bị đất đá bịt kín. Dây điện sống lủng lẳng, đám cháy bùng lên, hàng đống đổ nát biến con đường quen thuộc thành mê cung. Mọi người lao rầm rập, chen lấn xô đẩy, bò lổm ngổm như kiến trong khi đống đất đá đè xuống đe dọa nghiền nát lớp vỏ mỏng manh của họ.

“Katniss?” Giọng Haymitch vang lên trong tai nghe. Tôi cố đáp lại nhưng phát hiện ra cả hai tay mình đang bưng chặt miệng. “Katniss!”

Vào ngày cha tôi chết, tiếng còi báo động rú lên suốt giờ ăn trưa ở trường. Không ai chờ tan học và cũng chẳng cần phải chờ đến lúc đó. Ứng phó với tai nạn mỏ than là thứ nằm ngoài tầm kiểm soát thậm chí với Capitol. Tôi chạy tới lớp Prim. Tôi vẫn còn nhớ em hồi ấy, đứa bé bảy tuổi nhỏ xíu, nhợt nhạt, nhưng ngồi thẳng lưng khoanh tay trên bàn. Đợi tôi đến đón em như đã hứa nếu còi báo động reo. Em bật dậy khỏi ghế, túm tay áo khoát của tôi, và hai chị em tôi len qua dòng người đổ ra phố để tập trung trước cửa chính của mỏ than. Chúng tôi thấy mẹ bấu chặt sợi thừng được chăng vội để ngăn đám đông. Hồi tưởng lại, lẽ ra ngay khi đó tôi nên biết là có vấn đề. Bởi tại sao chúng tôi lại phải đi tìm mẹ, trong khi đáng ra ngược lại mới đúng?

Thang máy kêu kèn kẹt, nghiến rít sợi cáp nhả những thợ mỏ ám khói vào với ánh ngày. Mỗi nhóm bước ra là những tiếng kêu nhẹ nhõm cất lên, người thân chui qua dây thừng đến dẫn chồng, vợ, con, cha mẹ, anh chị em mình đi. Chúng tôi đứng trong bầu không khí lạnh giá lúc chiều buông, một lớp tuyết mỏng phủ trên mặt đất. Thang máy càng lúc càng chậm và nhả ra ít người hơn. Tôi đã quỳ xuống đất ấn tay lên lớp tro than, muốn kéo ra cha khôn cùng. Nếu có một cảm giác nào bất lực hơn việc cố với tới người mình yêu thương đang bị mắt kẹt dưới lòng đất thì tôi không biết đó là gì. Người bị thương. Những thi thể. Cuộc chờ đợi xuyên đêm. Nhưng tấm chăn được người lạ quấn quanh vai ta. Một tách nước nóng mà ta không buồn uống. Và rồi cuối cùng, khi bình minh hé rạng, nét mặt đau buồn của người trưởng kíp trực mỏ chỉ có thể mang một ý nghĩa duy nhất.

Chúng tôi vừa làm gì thế này?

“Katniss! Cháu ở đó chứ?” Chắc ngay lúc này Haymitch đáng tính tròng cho tôi cái cùm đầu.

Tôi buông tay ra. “Vâng.”

“Vào trong đi. Không nhỡ Capitol vét hết những gì còn lại trong không lực để tìm cách trả thù đấy,” ông hướng dẫn.

“Vâng,” tôi nhắc lại. Tất cả mọi người trên mái nhà, ngoại trừ những chiến binh trực chiến bên súng máy, bắt đầu vào trong. Khi đi xuống cầu thang, tôi không thể không lướt ngón tay dọc những bức tường cẩm thạch trắng hoàn mỹ. Lạnh và đẹp biết bao. Ngay ở cả Capitol cũng chẳng có gì sánh nổi sự tráng lệ của tòa nhà cổ này. Nhưng bề mặt đá thì rắn đanh – tôi chỉ thấy bắp thịt rã rời, người lạnh đi. Thời nào đá cũng chinh phục con người.

Tôi ngồi dưới chân một cây cột khổng lồ trong đại tiền sảnh. Qua cửa tôi trông thấy hàng đá cẩm thạch trắng trải dài dẫn tới những bậc thanh trên quảng trường. Tôi nhớ mình đã nôn nao thế nào vào cái ngày Peeta và tôi ở đó nhận lời chúc mừng cho chiến thắng trong Đấu trường. Rã rời vì chuyến Diễu hành Chiến thắng, không xoa dịu được các quận, đối mặt với những ký ức về Clove và Cato, nhất là cái chết từ từ đáng sợ của Cato dưới móng bọn mút.

Boggs khom người xuống bên tôi, da ông nhợt nhạt trong bóng tối. “Chúng ta đã không đánh bom đường hầm tàu hỏa, cháu biết đấy. Có lẽ một số người sẽ thoát được.”

“Rồi chúng ta sẽ bắn họ khi họ ló mặt ra phải không?” tôi hỏi

“Chỉ khi bắt buộc thôi,” ông đáp.

“Chúng ta có thể tự phái tàu hỏa đến mà. Giúp sơ tán người bị thương,” tôi nói.

“Không. Đã quyết là để đường hầm cho họ xử lý. Bằng cách đó họ có thể sử dụng mọi đường ray để đưa mọi người ra ngoài,” Boggs nói. “Với cả, làm thế thì chúng ta sẽ có thời gian đưa những chiến binh còn lại tới quảng trường.”

Vài tiếng trước, quảng trường là vùng đất không người, tiền tuyến của trận chiến giữa phiến quân và các Trị an viên. Khi Coin phê chuẩn kế hoạch của Gale, phiến quân đã mở một cuộc tấn công dữ dội đẩy lùi lực lượng Capitol cách vài dãy nhà để chúng tôi kiểm soát được ga tàu trong trường hợp Hạt sụp đổ. Giờ thì nó sụp đổ thật rồi. Thực tế trở nên sáng rõ. Bất kỳ ai sống sót cũng sẽ tới quảng trường tháo thân. Tôi nghe thấy tiếng đạn nổ lại vang lên, khi các Trị an viên chắc chắn là đang chiến đấu tìm cách vào cứu đồng đội. Những chiến binh của chúng tôi đang được đưa vào phản công.

“Cháu lạnh quá,” Boggs nói. “Để tôi tìm xem có chăn không.” Ông đi mà tôi không kịp ngăn lại. Tôi không cần chăn, dù đá cẩm thạch đang tiếp tục hút hơi ấm khỏi cơ thể mình.

“Katniss,” Haymitch nói bên tai tôi.

“Vẫn đây ạ,” tôi đáp.

“Chiều nay tình hình Peeta có biến chuyển thú vị đấy. Chắc là cháu muốn biết,” ông nói. Thú vị không có nghĩa là tốt. Không có nghĩa là tốt hơn. Nhưng tôi thực không có bất kỳ lựa chọn nào khác ngoài lắng nghe. “Chúng ta đã cho thằng bé xem đoạn ghi hinh cháu hát bài ‘Cây Treo cổ’. Nó chưa bao giờ được phát sóng, vì thế Capitol không thể sử dụng nó khi thằng bé bị bắt hồn. Nó nói nó nhận ra bài hát đó.”

Tim tôi lỡ một nhịp trong giây khắc. Rồi tôi nhận ra đó chỉ là sự lú lẫn khác do nọc độc bắt-là-cắt gây ra. “Cậu ấy không biết được đâu bác Haymitch. Cậu ấy chưa bao giờ nghe thấy cháu hát bài đó cả.”

“Không phải cháu. Mà là cha cháu. Nó nghe ông ấy hát vào cái ngày ông ấy tới tiệm bánh trao đổi hàng hóa. Hồi đó Peeta còn nhỏ, độ sáu, bảy tuổi thôi, nhưng nó nhớ được bởi vì nó đã đặc biệt lắng nghe xem lũ chim có ngừng hót không,” Haymitch nói. “Chắc là có.”

Sáu, bảy tuổi. Có lẽ là trước khi mẹ tôi cấm hát bài đó. Thậm chí còn quanh khoảng thời gian tôi học nó không chừng. “Có cả cháu ở đấy à?”

“Đừng nghĩ vậy. Không nhắc gì đến cháu cả. Nhưng đó là sự kết nối đầu tiên với cháu mà không làm thằng bé lên cơn,” Haymitch nói. “Ít nhất cũng có ý nghĩa nào đó, Katniss à.”

Cha tôi. Hôm nay ông dường như hiện diện khắp nơi. Chết trong hầm mỏ. Đưa tiếng hát vào nhận thức mơ hồ của Peeta. Ẩn hiện trong ánh mắt Boggs nhìn tôi khi ông choàng tấm chăn quanh vai tôi vẻ che chở. Tôi nhớ cha quay quắt đến đau lòng.

Đạn đã thực sự nổ đùng đoàng ngoài kia. Gale cùng một nhóm phiến quân lao vút qua, hăm hở xông vào cuộc chiến. Tôi không xin được tham gia cùng các chiến binh, chẳng phải vì đằng nào họ cũng không cho mà bởi tôi còn lòng lạ với nhiệt huyết đâu mà làm việc đó. Tôi ước gì Peeta ở đây – Peeta ngày xưa ấy – vì cậu sẽ có thể nói rõ ràng tại sao việc nã đạn vào nhau khi mọi người, bất kỳ người nào, đang hì hụt tìm cách thoát khỏi núi, lại sai trái đến thế. Hay chuyện cũ của tôi làm tôi quá nhạy cảm? Không phải chúng tôi đang trong cuộc chiến ư? Đó chẳng phải chỉ là cách thức khác để giết kẻ thù của chúng tôi hay sao?

Màn đêm ụp uống. Những bóng đèn chiếu cỡ lớn chói rỡ được bật lên, thắp sáng quảng trường. Mỗi bóng đèn hẳn cũng phải chiếu hết công suất trong ga tàu. Cho dù đang đứng bên kia quảng trường, tôi vẫn có thể rõ ràng nhìn xuyên qua mặt trước lắp kính dày của tòa nhà dài hẹp. Không thể nào bỏ lỡ đoàn tàu đáp bến, hay thậm chí một người nào. Nhưng hàng giờ rồi mà vẫn không ai đến. Mỗi phút trôi qua lại càng khó tưởng tượng ra có bất kỳ ai sống sót khỏi cuộc đột kích vào Hạt.

Mãi sau nửa đêm, Cressida tới lắp một cái micro đặc biệt vào trang phục của tôi. “Cái này để làm gì ạ?” tôi hỏi.

Giọng Haymitch vang lên giải thích. “Ta biết là cháu sẽ không thích nó, nhưng chúng ta cần cháu đọc một bài phát biểu.”

“Một bài phát biểu ạ?” tôi nói, chưa chi đã thấy nôn nao.

“Ta sẽ mớm cho cháu từng câu một,” ông trấn an tôi. “Cháu chỉ phải lặp lại những gì ta nói thôi. Nghe này, không có dấu hiệu sự sống nào trên ngọn nói đó cả. Chúng ta đã thắng, nhưng trận chiến vẫn tiếp tục. Vì thế chúng ta nghĩ nếu cháu bước ra bậc thềm Tòa Tư pháp trình bày - nói với mọi người rằng Hạt đã thất thủ, rằng sự hiện diện của Capitol ở Quận 2 đã chấm dứt – cháu có thể khiến lực lượng còn lại của chúng đầu hàng.”

Tôi nheo mắt nhìn bóng tối bên kia quảng trường. “Cháu còn chẳng nhìn thấy lực lượng của chúng.”

“Thế mới cần míc,” ông nói. “Cháu sẽ được lên sóng, cả giọng nói qua hệ thống truyền thanh khẩn cấp lẫn hình ảnh, ở bất cứ nơi nào người ta tiếp cận được màn hình.”

Tôi biết là có mấy màn hình khổng lồ trên quảng trường. Tôi đã thấy chúng trong chuyến Diễu hành Chiến thắng. Có thể cũng nên cơm cháo đấy, nếu tôi giỏi mấy trò kiểu này. Mà tiếc thay là không. Họ cũng đã cố mớm lời cho tôi trong những thử nghiệm ban đầu tới ĐTT, và đó là một thất bại thảm hại.

“Cháu có thể cứu rất nhiều mạng sống, Katniss à,” cuối cùng Haymitch nói.

“Được rồi. Cháu sẽ thử xem sao,” tôi bảo ông.

Thật lạ khi đứng ngoài trên đỉnh thềm, được vận phục trang cầu kỳ và chiếu sáng rực rỡ mà lại phát biểu cho những khán giả mình không nhìn thấy. Cứ như tôi đang trình diễn cho ông trăng xem vậy.

“Nhanh lên nào,” Haymitch nói. “Cháu lộ liễu quá rồi.”

Đội truyền hình của tôi, đã vào vị trí bên ngoài quảng trường cùng những máy quay đặc biệt, ra dấu sẵn sàng. Tôi bảo Haymitch bắt đầu, rồi bật míc, cẩn thận lắng nghe ông đọc câu đầu tiên của bài phát biểu. Hình ảnh lớn của tôi thắp sáng một trong các màn hình bên kia quảng trường khi tôi cất tiếng. “Hỡi người dân Quận 2, tôi là Katnisss Everdeen đang lên tiếng từ bậc thềm tòa Tư Pháp của các bạn, nơi…”

Hai đoàn tàu song hành rin rít chạy vào ga. Khi cửa trượt mở, mọi người túa ra trong làn khói họ mang theo từ Hạt. Ắt hẳn họ ít nhất cũng lờ mờ biết điều gì đợi mình ở quảng trường, bởi ta có thể thấy họ đang cố tìm cách tránh né. Đa số nằm rạp xuống sàn, và một lằn đạn trong nhà ga làm bóng đèn vỡ tan. Họ đến mang theo vũ khí, như Gale dự đoán, nhưng cũng bị thương nữa. Có thể nghe thấy những tiếng rên rỉ giữa bầu không khí ban đêm tĩnh lặng.

Ai đó bắn vỡ bóng đèn trên bậc thềm, để lại tôi trong sự bao bọc của bóng tối. Lửa bùng lên trong nhà ga – chắc hẳn một đoàn tàu đang cháy- và làn khói đen dày cuồn cuộn bốc vào cửa sổ. Không còn lựa chọn nào khác, mọi người bắt đầu chen lấn vào quảng trường, ngạt thở nhưng vẫn huơ súng chống đối. Mắt tôi đảo nhanh qua những mái nhà bao quanh quảng trường. Mỗi cái đều được tăng cường những ụ súng máy do phiến quân điều khiển. Ánh trắng phản chiếu lấp lánh trên các thùng dầu.

Một nam thanh niên loạng choạng bước ra khỏi ga, một tay rịt chặt chiếc khăn đẫm máu vào má, tay kia kéo lê khẩu súng. Khi người đó vấp ngã dập mặt, tôi nhìn thấy vết cháy sém chạy dọc lưng áo sơ mi của anh ta, bên dưới là lớp thịt đỏ. Bỗng nhiên anh ta cũng chỉ như một nạn nhân bỏng khác trong một tai nạn mỏ than.

Tôi lao băng băng xuống bậc thềm chạy tới chỗ anh ta. “Dừng lại!” tôi hét lên với phiến quân. “Đừng bắn!” Lời tôi nói vang vọng khắp quảng trường và xa hơn nữa khi chiếc míc khuếch đại giọng tôi lên. “Dừng lại!” Tôi tới gần người thanh niên, đang cúi xuống giúp anh ta thì anh ta lê lết quỳ dậy chĩa súng vào đầu tôi.

Theo bản năng tôi lùi lại vài bước, giơ cung lên cao quá đầu cho thấy mình không hề có ý làm lại anh ta. Giờ anh ta đã cầm súng bằng cả hai tay, tôi nhìn ra một cái lỗ nham nhở trên má anh, chỗ mà thứ gì đó – có lẽ là đá rơi – đã đâm thủng thịt. Anh ta bốc mùi cháy, mùi tóc, thịt, và nhiên liệu cháy. Mắt anh ta long sòng sọc vì đau đớn và kinh hoảng.

“Đứng yên,” giọng Haymitch thì thầm bên tai tôi. Tôi tuân lệnh ông, nhận ra đây chính là những gì mà toàn thể Quận 2, có khi là toàn thể Panem, hẳn đang xem vào thời điểm hiện tại. Húng nhại bị một người đàn ông không còn gì để mất khống chế.

Anh ta nói líu lưỡi gần như không thể nghe ra. “Cho tôi một lý do tại sao tôi không nên bắn cô đi.”

Xung quanh như mờ đi. Chỉ còn lại tôi nhìn vào cặp mắt điên loạn của người thanh niên đến từ Hạt đang đòi hỏi một lý do. Hẳn nhiên tôi nên nghĩ ra hàng nghìn cớ mới phải. Nhưng môi tôi chỉ mấp máy được mấy từ “Tôi không thể.”

Theo lý thì cảnh tiếp theo sẽ là người thanh niên kéo cò súng. Nhưng anh ta lại bối rối, cố hiểu lời tôi. Bản thân tôi cũng bối rối khi nhận ra những gì mình vừa nói hoàn toàn là sự thật, và cái động lực cao quý đưa tôi qua quảng trường đã bị thay thế bằng nỗi thất vọng. “Tôi không thể. Đó là vấn đề, phải không?” tôi hạ cung xuống. “Chúng tôi đã làm nổ tung mỏ than của các anh. Các anh đã thiêu rụi quận của chúng tôi. Chúng ta có đủ mọi lý do để giết nhau. Vậy cứ làm đi. Cho Capitol được đắc ý. Còn tôi đã chán giết nô lệ của chúng rồi.” Tôi buông cung xuống đất và dùng ủng đá nó đi.

“Tôi không phải nô lệ của họ,” người thanh niên lẩm bẩm.

“Tôi thì có,” tôi nói. “Thế nên tôi mới giết Cato… còn anh ta giết Thresh… Thresh giết Clove… cô ta thì cố giết tôi. Mọi sự cứ luẩn quẩn như vậy, và ai là kẻ chiến thắng đây? Không phải chúng ta. Không phải các quận. Luôn luôn là Capitol. Nhưng tôi mệt mỏi vì phải làm một phần trong Đấu trường của chúng lắm rồi.”

Peeta. Trên mái nhà vào cái đêm trước kỳ Đấu trường Sinh tử đầu tiên của chúng tôi. Cậu đã hiểu tường tận trước khi chúng tôi đặt chân vào đấu trường. Tôi hy vọng giờ cậu đang xem, rằng cậu nhớ ra chuyện đêm ấy, và có lẽ sẽ tha thứ cho tôi khi tôi chết.

“Cứ nói đi. Nói cho họ nghe về việc chứng kiến ngọn núi sụp đổ,” Haymitch nhấn mạnh.

“Khi thấy ngọn núi sập xuống tối nay, tôi đã nghĩ… chúng lại làm thế rồi. Bắt tôi giết các anh – người dân các quận. Nhưng tại sao tôi lại làm việc đó chứ? Quận 12 và Quận 2 đâu có cuộc chiến nào ngoại trừ cuộc chiến Capitol gây ra cho chúng ta.” Người thanh niên chớp mắt không hiểu. Tôi quỳ xuống trước anh ta, trầm giọng khẩn nài. “Thế tại sao anh lại đấu với những phiến quân trên mái nhà? Với Lyme, người chiến thắng của các anh? Với những người hàng xóm của các anh, thậm chí còn là gia đình của các anh?”

“Tôi không biết,” người thanh niên nói. Nhưng anh ta vẫn không rời súng khỏi tôi.

Tôi đứng lên, chầm chậm quay một vòng, hướng đến những khẩu súng máy. “Các anh có trên đó không? Tôi đến từ một thị trấn mỏ. Từ khi nào mà các thợ mỏ lại đẩy các thợ mỏ khác đến cái chết kiểu này, rồi sẵn sàng giết chết bất kì ai cố bò ra khỏi đống đổ nát?”

“Ai là kẻ thù?” Haymitch thì thầm.

“Những người này”- tôi chỉ những cơ thể thương thích trên quảng trường – “không phải là kẻ thù của các anh!” Tôi quay phắt lại phía nhà ga. “Những phiến quân này không phải kẻ thù của các anh! Chúng ta đều có chung một kẻ thù, và đó là Capitol! Đây là cơ hội chấm dứt mọi quyền lực của chúng, nhưng ta cần mỗi người dân quận chung tay góp sức!”

Các máy quay chĩa đăm đăm vào tôi khi tôi chìa tay ra với người thanh niên, với những người bị thương, với những phiến quân còn ngần ngại trên khắp Panem. “Xin hãy tham gia cùng chúng tôi!”

Lời tôi nói lơ lửng trong không khí. Tôi hướng về phía màn hình, mong được thấy họ ghi lại làn sóng hòa giải lan tỏa khắp đám đông.

Thay vào đó tôi nhìn thấy chính mình bị bắn trên màn hình.

16.

Luôn luôn.

Trong cơn mơ màng do ngấm ma phiện, Peeta thì thầm từ đó và tôi liền tìm kiếm cậu. Đó là một thế giới tim tím, không có rìa rõ nét, và nhiều chỗ náu. Tôi xuyên qua những tầng mây, lần theo những dấu vết nhạt nhòa, ngửi thấy mùi quế, mùi thì là. Một lần cảm thấy tay cậu áp lên má mình, tôi bèn giữ chặt lấy, nhưng nó lại tan biến như sương mù qua kẽ ngón tay tôi.

Khi cuối cùng cũng bắt đầu tỉnh lại trong căn phòng vô trùng ở Quận 13 thì tôi nhớ ra. Ấy là lúc tôi ngấm xi rô ngủ. Chân tôi trước đó đã bị thương sau khi tôi nhảy khỏi cành cây qua hàng rào điện, ngã lăn lông lốc trở lại Quận 12. Peeta đã đặt tôi vào giường và tôi bảo cậu ở lại với tôi trong khi tôi chìm vào giấc ngủ. Cậu đã thì thầm điều gì đó mà tôi không rõ lắm. Nhưng một phần não bộ của tôi đã lưu giữ một từ trong lời cậu đáp và giờ đây để nó bồng bềnh khắp các giấc mơ mà trách cứ tôi. “

Luôn luôn.

”

Ma phiện xoa dịu mọi cảm xúc cực đoan, thế nên thay vì nhói đau, tôi chỉ cảm thấy trống rỗng. Một cái hồ trong bụi cây chết nơi hoa từng nở rộ. Rủi thay, chẳng còn đủ thuốc trong tĩnh mạch cho tôi tảng lờ cơn đau bên phần thân trái. Chỗ viên đạn găm vào. Tôi quờ tay khắp lớp băng dày quấn quanh xương sườn, tự hỏi mình còn làm gì ở đây.

Không phải anh ta, người thanh nhiên quỳ trước tôi trên quảng trường, người bị bỏng từ Hạt đến. Anh ta đã không bóp cò. Là ai đó đứng xa hơn trong đám đông. Tôi không cảm thấy đạn xuyên sâu mà có cảm giác rõ rệt hơn là mình vừa bị búa tạ nện. Mọi thứ sau khoảnh khắc bị bắn chỉ còn là nỗi mơ hồ nham nhở vết đạn. Tôi cố ngồi dậy, nhưng chỉ có thể bật ra tiếng rên rỉ.

Tấm rèm trắng ngăn giường tôi với giường bệnh nhân bên cạnh bị kéo phắt ra, và Johanna Mason chằm chằm nhìn tôi. Ban đầu tôi cảm thấy bị đe dọa, vì cô đã tấn công tôi trong trường đấu. Tôi phải nhắc mình rằng cô làm vậy là để cứu mạng tôi. Đó là một phần trong mưu đồ nổi dậy. Tuy nhiên thế không có nghĩa là cô không khinh ghét tôi. Có lẽ nào cách đối xử của cô với tôi chỉ là một màn kịch cho Capitol xem?

“Tôi còn sống,” tôi khàn khàn nói.

“Thì rõ, đồ ngốc”. Johanna tiến lại ngồi phịch xuống giường khiến cơn đau buốt lan khắp ngực tôi. Thấy tôi khó chịu cô liền ngoác miệng cười, vậy là tôi biết chúng tôi không phải đang trong cảnh đoàn tụ thân mật gì. “Vẫn hơi đau hả?” Với bàn tay thành thạo, cô nhanh nhẹn rút ống truyền ma phiện khỏi tay tôi cắm vào thiết bị gắn nơi khoeo tay cô. “Mấy ngày trước họ đã bắt đầu cắt giảm lượng thuốc của tôi. Sợ tôi biến thành mấy kẻ Quận 6 kỳ quái. Tôi đã phải mượn của cô lúc không ai để ý đấy. Chắc là cô cũng chẳng khó chịu.”

Khó chịu ư? Sao tôi có thể khó chịu khi cô suýt bị Snow tra tấn tới chết sau Huyết trường Tứ phân? Tôi không có quyền khó chịu, và cô biết điều đó.

Johanna thở dài khi ma phiện ngấm vào mạch máu của mình. “Có lẽ mấy kẻ ấy đã phát hiện ra gì đó ở Quận 6. Vùi mình vào thuốc phiện và vẽ hoa lên người. Không phải là một cuộc sống tồi tệ lắm nhỉ. Dù sao thì vẫn có vẻ hạnh phúc hơn đám còn lại của chúng ta.”

Trong những tuần tôi rời khỏi Quận 13, cô đã tăng cân lại chút ít. Đám tóc tơ đã lơ nhơ nhú lên trên cái đầu bị cạo trọc, giúp che đi mấy vết sẹo. Nhưng nếu còn phải rút trộm ma phiện của tôi thì hẳn cô vẫn đang vật vã nhiều.

“Họ cử ông bác sĩ tâm thần đến thăm khám mỗi ngày. Cho rằng làm thế sẽ giúp tôi hồi phục được. Cứ như thể một gã sống cả đời trong cái hang thỏ này sẽ chữa được cho tôi không bằng. Ngu dốt hết chỗ nói. Cứ mỗi lần đến thăm ông ta lại nhắc ít nhất hai mười lần rằng tôi an toàn tuyệt đối.” Tôi gượng cười. Nói thế thì thật ngốc quá, nhất là với một người chiến thắng. Như thể cái tình trạng đó đã từng tồn tại ở bất kì đâu, với bất kì ai. “Thế còn cô, Húng nhại? Cô cảm thấy an toàn tuyệt đối chứ?”

“Ồ vâng. Tới tận lúc tôi bị bắn,” tôi đáp.

“Thôi đi. Viên đạn đó còn chưa chạm vào cô. Cinna đã lo liệu trước rồi,” cô nói.

Tôi nghĩ đến những lớp giáp bảo vệ trong bộ trang phục Húng nhại. Nhưng cơn đau lại đến từ đâu đó. “Gãy xương sườn hả?”

“Còn chả đến mức ấy. Bị thâm tím hơi nặng thôi. Lực va chạm làm vỡ lá lách của cô. Họ không chữa được.” Cô phẩy tay vẻ thờ ơ. “Đừng lo, cô không cần cái đó đâu. Mà nếu cô cần thì họ cũng tìm cho cô một cái, không phải sao? Nhiệm vụ của mọi người là giữ cho cô sống mà.”

“Đó là lý do chị ghét tôi phải không?” tôi hỏi.

“Một phần,” cô thừa nhận. “Chắc chắn là có ghen tị rồi. Tôi còn nghĩ rằng cô là kẻ hơi khó ngửi. Với màn tình yêu lãng mạn rẻ tiền và vai diễn người-bảo-vệ-kẻ-yếu của cô. Chỉ có điều đó chẳng phải diễn kịch, điều này càng làm cô khó ưa nổi hơn. Cứ thoải mái mất lòng đi.”

“

Chị nên làm Húng nhại mới đúng. Sẽ không ai phải mớm lời cho chị,

”

tôi nói.

“Đúng. Nhưng chẳng ai ưa tôi cả,” cô bảo.

“Nhưng người ta tin chị. Để giúp tôi thoát ấy,” tôi nhắc cô. “Và họ sợ chị.”

“Ở đây thì có lẽ. Bây giờ ở Capitol, cô là kẻ duy nhất chúng sợ.” Gale xuất hiện nơi ngưỡng cửa, Johanna liền ngay ngắn rút ống truyền ma phiện cắm trả lại cho tôi. “Anh họ cô không sợ tôi,” cô kín đáo nói. Cô rời phắt khỏi giường tôi băng ra cửa, huých hông vào chân Gale lúc đi qua anh. “Anh đấy à, chàng đẹp trai?” Chúng tôi nghe thấy cô vừa cười vừa đi mất hút dọc hành lang.

Tôi nhướng mày nhìn anh khi anh cầm tay tôi. “Đáng sợ thật,” anh mấp máy. Tôi cười, nhưng lại thành ra nhăn nhó. “Thoải mái nào.” Anh vuốt ve mặt tôi lúc cơn đau cũng dịu bớt. “Em phải thôi lao đầu vào rắc rối đi.”

“Em biết. Nhưng ai đó đã làm nổ tung ngọn núi,” tôi đáp.

Thay vì lùi lại, anh lại ngả gần hơn, dò xét nét mặt tôi. “Em nghĩ anh là kẻ vô cảm.”

“Anh biết là em không thế mà. Nhưng em sẽ không nói là mọi chuyện ổn cả đâu,” tôi bảo.

Giờ thì anh lùi ra, cơ hồ mất kiên nhẫn. “Katniss à, thực sự thì có gì khác nhau ở đây nào, giữa việc nghiền nát kẻ thù trong mỏ than hay cho chúng nổ tan xác khỏi bầu trời bằng mũi tên của Beetee? Kết quả như nhau cả thôi.”

“Em không biết. Chúng ta đã bị tấn công ở Quận 8, trước hết là thế. Bệnh viện đã bị tấn công,“ tôi nói.

“Phải, và mấy cái tàu bay đó đến từ Quận 2 đấy,” anh nói. Vậy nên giết chúng là ta đã ngăn ngừa được những vụ tấn công khác.”

“Nhưng cách nghĩ kiểu đó… anh có thể biến nó thành lý lẽ ủng hộ việc giết bất cứ ai vào bất cứ lúc nào. Anh có thể biện minh rằng việc đưa lũ trẻ vào Đấu trường Sinh tử là để ngăn ngừa các quận nổi loạn,” tôi nói

“Anh không nói xuôi đâu,” anh khăng khăng.

“Em thì có,” tôi đáp. “Đó chính là hành trình dẫn tới trường đấu.”

“Được rồi. Chúng ta biết cách bất đồng mà,” anh nói. “Chúng ta luôn như vậy mà. Cũng tốt thôi. Giờ đây lù lù giữa anh và em là Quận 2.”

“Thật à?” Trong giây khắc cảm giác chiến thắng lóe lên trong tôi. Rồi tôi nghĩ về những người trên quảng trường. “Có giao chiến sau khi em bị bắn không?”

“Không nhiều lắm. Công nhân Hạt tấn công lính Capitol. Phiến quân chỉ đứng ngoài quan sát thôi,” anh nói. “Thực ra thì cả nước chỉ đứng ngoài quan sát.”

“Thì trò đó họ giỏi nhất còn gì,” tôi nói.

Cứ tưởng bị mất một cơ quan nội tạng quan trọng là ta sẽ được quyền nằm nghỉ vài tuần, nhưng vì lý do nào đó, các bác sĩ muốn tôi ngồi dậy đi lại gần như ngay lập tức. Kể cả có ma phiện thì mấy ngày đầu, cơn đau bên trong vẫn dữ dội, nhưng dần dần cũng nguôi đáng kể. Tuy nhiên chỗ xương sườn thâm tím hứa hẹn sẽ còn đau nhức dài dài. Tôi bắt đầu khó chịu với Johanna vì cứ bòn rút ma phiện của tôi, nhưng vẫn để cô lấy bất cứ khi nào cô thích.

Tin đồn về cái chết của tôi lan nhanh như cỏ dại, nên họ cử một đội đến quay phim tôi trên giường bệnh. Tôi trưng ra những vết khâu và bầm tím ấn tượng, chúc mừng các quận nhân thành công của cuộc chiến vì tình đoàn kết. Rồi tôi cảnh báo Capitol sẽ sớm thấy chúng tôi làm gì tiếp theo.

Đi bộ ngắn trên mặt đất mỗi ngày là một phần trong quá trình hồi phục của tôi. Một chiều, Plutarch đến đi cùng tôi và cập nhật tình hình hiện tại. Giờ Quận 2 đã liên minh với chúng tôi, phiến quân đang tạm dừng chiến tranh để tập hợp lại. Cũng cố các đường dây cung ứng, chăm sóc người bị thương, tái tổ chức các đội quân. Capitol, giống như Quận 13 trong Kỳ Đen tối, thấy mình bị cắt đứt hoàn toàn với bên ngoài vì nó nắm giữa nguy cơ tấn công kẻ thù bằng hạt nhân. Khác với Quận 13, Capitol không ở thế có thể thay đổi chính mình mà tự cung tự cấp.

“Ồ, thành phố đấy có thể cầm cự một thời gian,” Plutarch nói. “Chắc chắn là họ có nguồn dự trữ khẩn cấp. Nhưng điểm khác biệt quan trọng giữa quận 13 và Capitol là kỳ vọng của người dân. Quận 13 vốn quen với khổ sở rồi, trong khi ở Capitol, người ta chỉ biết có mỗi

Panem et Circenses

”

“Là gì ạ?” Tôi nhận ra từ

Panem

, tất

nhiên rồi, nhưng phần còn lại thì chả hiểu gì.

“Đây là một câu châm ngôn từ hàng ngàn năm trước, được viết bằng tiếng Latin về một nơi trên là Rome.” Ông giải thích. “

Panem et Circenses

tức là ‘Bánh mì và Rạp xiếc’. Tác giả câu châm ngôn muốn nói rằng để được no bụng và giải trí cho đã thì người dân nơi ấy phải đổi lại bằng việc từ bỏ trách nhiệm chính trị, và vì thế là cả quyền lực của mình. ”

Tôi nghĩ về Capitol. Thức ăn thừa mữa. Trò giải trí tột bật. Đấu trường Sinh tử. “Ra đó là vai trò của các quận. Cung cấp bánh mì và rạp xiếc.”

“Phải. Và chừng nào điều đó còn tiếp diễn thì Capitol còn kiểm soát đế chế nhỏ của nó. Giờ cái đế chế ấy chẳng cung cấp gì cả, ít nhất là theo tiêu chuẩn người dân vốn quen,” Capitol nói. “Chúng ta thì có thực phẩm và tôi định thu xếp làm một ĐTT giải trí mà chắc chắn sẽ được yêu thích. Xét cho cùng, ai cũng thích đám cưới.”

Tôi chết đứng giữa đường, nôn nao nghĩ đến việc ông đang đề xuất. Bằng cách nào đó tổ chức một đám cưới tréo ngoe cho Peeta và tôi. Từ khi quay về tôi vẫn không thể đối mặt với tấm kính một chiều và, theo yêu cầu của riêng tôi, chỉ nhận tin tức cập nhật về tình hình Peeta từ Haymitch. Ông nói rất ít về chuyện đó. Những phương pháp khác nhau đang được áp dụng. Sẽ chẳng bao giờ thực sự có cách chữa trị cho cậu. Và giờ họ còn muốn tôi cưới Peeta để làm ĐTT ư?

Plutarch vội vàng trấn an tôi. “Ồ không, Katniss. Không phải đám cưới của cô đâu. Là của Finnick với Annie. Cô chỉ cần có mặt, giả vờ vui mừng cho họ là được.”

“Đó là một trong số ít việc tôi sẽ không phải giả vờ, ông Plutarch ạ,” tôi bảo ông.

Những ngày tiếp theo mang đến bao hoạt động náo nhiệt khi sự kiện được lên kế hoạch. Nét khác biệt giữa Capitol và Quận 13 được sự kiện này khắc họa rõ mồn một. Với Coin, “đám cưới” tức là hai người ký vào một tờ giấy và được cấp phòng mới. Với Plutarch thì hàng trăm người quần là áo lượt tham gia tiệc mừng kéo dài ba ngày. Thật buồn cười khi thấy họ tranh cãi các chi tiết với nhau. Plutarch phải đấu tranh cho từng vị khách, từng nốt nhạc. Sau khi Coin gạt hết tiệc tối, các trò giải trí, và rượu thì Plutarch hét lên, “Thế là ĐTT còn có lợi ích gì nếu không ai thấy vui tí nào!”

Thật khó bắt một Nhà Tổ chức Đấu trường phải tiết kiệm. Nhưng ngay cả một buổi tiệc mừng trầm lặng cũng vẫn khuấy động của Quận 13, cái nơi dường như chẳng có lễ lạt gì. Khi nghe thông báo cần trẻ con hát đám cưới của Quận 4 thì hầu hết mọi đứa trẻ đều góp mặt, cũng không thiếu tình nguyên viên đỡ đần công việc trang trí. Trong phòng ăn, mọi người bàn tán rôm rả về sự kiện.

Có lẽ đó không chỉ là ngày lễ. Có lẽ chúng tôi đã quá khao khát được thấy những điều tốt đẹp xảy ra đến mức muốn là một phần trong đó. Thế nên khi Plutarch cáu nhặng lên về việc cô dâu sẽ mặc gì, tôi tình nguyện đưa Annie về nhà tôi ở Quận 12, nơi Cinna đã để lại đủ loại dạ phục trong tủ quần áo lớn dưới tầng. Tất cả những bộ váy cưới của Cinna thiết kế cho tôi đã được gửi trả lại Capitol, nhưng vẫn còn vài bộ đầm tôi mặc trong chuyến Diễu hành Chiến thắng. Tôi có phần cảnh giác với việc ở bên Annie vì toàn bộ những gì tôi biết về cô ấy chỉ là Finnick yêu cô còn mọi người thì nghĩ cô bị điên. Trên chuyến tàu bay, tôi rút ra kết luận cô bất ổn chứ không hẳn là điên. Đang nói chuyện thì cô phá lên cười ở những chỗ chẳng có gì đáng cười hoặc sao nhãng bỏ lửng. Cặp mắt xanh ấy dõi đăm đăm vào một điểm với sự chăm chú cao độ đến nỗi khiến ta phải cố luận ra cô đang nhìn gì ở bầu không khí trống rỗng. Thẳng hoặc, không hiểu sao cô lại ấn chặt cả hai tay lên tai như để chặn thứ âm thanh đau đớn nào đó. Ừ thì cô kỳ quặc, nhưng Finnick yêu cô, với tôi thế là đủ ổn thỏa rồi.

Tôi được phép đưa đội chuẩn bị đi cùng, nhờ thế mà tôi thoát khỏi việc phải đưa ra bất cứ quyết định thời trang nào. Khi tôi mở tủ quần áo, tất cả chúng tôi chùng xuống yên lặng bởi sự hiện diện của Cinna quá mạnh mẽ trong những lần vải sóng sánh. Rồi Octavia quỳ xuống, chà viền một chiếc váy lên má mình, và bật khóc. “Lâu lắm rồi,” chị thổn thức, “tôi mới được thấy một thứ xinh đẹp.”

Dù Coin nghi ngại rằng thế là quá xa xỉ còn Plutarch e rằng thế là quá nhàm chán, đám cưới vẫn thành công vang dội. Ba trăm vị khách may mắn được chọn mời từ Quận 13 và nhiều người tị nạn mặc quần áo thuờng ngày, đồ trang trí là lá thu vàng, phần nhạc do đội hợp xướng trẻ em đảm nhận, được đệm bởi người độc tấu vĩ cầm đã thoát khỏi Quận 12 cùng nhạc cụ của mình. Theo chuẩn Capitol thì đây là một đám cưới đơn sơ, tằn tiện. Nhưng điều đó chẳng quan trọng bởi không gì có thể so sánh với vẻ đẹp của cô dâu chú rể. Không phải ở đám trang phục lộng lẫy đi mượn – Annie diện bộ váy xanh lục tôi từng mặc ở Quận 5 còn Finnick vận bộ com lê của Peeta đã được sửa sang cho vừa vặn – dù đúng là chúng rực rỡ thật. Ai có thể bỏ qua khuôn mặt ngời ngời của hai người mà đối với họ ngày này từng có thời hầu như bất khả? Dalton, chuyên gia gia súc đến từ Quận 10 chủ trì buổi lễ, vì hình thức tổ chức cũng tương tự quận anh. Nhưng vẫn có những nét độc đáo của Quận 4. Một tấm lưới dệt từ cỏ dài phủ lên cặp đôi trong khoảng khắc trao lời thề ước, nghi lễ chấm nước muối vào môi nhau, và bài hát đám cưới xa xưa, ví hôn lễ như một hải trình vậy.

Không, tôi không cần phải giả vờ vui mừng cho họ.

Sau nụ hôn tuyên bố hai người trở thành vợ chồng, sau bao lời chúc tụng và màn nâng ly rượu táo mừng cô dâu chú rể, nhạc công vĩ cầm dạo một điệu nhạc thu hút mọi người dân Quận 12. Chúng tôi có thể là quận nhỏ nhất, nghèo nhất Panem, nhưng chúng tôi biết nhảy. Không có gì được chính thức lên kế hoạch vào thời điểm này, nhưng Plutarch, hiện đang hô hào làm ĐTT từ phòng điều khiển, hẳn phải làm dấu may mắn. Đúng thế thật, Greasy Sae đã tóm tay Gale kéo ra giữa phòng, đối mặt với anh. Mọi người ùa vào nhập hội, tạo thành hai hàng dài. Và điệu vũ bắt đầu.

Tôi đang đứng một bên, vỗ tay theo giai điệu thì bị một bàn tay xương xấu véo ngay trên khuỷa tay. Johanna quắc mắt nhìn tôi. “Cô định bỏ lỡ dịp cho Snow xem cô nhảy đấy à?” Cô nói đúng. Còn có gì báo hiệu chiến thắng dõng dạc hơn một con chim Húng nhại hạnh phúc xoay tròn theo điệu nhạc? Tôi tìm thấy Prim trong đám đông. Vì những tối mùa đông cho chị em tôi khối thời gian tập luyện nên chúng tôi đích thực là cặp nhảy khá ăn ý. Tôi bảo em không phải lo cho đám xương sườn của tôi đâu, rồi chúng tôi vào hàng. Đau thật đấy, nhưng niềm thỏa mãn được cho Snow thấy tôi khiêu vũ với cô em gái nhỏ đã xóa nhòa mọi cảm xúc khác.

Khiêu vũ làm chúng tôi thay đổi. Chúng tôi dạy những bước nhảy cho khách mời Quận 13. Nhất quyết làm một tiết mục đặc biệt cho cô dâu chú rể. Nắm tay tạo thành vòng tròn khổng lồ nơi mọi người khoe tài khiêu vũ. Lâu lắm rồi không có trò gì ngớ ngẩn, vui vẻ hay thú vị xảy ra. Chuyện này có thể tiếp diễn cả đêm nếu không có sự kiện cuối được lên kế hoạch trong ĐTT của Plutarch. Cái mà tôi chưa từng nghe nhắc đến, hóa ra được dành làm sự ngạc nhiên.

Bốn người đẩy vào một chiếc bánh cưới đồ sộ từ căn phòng bên cánh. Phần lớn các vị khách đều lùi lại, nhường lối cho món của hiếm này, tác phẩm hoa lệ với những làn sóng kem phủ màu xanh đại dương ngọn trắng, bồng bềnh cùng cá và thuyền buồm, hải cẩu và hoa biển. Nhưng tôi lại xô qua đám đông để xác nhận điều mình đã nhận ra từ cái nhìn đầu tiên.

Cũng chắc chắn như những đường chỉ thêu trên váy Annie là do tự tay Cinna làm, những bông hoa kem trang trí trên bánh là do chính tay Peeta làm. Có thể đây chỉ là một chi tiết nhỏ, nhưng lại nói lên bao điều. Haymitch đã giấu tôi nhiều thứ. Chàng trai tôi gặp lần trước, gào thét diên dại, vùng dậy cố thoát khỏi dây trói, không bao giờ có thể làm ra thứ này. Không bao giờ có thể tập trung, giữ vững đôi tay mà thiết kế ra một thứ quá hoàn mỹ cho Finnick và Annie. Như dè trước phản ứng của tôi, Haymitch đến đứng bên tôi. “Ta nói chuyện đi,” ông nói.

Ra ngoài sảnh, xa khỏi ống kính máy quay, tôi hỏi, “Chuyện gì xảy ra với cậu ấy vậy?”

Haymitch lắc đầu. “Ta không biết. Không ai biết hết. Có những lúc nó gần như tỉnh táo, rồi không hiểu tại sao lại lên cơn. Làm bánh là một dạng liệu pháp chữa trị. Nó miệt mài làm mấy ngày liền. Nhìn nó… nó có vẻ gần như bình thường như trước rồi.”

“Tức là cậu ấy được tự do rồi ạ?” tôi hỏi. Ý tưởng này khiến tôi lo lắng với năm cấp độ khác nhau.

“Ồ không. Thằng bé phủ kem dưới sự canh phòng cẩn mật. Nó vẫn bị nhốt giữ. Nhưng ta nói chuyện với nó rồi,” Haymitch nói

“Mặt đối mặt ạ?” tôi hỏi. “Mà cậu ấy không nổi điên?”

“Không. Khá giận ta, nhưng đều vì lý do chính đáng cả. Không nói cho nó biết về mưu đồ nổi dậy và những thứ tương tự.” Haymitch ngừng giây lát, như thể quyết định gì đó. “Nó bảo muốn gặp cháu.”

Tôi đang ở trên một con thuyền kem, bị sóng xanh vỗ tròng trành, sàn thuyền chao đảo dưới chân tôi. Tôi phải chống lòng bàn tay vào tường để giữ thăng bằng. Đây không phải một phần trong kế hoạch. Lúc ở Quận 2 tôi đã quyết định từ bỏ Peeta. Định bụng tới Capitol giết Snow rồi tự kết liễu chính mình. Phát súng đó chỉ là bước lùi tạm thời. Chưa bao giờ tôi nghĩ sẽ nghe được câu

Nó bảo muốn gặp cháu

. Nhưng giờ đã nghe thấy, tôi chẳng có cách nào từ chối.

Nửa đêm, tôi đứng bên ngoài cửa căn phòng giam cậu, Phòng bệnh. Chúng tôi đã phải đợi Plutarch thu xong cảnh đám cưới mà dù thiếu cái ông gọi là linh đình, ông vẫn khá hài lòng. “Điều tốt đẹp nhất ở việc Capitol cơ bản không ngó ngàng gì đến Quận 12 là các vị vẫn giữ được chút tự nhiên. Khán giả say mê điều đó. Giống như khi Peeta tuyên bố rằng cậu ấy yêu cô hoặc khi cô làm trò với mấy trái dâu. Nhờ vậy mà chương trình thu hút.”

Tôi ước gì được gặp riêng Peeta. Nhưng đám khán giả bác sĩ đã tập trung đằng sau tấm kính một chiều, tay bảng, tay bút sẵn sàng. Khi Haymitch nói vào tai nghe là được thì tôi chầm chậm mở cửa.

Cặp mắt xanh ấy lập tức chăm chú nhìn tôi. Mỗi tay cậu bị ba sợi dây trói kìm hãm, còn có một cái ống có thể truyền thuốc mê trong trường hợp cậu mất kiểm soát. Dù vậy cậu không cố vùng thoát, chỉ quan sát tôi với ánh nhìn cảnh giác của một người vẫn chưa thôi nghĩ rằng mình đang đối mặt với một con mút. Tôi bước lại cho đến khi đứng cách giường chừng một mét. Chân tay thừa thãi nên tôi khoanh tay che chở xương sườn rồi nói, “Chào.”

“Chào,” cậu đáp. Nghe giống giọng cậu, gần như giọng cậu, có điều khoác thêm sắc thái mới. Vẻ nghi ngờ và ai oán sâu sắc.

“Haymitch bảo cậu muốn nói chuyện với tớ,” tôi nói

“Trước tiên phải nhìn cậu đã.” Cứ như cậu đợi tôi biến thành một con sói lai dãi rớt ròng ròng trước mặt cậu. Cậu chằm chằm nhìn tôi lâu đến nỗi tôi thấy mình lén đưa mắt về phía tấm kính một chiều, hy vọng được Haymitch chỉ dẫn, nhưng tai nghe của tôi vẫn yên lặng,”Cậu không to lắm nhỉ? Cũng chẳng đặc biệt xinh đẹp nhỉ?”

Tôi biết cậu mới trở về từ địa ngục, nhưng lời bình phẩm của cậu vẫn làm tôi cáu điên. “Ờ, cậu thì trông khá hơn đấy.”

Lời Haymitch khuyên tôi hãy nhịn đi bị tiếng cười của Peete át mất. “Và còn chẳng hòa nhã tí nào nữa. Ai đời lại nói thế với tớ sau tất cả những gì tớ đã trải qua.”

“Phải. Chúng ta đã trải qua nhiều chuyện. Và cậu mới là người được tiếng hòa nhã. Không phải tớ,” Tôi đang làm rối tung lên rồi. Sao tôi phải xù lông nhím quá mức như thế? Cậu đã bị tra tấn! Cậu đã bị bắt hồn! Tôi làm sao vậy chứ? Bỗng nhiên, tôi nghĩ không chừng mình sẽ hét vào mặt cậu – tôi thậm chí còn không chắc là vì cái gì – nên quyết định rời khỏi đó. “Nghe này, tớ không khỏe lắm. Có khi mai tớ ghé qua sau.”

Tôi vừa ra tới cửa thì giọng nói của cậu làm tôi đứng khựng lại. “Katniss. Tớ nhớ chuyện cái bánh mì đấy.”

Bánh mì. Một khoảng khắc kết nối thực sự giữa chúng tôi trước Đấu trường Sinh tử.

“Thì ra họ cho cậu xem cuốn băng tớ nói về chuyện đó rồi.” tôi bảo.

“Không. Có cuốn băng cậu nói về chuyện đó à? Sao Capitol không dùng nó để chống lại tớ?” cậu hỏi.

“Tớ làm nó vào cái ngày cậu được cứu,” tôi đáp. Cơn đau ngực bao phủ khắp xương sườn tôi như gọng kìm. Việc nhảy nhót đúng là sai lầm. “Thế cậu nhớ gì?”

“Cậu. Trong mưa,” cậu nhẹ nhàng nói. “Bới thùng rác nhà tớ. Làm cháy bánh mì. Mẹ tớ đánh tớ. Mang bánh ra cho lợn nhưng rồi lại cho cậu.”

“Phải. Chuyện là thế đấy,” tôi nói. “Hôm sau, sau khi tan học, tớ đã muốn cảm ơn cậu. Nhưng tớ không biết phải nói thế nào.”

“Bọn mình ở ngoài trời lúc cuối ngày. Tớ cố tìm mắt cậu. Cậu quay đi. Và rồi… không hiểu sao, tớ nghĩ cậu đã hái một bông bồ công anh.” Tôi gật đầu. Cậu có nhớ. Tôi chưa bao giờ nói to thành tiếng về khoảng khắc đó cả, “Hẳn là tớ yêu cậu nhiều lắm.”

“Đúng thế.” Tôi buột miệng rồi liền giả vờ ho.

“Thế hồi đó cậu có yêu tớ không? ” cậu hỏi.

Tôi dán mắt xuống sàn gạch. “Ai cũng nói là tớ có. Ai cũng nói thế nên Snow mới cho tra tấn cậu. Để đánh gục tớ.”

“Đấy không phải là câu trả lời,” cậu bảo tôi. “Tớ không biết phải nghĩ gì khi họ cho tớ xem mấy cuốn băng. Lần đầu ở trường đấu ấy, có vẻ cậu đã tìm cách giết tớ bằng lũ bắt-là-cắt.”

“Tớ đã tìm cách giết tất cả các cậu,” tôi nói. “Các cậu bắt tớ trốn trên cây còn gì.”

“Sau đó có rất nhiều cảnh hôn. Cậu có vẻ không thành thật lắm. Những lúc ấy cậu có thích hôn tớ không?” cậu hỏi.

“Đôi khi,” tôi thú nhận. “Cậu có biết mọi nguời đang xem chúng ta không?”

“Tớ biết. Còn Gale thì sao?” cậu tiếp tục.

Cơn giận lại trào lên trong tôi. Tôi không quan tâm đến chuyện hồi phục của cậu – đấy không phải việc của những người đằng sau tấm kính. “Anh ấy cũng không phải người hôn tệ lắm,” tôi nói cụt lủn.

“Cậu làm thế với cả hai bọn tớ mà thấy không sao hết à? Hôn người khác ấy?” cậu hỏi.

“Có. Có sao với cả hai người đấy. Nhưng tớ cũng chẳng định xin phép cậu,” tôi nói.

Peeta lại cười, lạnh lùng, thờ ơ. “Chà, cậu đúng là cá tính đấy nhỉ?”

Haymitch không phản đối khi tôi bước ra ngoài. Dọc theo hành lang. Qua khu phòng tổ ong. Tìm chỗ náu sau một cái ống ấm áp trong phòng giặt. Mãi tôi mới hiểu tại sao mình lại buồn đến vậy. Khi ngộ ra, tôi gần như quá bẽ bàng không thừa nhận nổi. Bao nhiêu tháng trời đương nhiên coi mình là tuyệt vời trong mắt Peeta đã chấm dứt. Cuối cùng, cậu đã có thể thấy con người thực của tôi. Hung dữ. Hoài nghi. Áp đặt. Thù hận

Và tôi ghét cậu vì điều đó.

17.

Bàng hoàng. Đó là cảm giác của tôi khi Haymitch nói cho tôi biết trong bệnh viện. Tôi lao như bay xuống các bậc thang tới Bộ Tư lệnh, đầu óc vận hành với tốc độ ngót hai cây số một phút, rồi đâm bổ vào phòng họp chiến tranh.

“Ý mọi người là sao, tôi sẽ không đến Capitol ư? Tôi phải đi? Tôi là Húng nhại cơ mà!” tôi nói.

Coin gần như chẳng buồn ngước lên khỏi màn hình cá nhân. “Và với vai trò Húng nhại, mục đích chính của cô là đoàn kết các quận chống lại Capitol đã thành công. Đừng lo – nếu mọi chuyện ổn thỏa, chúng tôi sẽ chở cô đến khi chúng đầu hàng.”

Đầu hàng ư?

“Như thế thì muộn quá! Tôi sẽ lỡ cả cuộc chiến mất. Mọi người cần tôi - tôi là con át chủ bài mà!” tôi hét lên. Tôi không hay huyênh hoang về điều này, nhưng ít nhất đó cũng gần sát với sự thật còn gì. “Gale sẽ đi đấy thôi.”

“Hằng ngày nếu không bận những nhiệm vụ được chuẩn y khác thì Gale đều đến tập luyện đầy đủ. Chúng tôi tin tưởng rằng cậu ấy có thể xoay xở ở chiến trường,” Coin nói. “Cô thử ước lượng xem mình tham gia được bao nhiêu buổi tập luyện rồi?”

Không. Con số ấy đấy. “Thỉnh thoảng tôi đi săn. Và… tôi có tập luyện với Beetee dưới kho Vũ khí Đặc biệt.”

“Việc đó không giống nhau, Katniss ạ.” Boggs nói. “Tất cả chúng tôi điều biết cháu thông minh dũng cảm và là quân bài chiến lược. Nhưng chúng ta cần những chiến binh trên mặt trận. Cháu không hề biết thế nào là tuân thủ luật lệ, và hiện cháu không thực sự ở vào giai đoạn sung sức nhất.”

“Hồi cháu ở Quận 8 có thấy ai phàn nàn gì đâu. Hay ở Quận 2 cũng vậy,” tôi bật lại.

“Trong cả hai trường hợp thì ban đầu cô đều không được phép chiến đấu.” Plutarch vừa nói vừa lia mắt nhìn tôi ra hiệu sắp tiết lộ quá nhiều.

Phải, trận chiến trong vụ đánh bom ở Quận 8 lẫn việc tôi can thiệp của Quận 2 đều do bột phát, nhất thời, và chắc chắn là không được phép.

“Cả hai vụ đều khiến cháu bị thương,” Boggs nhắc tôi. Đột nhiên tôi thấy chính mình qua mắt ông. Một con bé mười bảy tuổi nhỏ bé thở không ra hơi vì xương sườn còn chưa lành hẳn. Lôi thôi lếch thếch. Vô kỷ luật. Đang dần hồi phục. Không phải một chiến binh là mà một kẻ cần được chăm sóc.

“Nhưng cháu phải đi,” tôi nói.

“Tại sao?” Coin vặn.

Tôi không thể nói rõ ra rằng tôi đi để trả mối thù riêng với Snow. Rằng nghĩ đến việc phải ở lại Quận 13 này với phiên bản mới nhất của Peeta trong khi Gale ra trận là tôi chịu không nổi. Nhưng tôi cũng chẳng thiếu lý do muốn chiến đấu ở Capitol. “Vì Quận 12. Vì chúng đã tàn phá quê tôi.”

Thống đốc nghĩ một lác. Suy xét tôi. “Vậy thì cô có ba tuần. Không dài lắm, nhưng cô có thể bắt đầu luyện tập. Nếu Ban Bổ nhiệm thấy cô đủ khả năng thì có lẽ trường hợp của cô sẽ được xem xét lại.”

Vậy đấy. Tôi chỉ có thể hy vọng đến thế là cùng. Có lẽ đó là lỗi của tôi. Tôi đã bỏ qua thời gian biểu mỗi ngày nếu không có gì phù hợp với mình. Có lẽ việc đó chẳng mấy giống với một việc cần ưu tiên, cầm súng chạy quanh bãi tập cùng bao hoạt động khác. Và giờ đây tôi phải trả giá cho sự bỏ bê của mình.

Trở lại bệnh viện, tôi thấy Johanna cũng đồng cảnh ngộ và tức bốc khói. Tôi kể lại cho cô nghe những gì Coin nói. “Có khi chị cũng luyện tập được đấy.”

“Tốt. Tôi sẽ luyện tập. Nhưng nếu có phải giết chết cả một đoàn người và tự bay tới đó thì tôi cũng sẽ đến cái đất Capitol thối tha ấy,” Johanna nói.

“Có lẽ tốt nhất là đừng khơi ra chuyện đó trong lúc luyện tập,” tôi nói. “Nhưng thật vui khi khi biết mình sẽ đi.”

Johanna ngoác miệng cười, và tôi cảm thấy một nét thay đổi nhỏ nhưng quan trọng trong mối quan hệ giữa chúng tôi. Tôi không biết như vậy chúng tôi đã thực sự là bạn hay chưa, nhưng có lẽ từ

đồng minh

thì chính xác. Tốt thôi. Tôi sẽ cần có đồng minh.

Sáng hôm sau, khi chúng tôi đến luyện tập vào lúc 7:30, thực tế làm tôi ngã ngửa. Bọn tôi bị nhốt vào một lớp khá sơ đẳng, gồm những đứa trẻ mới mười bốn mười lăm tuổi, việc này kể cũng hơi mất mặt cho tới khi rõ rành rành là thể lực của chúng tốt hơn hai đứa tôi nhiều. Gale cùng những người đã được chọn tới Capitol thì ở lớp khác, giai đoạn luyện tập siêu tốc. Sau khi chúng tôi tập căng cơ – đau lắm - thì có hai tiếng tập các bài tăng lực – đau lắm – và chạy tám cây số - mệt chết luôn. Dù Johanna có khích để tôi tiến lên thì tôi vẫn phải bỏ cuộc sau chừng hai cây.

“Tại xương sườn của cháu đấy,” tôi phân bua với huấn luyện viên, một phụ nữ trung niên quyết đoán mà chúng tôi phải gọi là Chiến binh York, “Nó vẫn tím bầm.”

“Ừm, tôi nói cho cô biết. Chiến binh Everdeen, phải mất ít nhất một tháng nữa mấy cái xương sườn này mới tự lành được,” bà nói.

Tôi lắc đầu. “Cháu không có một tháng đâu.”

Bà nhìn tôi khắp lượt. “Bác sĩ không điều trị gì cho cô à?”

“Có cách điều trị sao?” tôi hỏi. “Họ nói nó phải tự lành thôi.”

“Đây là họ nói thế. Nhưng họ có thể đẩy nhanh quá trình nếu tôi đề nghị. Dù vậy tôi vẫn cảnh báo cô là nó không phải trò đùa đâu nhé,” bà bảo tôi.

“Xin bác. Cháu phải tới Capitol,” tôi nói.

Chiến binh York không hỏi gì chuyện đó. Bà nguệch ngoạc vài chữ lên một tập giấy bảo tôi quay lại thẳng bệnh viện. Tôi ngập ngừng. Tôi không muốn bỏ lỡ thêm bất kỳ bài luyện tập nào nữa. “Cháu sẽ quay lại tập ca chiều,” tôi hứa. Bà chỉ bĩu môi.

Lát sau que dò dài sáu mươi phân xuyên qua lồng ngực tôi, và tôi phải nằm thẳng cẳng trên giường bệnh, nghiến chặt răng để khỏi cầu xin họ truyền lại ma phiện cho mình. Nó ở bên giường để tôi có thể dùng khi cần. Gần đây tôi không động đến nó, nhưng vẫn giữ lại cho Johanna. Hôm nay họ đã kiểm tra máu của tôi để đảm bảo không còn chút thuốc giảm đau nào, vì hỗn hợp hai loại thuốc – ma phiện và thứ thuốc gì đó làm xương sườn của tôi nóng ran – có tác dụng phụ rất nguy hiểm. Họ nói rõ ràng tôi sẽ phải vật vã vài ngày. Nhưng tôi bảo họ cứ làm đi.

Đêm ấy trong phòng chúng tôi quả là tồi tệ. Không tài nào ngủ nổi. Tôi có cảm giác như thực sự ngửi thấy mùi lớp thịt quanh ngực mình đang bốc cháy, còn Johanna thì quằn quại chống lại các triệu chứng cai thuốc. Trước đó, khi tôi xin lỗi vì đã cắt lượng ma phiến của cô thì cô gạt đi, bảo đằng nào chuyện ấy cũng xảy ra thôi. Nhưng đến ba giờ sáng, tôi trở thành tấm bia hứng mọi lời tục tĩu đủ sắc thái mà Quận 7 có. Bình minh lên, cô lôi tôi ra khỏi giường, kiên quyết đi luyện tập.

“Chắc tôi không làm được đâu,” tôi thú nhận.

“Cô làm được. Cả hai ta đều làm được. Chúng ta là những người chiến thắng, nhớ không? Chúng ta là những kẻ có thể sống sót qua bất cứ chuyện gì họ đổ lên đầu ta,” cô gầm gừ với tôi. Trông cô nhợt nhạt ốm yếu, run rẩy như chiếc lá. Tôi bèn đi thay đồ.

Chúng tôi phải làm người chiến thắng để vượt qua được sáng nay. Tôi tưởng mình sắp mất dấu Johanna đến nơi thì chúng tôi nhận ra ngoài trời đang mưa sầm sập. Mặt cô biến sắc xám ngoét, cơ hồ ngừng thở.

“Chỉ là nước thôi mà. Không làm hại ta được đâu,” tôi nói. Cô nghiến chặt hàm, băm bổ lao xuống bùn. Chúng tôi sũng nước mưa trong khi khởi động rồi ì ạch tập chạy. Tôi lại bỏ cuộc sau khoảng hai cây số, và phải cưỡng lại ham muốn cởi áo ra cho nước lạnh tưới ràn rạt lên xương sườn. Tôi cố nuốt bữa trưa ở bãi tập gồm cá bầy nhầy và củ cải đường hầm. Johanna ăn được chừng nửa bát thì nôn tóe loe ra. Buổi chiều, chúng tôi học lắp súng. Tôi xoay sở được, nhưng Johanna thì không thể giữ tay đủ vững để lắp ráp các bộ phận. Khi York quay lưng đi, tôi liền giải vây cho cô. Dù mưa không ngừng trút xuống, buổi chiều vẫn là một sự tiến bộ vì chúng tôi được ra trường bắn. Cuối cùng cũng có thứ mà tôi giỏi. Cũng phải điều chỉnh một chút khí chuyển từ cung sang súng, nhưng đến cuối ngày, tôi đạt điểm cao nhất lớp.

Cửa phòng bệnh vừa khép lại thì Johanna tuyên bố, “Chuyện này phải chấm dứt thôi. Chuyện chúng ta sống trong viện ấy. Ai cũng coi chúng ta là bệnh nhân.”

Với tôi thì đây không phải vấn đề. Tôi có thể về phòng riêng của gia đình mình, nhưng Johanna thì chưa bao giờ được cấp một cái. Khi cô cố xin được xuất viện, họ sẽ không đồng ý để cô sống một mình, dù mỗi ngày cô đều đến nghe bác sĩ tâm thần thuyết giảng. Tôi nghĩ có lẽ họ đã đoán ra chuyện ma phiện và điều đó chỉ cũng cố thêm cái quan điểm cho rằng cô thiếu ổn định. “Chị ấy sẽ không ở một mình đâu. Tôi sẽ ở cùng chị ấy,” tôi thông báo. Có vài bất đồng, nhưng Haymitch ủng hộ, và đến giờ đi ngủ, chúng tôi cũng có phòng riêng đối diện phòng mẹ tôi và Prim, họ đồng ý sẽ trông chừng hai đứa.

Sau khi tôi tắm xong còn Johanna tạm bợ lau người bằng khăn ẩm, cô xem qua chỗ tôi ở. Khi mở chiếc ngăn kéo đựng ít đồ của tôi, cô vội đóng lại, “Xin lỗi.”

Tôi nghĩ ngăn kéo của Johanna chẳng có gì ngoài mấy bộ quần áo đượcc chính phủ phát cho. Rằng cô không có một thứ gì trên đời gọi là của riêng. “Không sao đâu. Nếu chị muốn thì cứ xem đồ của tôi đi.”

Johanna mở chiếc mề đay của tôi, chăm chú nhìn tấm ảnh chụp Gale, Prim và mẹ tôi. Cô mở vòm dù bạc, lấy cái vòi máng ra lăn trên ngón tay út. “Chỉ nhìn nó thôi là tôi đã thấy khát.” Rồi cô thấy hạt trai Peeta tặng tôi, “Cái này… ”

“Phải,” tôi nói. “Không hiểu sao vẫn nguyên lành.” Tôi không muốn nói về Peeta. Một trong những điều tốt nhất của việc luyện tập là ngăn tôi khỏi nghĩ về cậu.

“Haymitch bảo cậu ấy đang đỡ dần,” cô nói.

“Có lẽ. Nhưng cậu ấy thay đổi rồi,” tôi nói.

“Cô cũng vậy. Tôi cũng thế. Cả Finnick, Haymitch và Beetee nữa. Đừng bắt tôi nói về Annie Cresta. Trường đấu đã hủy hoại tất cả chúng ta khá nhiều, cô không nghĩ vậy sao? Hay cô vẫn cảm thấy mình chẳng thay đổi gì so với cô gái tình nguyện thế chỗ em gái mình?” cô hỏi tôi.

“Không,” tôi đáp.

“Đó là một điểm mà tôi nghĩ bác sĩ tâm thần của tôi nói đúng. Rằng không có gì như cũ cả. Nên chúng ta phải quen thôi.” Cô gọn gàng cất lại mấy món đồ lưu niệm của tôi vào ngăn kéo rồi trèo lên chiếc giường đối diện giường tôi khi đèn tắt. “Cô không sợ đêm nay tôi giết cô à?”

“Làm như tôi không khử được chị ấy,” tôi đáp. Rồi chúng tôi cười, vì cả hai cơ thể đều rệu rã thế này, nếu hôm sau mà chúng tôi dậy nổi thì đúng là kỳ tích. Nhưng chúng tôi làm được. Mỗi sáng chúng tôi đều làm được. Và đến cuối tuần, xương sườn của tôi gần như lành hẳn, còn Johanna thì có thể tự mình lắp súng.

Chiến binh York gật đầu tán thành khi hai đứa tôi tập xong. “Tốt lắm, các Chiến binh.”

Khi chúng tôi ra khỏi tầm nghe, Johanna lẩm bẩm, “Tôi thấy chiến thắng Đấu trường còn dễ hơn ấy.” Nhưng nét mặt cô toát lên vẻ hài lòng.

Thật ra thì chúng tôi gần như hào hứng khi đi tới phòng ăn, ở nơi đó có Gale đang đợi dùng bữa cùng tôi. Nhận một suất bò hầm bự chảng cũng chẳng làm tâm trạng của tôi xấu đi.

“Chuyến thực phẩm đầu tiên đã tới sáng nay,” Greasy Sae bảo tôi. “Là thịt bò thật đấy, từ Quận 10. Không có tí thịt chó hoang nào của cháu đâu.”

“Không nhớ là bà từng chê nó đấy,” Gale bật lại.

Chúng tôi ngồi cùng bàn với Delly, Annie và Finnick. Thật ấn tượng khi thấy sự biến đổi của Finnick từ khi kết hôn. Hiện thân trước đây của anh – tay chơi Capitol suy đồi mà tôi gặp trước Huyết trường, đồng minh bí ẩn ở trường đấu, người thanh niên suy sụp cố giúp tôi trụ vững – tất cả những hình ảnh đó đã bị thay thế bằng một con người tràn trề sức sống. Lần đầu tiên ở Finnick toát lên nét quyến rũ đích thực trong vẻ tự trào và tính cách thoải mái. Anh không lúc nào buông tay Annie. Khi đi cũng không, khi ăn cũng không. Tôi nghĩ chắc anh chẳng bao giờ định làm thế. Cô đắm chìm trong hạnh phúc ngây nhất. Vẫn có những lúc ta thấy có gì đó len vào tâm trí cô và một thế giới khác che mờ mắt không cho cô thấy chúng tôi. Nhưng chỉ cần vài lời của Finnick là cô lại trở về thực tại.

Delly, cô gái tôi biết từ thuở nhỏ nhưng chẳng mấy lưu tâm, giờ dần chiếm được tình cảm của tôi. Cô có nghe kể về những gì Peeta nói với tôi đêm sau đám cưới, nhưng cô không phải là kẻ ngồi lê đôi mách. Haymitch nói cô là người bảo vệ đắc lực nhất của tôi mỗi khi Peeta phát điên phát rồi về tôi. Luôn bênh vực tôi, quy những nhận thức tiêu cực của Peeta cho sự tra tấn của Capitol. Cô ảnh hưởng tới cậu nhiều hơn bất kỳ ai khác, vì cậu biết rõ cô. Dù cô có nói quá về những điểm tốt của tôi thì tôi cũng lấy làm cảm kích. Thực lòng thì tâng bốc tôi một tí cũng được.

Tôi đói ngấu còn món hầm thì ngon tuyệt – thịt bò, khoai tây, củ cải và hành trong nước xốt đậm đặc - đến nỗi tôi phải bắt mình ăn chậm lại. Khắp quanh phòng ăn, ta có thể cảm thấy thứ sinh khí tràn trề mà một bữa ăn ngon đem lại. Cái cách nó làm con người ta hòa nhã hơn, vui vẻ hơn, lạc quan hơn, và nhắc họ rằng tiếp tục sống không phải là sai lầm. Điều này còn tốt hơn bất kỳ loại thuốc nào. Vì thế tôi cố kéo dài không khí đó cũng như tham gia vào cuộc nói chuyện. Rưới nước xốt lên bánh mì mà nhâm nhi, vừa nghe Finnick kể chuyện cười về một con rùa biển tha mũ của anh bơi đi mất hút. Cười rồi mới nhận ra cậu đang đứng đó. Ngay bên kia bàn, sau cái ghế trống cạnh Johanna. Quan sát tôi. Tôi thoáng nghẹt thở khi miếng bánh mì thấm nước xốt nghẹn lại trong cổ họng.

“Peeta!” Delly nói. “Thấy cậu ra ngoài… đi lại thế này thật vui quá.”

Hai người bảo vệ lực lưỡng đứng sau cậu. Cậu lúng túng cầm chiếc khay, được đặt cân bằng trên các đầu ngón tay vì cổ tay cậu lủng lẳng một sợ xiềng ngắn.

“Cái vòng tay hoa lệ kia là để làm gì đấy?” Johanna hỏi.

“Tôi vẫn chưa thực sự đáng tin lắm,” Peeta nói. “Tôi thậm chí còn không được ngồi đây nếu không được phép.” Cậu hất đầu về phía hai người bảo vệ.

“Cậu ấy ngồi đây được quá đi chứ. Chúng tôi là bạn cũ mà,” Johanna nói, vỗ vỗ vào chỗ trống bên cô. Người bảo vệ gật đầu và Peeta liền ngồi xuống. “Hồi ở Capitol chúng tôi bị giam ở hai buồng cạnh nhau. Chúng tôi quá quen với tiếng hét của nhau rồi.”

Annie, ngồi phía bên kia Johanna, lại trở chứng bịt tai thoát ly thực tại. Finnick giận dữ lườm Johanna, đoạn vòng tay ôm Annie.

“Gì cơ? Bác sĩ tâm thần của tôi nói không được kiểm duyệt tâm trí. Đó là một phần trong liệu pháp chữa trị cho tôi đấy,” Johanna đáp

Sinh khí đã rời bỏ cái nhóm nhỏ của chúng tôi. Finnick thì thầm gì đó với Annie cho đến khi cô dần bỏ tay ra. Theo sau là một khoảng lặng dài trong khi mọi người giả vờ ăn.

“Annie à,” Delly hồ hởi nói, “chị có biết chính Peeta đã trang trí bánh cưới cho anh chị không? Hồi ở quê, nhà cậu ấy có một tiệm bánh và cậu ấy lo hết việc phun kem đấy.”

Annie thận trọng nhìn sang bên kia Johanna, “Cảm ơn, Peeta. Bánh đẹp lắm.”

“Niềm vinh hạnh của tôi mà, chị Annie,” Peeta nói, và tôi nghe thấy vẻ lịch thiệp quen thuộc trong giọng cậu mà tôi tưởng đã vĩnh viễn không còn. Tuy vậy, nó cũng chả hướng đến tôi.

“Nếu ta định đi dạo cho kịp thì nên đi thôi,” Finnick bảo vợ. Anh xoay xở sao cho cầm cả hai khay bằng 1 tay để tay kia nắm chặt tay cô. “Rất vui được gặp cậu, Peeta.”

“Anh phải đối tốt với chị ấy nhé, Finnick. Nếu không tôi sẽ tìm cách cướp chị ấy khỏi anh đấy.” Đó có thể là một câu nói đùa, nếu giọng điệu không lạnh lẽo đến thế. Tất cả mọi thứ mà nó truyền tải đều sai. Sự ngờ vực ra mặt của Finnick, ẩn ý rằng Peeta để mắt tới Annie, rằng Annie có thể bỏ rơi Finnick, rằng tôi thậm chí không tồn tại.

“Ôi, Peeta,” Finnick nhẹ nhàng nói. “Đừng làm tôi hối tiếc vì đã hồi sinh trái tim cho cậu.” Anh đưa Annie đi sau khi liếc nhìn tôi vẻ lo ngại.

Khi họ đi rồi, Delly nói giọng quở trách, “Anh ấy đã cứu mạng cậu đấy, Peeta. Không chỉ một lần đâu.”

“Vì cô ấy thôi.” Cậu hất đầu cụt lủn về phía tôi. “Vì phiến quân. Không phải vì tớ. Tớ không nợ anh ta cái gì cả.”

Tôi không nên cắn câu, nhưng tôi lại làm thế. “Có lẽ là không. Nhưng Mags chết rồi còn cậu thì vẫn ở đây. Điều đó cũng có ý nghĩa gì chứ.”

“Phải, rất nhiều thứ cũng nên có ý nghĩa mà lại không có vẻ như vậy, Katniss ạ. Tớ có một vài ký ức mà tớ không hiểu, và tớ nghĩ Capitol chưa động chạm gì đến chúng. Rất nhiều đêm trên tàu, chẳng hạn thế,” cậu nói.

Lại là ẩn ý. Rằng cậu muốn nói đến chuyện xảy ra trên tàu hơn. Rằng những gì đã xảy ra – những đêm tôi chỉ có thể giữ mình tỉnh táo nhờ vòng tay của cậu quấn quanh mình – chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Tất cả là dối trá, tất cả là nhằm lợi dụng cậu mà thôi.

Peeta khẽ huơ chiếc thìa qua lại giữa Gale và tôi. “Vậy giờ hai người chính thức là một cặp hay vẫn lằng nhằng chuyện tình yêu bị ngăn trở?”

“Vẫn lằng nhằng thế thôi,” Johanna nói.

Cơn co thắc khiến tay Peeta siết lại thành nắm đấm rồi lại xòe ra với điệu bộ rất kỳ quặc. Có phải đó là tất cả những gì cậu có thể làm để ngăn chúng vồ lấy cổ tôi. Tôi cảm thấy những thớ cơ của Gale căng lên bên mình, sợ rằng sẽ xảy ra xô xát. Nhưng Gale chỉ nói, “Tôi lẽ ra cũng chẳng tin đâu nếu không được nhìn thấy tận mắt.”

“Thấy cái gì?” Peeta hỏi.

“Cậu,” Gale bảo

“Anh nói rõ hơn chút coi,” Peeta nói. “Tôi thì sao?”

“Rằng chúng đã thay thế cậu bằng phiên bản một con mút-quái thai,” Johanna nói.

Glae uống hết sữa, “Em xong chưa?” anh hỏi tôi. Tôi đứng lên và chúng tôi liền đi cất khay. Ra đến cửa, một ông già ngăn tôi lại vì tôi vẫn nắm chặt mẩu bánh mì nước xốt còn lại trong tay. Nét mặt tôi toát lên nét gì đó, hoặc có lẽ bởi thực tế là tôi không cố ý giấu đồ ăn khiến ông khá nhẹ tay với tôi. Ông để tôi nhét mẩu bánh mì vào miệng rồi đi. Gale và tôi gần về tới phòng tôi thì anh cất tiếng trở lại. “Anh không nghĩ là chuyện lại thành ra như vậy.”

“Em đã bảo anh là cậu ấy ghét em rồi mà,” tôi nói.

“Chính là cách cậu ấy ghét em. Nó quá… quen thuộc. Anh từng có cảm giác như vậy rồi,” anh thú nhận. “Khi anh thấy em hôn cậu ấy trên màn hình. Chỉ có điều anh biết mình không công bằng lắm. Cậu ấy thì không thấy được cái đó.”

Chúng tôi đến cửa. “Có lẽ cậu ấy thấy chính con người thực của em thôi. Em phải chợp mắt chút đây.”

Gale nắm cánh tay tôi trước khi tôi vào mất. “Ra đó là những gì em đang nghĩ sao?” Tôi nhún vai. “Katniss à, với tư cách là bạn lâu năm nhất của em, hãy tin anh khi anh nói rằng cậu ấy chưa nhìn thấy con người thực của em đâu.” Anh thơm lên má tôi rồi đi.

Tôi ngồi trên giường, cố nhồi nhét mớ thông tin trong cuốn Chiến thuật Quân sự vào đầu nhưng ký ức về những đêm cùng Peeta trên tàu ùa về làm tôi sao nhãng. Sau khoảng hai mươi phút, Johanna vào nằm phịch xuống vắt ngang nơi chân giường. “Cô bỏ lỡ phần hay nhất rồi. Delly nổi cáu với Peeta vì cách cậu ấy đối xử với cô. Con bé rít lên nhặng xị. Cứ như ai dùng dĩa diên con chuột liên hồi vậy. Cả phòng cứ dàn mắt vào.”

“Thế Peeta phản ứng thế nào?”

“Cậu ấy bắt đầu tranh cãi với chính mình như có hai nhân cách vậy. Bảo vệ phải lôi cậu ấy đi. Mặt tốt là, có vẻ không ai để ý rằng tôi đã xơi hết món hầm của cậu ấy.” Johanna xoa tay lên cái bụng căng tròn. Tôi nhìn lớp ghét dưới móng tay cô. Tự hỏi người dân Quận 7 có bao giờ tắm không.

Chúng tôi giành mấy tiếng đồng hồ để hỏi nhau về các thuật ngữ quân sự. Tôi đến thăm mẹ và Prim một lúc. Khi trở về phòng, đi tắm, nhìn chằm chằm vào bóng tối, cuối cùng tôi cũng hỏi. “Johanna này, chị có thực sự nghe thấy cậu ấy hét không?”

“Đó là một phần của kế hoạch mà,” cô nói. “Như lũ húng nhây ở trường đấu ấy. Chỉ có điều cái này là thật. Và mãi một tiếng sau vẫn không chấm dứt. Tích, tắc.”

“Tích, tắc.” tôi thì thầm đáp lại.

Hoa hồng. Sói mút. Vật tế. Cá heo đóng băng. Bạn bè. Húng nhại. Nhà tạo mẫu. Tôi.

Đêm nay, mọi thứ thét gào trong những giấc mơ của tôi.

18.

Tôi dốc sức lao vào rèn luyện. Ăn, sống, thở cùng những bài tập thể lực, thao tập quân sự, thực hành vũ khí, các bài giảng về chiến thuật. Vài người chúng tôi được chuyển đến lớp bổ sung, điều này nhen nhóm trong tôi hy vọng được cạnh tranh suất tham gia chiến trận thực sự. Các biến binh chỉ gọi nó là Khu, nhưng hình xăm trên cánh tay tôi phân nó vào dạng M.C.Đ, viết tắt của Mô phỏng Chiến đấu Đường phố. Sâu tít trong Quận 13, người ta xây dựng một khu thành phố Capitol nhân tạo. Huấn luyện viên chia chúng tôi thành các đội tám người và chúng tôi phải cố thực thi nhiệm vụ - giành vị trí, triệt hạ mục tiêu, khám nhà – như thể chúng tôi đang tìm cách hạ Capitol. Khu này được thiết kế nhằm khiến tất cả mọi thứ có thể gây trục trặc cho ta cứ thế mà phát huy tác dụng. Nhỡ chân là kích hoạt địa lôi, một tay súng bắn tỉa xuất hiện trên mái nhà, kẹt súng, tiếng trẻ con khóc dụ ta vào nơi mai phục, đội trưởng – người mà ta chỉ nghe giọng nói trong chương trình – bị dính đạn và ta phải tự tính xem sẽ làm gì khi không có mệnh lệnh. Một phần trong ta biết rằng đó chỉ là giả và họ không định giết ta. Nếu giẫm phải địa lôi, ta nghe thấy tiếng nổ và phải vờ gục xuống chết. Nhưng mặt khác thì có cảm giác như cảnh tượng khác chân thực – những chiến binh đóng vai kẻ thù vận đồng phục Trị an viên, sự hỗn loạn do trận bom khói gây ra. Họ thậm chí còn xịt hơi cay vào chúng tôi. Chỉ có Johanna và tôi kịp đeo mặt nạ. Những người còn lại trong đội bị hạ gục trong vòng mười phút. Và cái chất khí được cho là vô hại mà tôi lỡ hít đầy phổi vài hơi khiến tôi đau đầu như búa bổ suốt từ lúc ấy cho đến cuối ngày.

Cressida cùng đội của chị ghi hình Johanna và tôi trên trường bắn. Tôi biết Gale và Finnick cũng đang được quay. Đó là một phần trong loạt ĐTT mới cho thấy tình hình chuẩn bị của phiến quân cho cuộc đánh chiếm Capitol. Nhìn chung, mọi thứ đang khá xuôi chèo mát mái.

Rồi Peeta bắt đầu xuất hiện trong những buổi tập sáng của chúng tôi. Cậu đã được tháo xiềng, những vẫn bị hai người bảo vệ kèm thuờng xuyên. Sau bữa trưa, tôi thấy cậu bên kia bãi tập, luyện cùng nhóm mới học. Tôi không biết họ đang nghĩ gì nữa. Nếu cãi nhau với Delly đã khiến cậu đôi co với chính mình thì cậu không có tư cách gì mà học lắp súng.

Khi tôi chạm mặt Plutarch, ông trấn an tôi rằng đấy chỉ để quay phim mà thôi. Họ đã quay được Annie kết hôn và Johanna bắn trúng mục tiêu, nhưng toàn dân Panem đang băn khoăn về Peeta. Họ cần thấy cậu ấy đang chiến đấu vì phiến quân chứ không phải vì Snow. Và ướm hỏi xem liệu họ có thể quay vài cảnh hai đứa tôi, không nhất thiết là phải hôn nhau, chỉ cần trông có vẻ hạnh phúc khi được đoàn tụ…

Tôi lập tức bỏ ngang cuộc nói chuyện. Chuyện đó còn lâu mới xảy ra.

Trong những khoảnh khắc rảnh rỗi hiếm hoi, tôi bồn chồn quan sát tình hình chuẩn bị cho cuộc đánh chiếm. Thấy các trang thiết bị và lương thực dự trữ được sửa soạn sẵn sàng, các sư đoàn được tập hợp. Nhìn mái tóc húi cua, dấu hiệu của những người sắp ra trận, là ta biết họ nhận lệnh khi nào. Có nhiều tin đồn về cuộc tấn công mở màn, trận này nhằm chiếm đường hầm tàu hỏa cung ứng cho Capitol.

Chỉ vài ngày trước khi những đội quân đầu tiên chuẩn bị lên đường. York bất ngờ bảo với Johanna và tôi rằng bà đã giới thiệu chúng tôi thi sát hạch, và chúng tôi phải có mặt ngay lập tức. Có bốn phần: vượt chướng ngại vật nhằm đánh giá tình trạng thể chất, bài thi viết về chiến thuật, kiểm tra độ thông thạo vũ khí và tình huống chiến đấu mô phỏng trong Khu. Tôi thậm chí chẳng còn thời gian lo lắng cho ba phần đầu tiên và làm suôn sẻ, nhưng bị dồn lại trong Khu. Họ đang thử nghiệm một loại bọ kỹ thuật nào đó. Một nhóm chúng tôi trao đổi thông tin. Điều này nhiều khả năng là đúng. Từng người thi riêng. Không thể đoán trước được ta sẽ rơi vào tình huống nào. Một cậu thì thầm rằng cậu ta nghe nói phần thi này được thiết kế để đánh vào điểm yếu của mỗi cá nhân.

Điểm yếu của tôi ư? Đó là cánh cửa mà tôi thậm chí không muốn mở ra. Nhưng tôi tìm thấy một chỗ yên tĩnh mà cố suy xét xem điểm yếu đó có thể là gì. Độ dài của danh sách làm tôi chán nản. Thiếu vũ lực. Quá trình luyện tập gần như tối thiểu. Và vì duyên cớ nào đó, vai trò Húng nhại nổi bật của tôi có vẻ không được coi là lợi thế trong trường hợp họ cố gộp chúng tôi vào một nhóm. Họ có khối cách để cho tôi biết tay.

Johanna được gọi trước tôi ba lượt, và tôi gật đầu khích lệ với cô. Ước gì tôi đứng đầu danh sách vì quả thực tôi đang suy nghĩ quá nhiều về toàn bộ sự việc. Đến khi được gọi tên, tôi không biết chiến thuật của mình là gì. May thay, vừa vào trong Khu thì chút kinh nghiệm luyện tập đã phát huy tác dụng. Đây là tình huống phục kích. Các Trị an viên xuất hiện gần như tức thì và tôi phải tìm cách đến chỗ hẹn để gặp lại nhóm đã bị phân tán của mình. Tôi chầm chậm dò đường, hạ các Trị an viên trên đường đi. Hai kẻ trên mái nhà bên trái tôi, một kẻ khác nơi ngưỡng cửa phía trước. Đúng là thách thức, nhưng không khó vất như tôi tưởng. Có cảm giác lấn cấn rằng nếu mọi việc quá đơn giản thì tôi đã bỏ lỡ điểm mấu chốt. Tôi chỉ còn cách mục tiêu hai tòa nhà thì tình hình nóng lên. Nửa tá Trị an viên lộ diện bao vây góc phố. Số lượng súng của họ sẽ áp đảo tôi, nhưng tôi để ý thấy một thứ. Một thùng xăng nằm tênh hênh trong rãnh nước. Chính nó. Bài sát hạch của tôi. Nhận ra rằng làm nổ thùng là cách duy nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Tôi vừa dợm bước ra hành động thì đội trưởng, người khá là vô dụng cho tới thời điểm này, khẽ ra lệnh cho tôi nằm xuống đất. Mọi bản năng trong tôi thét gào tôi mặc kệ giọng nói đó mà kéo cò cho đám Trị an viên tan xác đi. Và đột nhiên, tôi ngộ ra điểm yếu lớn nhất của mình trong mắt quân đội. Từ giây khắc đầu tiên ở Đấu trường, khi tôi lao đến chỗ chiếc ba lô màu cam, tới vụ bắn nhau ở Quận 8, tới việc bốc đồng chạy qua quảng trường ở Quận 2. Tôi không thể chấp hành mệnh lệnh.

Tôi đổ xuống đất thật nhanh và mạnh, rồi tôi sẽ phải mất cả tuần mới gắp hết đá dăm ra khỏi cằm mất thôi. Ai khác đã làm nổ thùng xăng. Đám Trị an viên mất mạng. Tôi đến được chỗ hẹn. Khi tôi ra khỏi Khu ở phía bên kia, một chiến binh chúc mừng tôi, đóng dấu số đội 451 vào bàn tay tôi, và bảo tôi đến trình diện tại Bộ Tư lệnh. Gần như ngây ngất vì chiến thắng, tôi chạy qua hành lang, trượt kin kít quanh các góc rẽ, lao sầm sập xuống cầu thang vì thang máy chậm rì rì. Tôi ào vào phòng trước khi nhận ra tình huống kỳ quặc này. Tôi không nên ở Bộ Tư lệnh; tôi nên đi cạo đầu mới phải. Những người ngồi quanh bàn không phải lính mới mà là những người ra quyết định.

Boggs mỉm cười lắc đầu khi trông thấy tôi. “Xem nào.” Giờ lại có phần ngập ngừng, tôi chìa bàn tay được đóng dấu ra. “Cháu cùng đội với tôi. Đó là một đơn vị đặc biệt gồm các xạ thủ. Nhập đội đi.” Ông hất đầu về phía một nhóm đứng dọc tường. Gale. Finnick. Năm người nữa mà tôi không biết. Đội của tôi. Tôi không chỉ được vào đội mà còn làm việc dưới quyền Boggs. Với các bạn của tôi. Tôi bắt mình bình tĩnh lại, dưới với vẻ hiên ngang của một chiến binh đến nhập đội cùng họ, thay vì nhảy tưng tưng.

Hẳn là chúng tôi cũng quan trọng, vì chúng tôi đang ở Bộ Tư lệnh và việc này chẳng liên quan gì đến một biểu tượng Húng nhại nào đó. Plutarch quan sát tấm bảng phẳng rộng ở chính giữa bàn. Ông đang giải thích về bản chất của những thứ mà chúng tôi sẽ đương đầu ở Capitol. Tôi nghĩ bài thuyết trình này dở tệ - vì dù có kiễng chân tôi cũng chẳng thấy mô tê gì trên bảng - cho đến khi ông nhấn nút. Hình ảnh khu Capitol nổi ba chiều được phóng vào khoảng không.

©S.T.E.N.T

“Thí dụ, đây là khu vực bao quanh một trong các doanh trại của đám Trị an viên. Không phải là không quan trọng, nhưng cũng chẳng phải mục tiêu cốt yếu, hãy nhìn đã.” Plutarch gõ bàn phím nhập mã, và đèn bắt đầu chiếu loang loáng với đủ mọi sắc màu, nhấp nháy với tốc độ khác nhau. “Mỗi ánh đèn là một cái kén. Nó tượng trưng cho mỗi chướng ngại vật khác nhau, bản chất có thể là bất cứ thứ gì từ bom cho đến một đàn mút. Không được phạm sai lầm, dù nó có chứa gì thì cũng nhằm bẫy hoặc giết ta. Một số đã có sẵn từ Kỳ Đen tối, số khác được phát triển qua nhiều năm. Thành thật mà nói thì chính tôi đã tạo ra một số lượng không nhỏ. Chương trình này, thứ mà người của chúng tôi đã lén mang theo khi trốn khỏi Capitol, là thông tin mới nhất của ta. Họ không biết là ta có nó. Nhưng dù vậy, có thể những cái kén mới đã được kích hoạt trong mấy tháng qua. Đó là những gì ta sẽ phải đối mặt.”

Tôi không nhận thấy chân mình đang tiến dần tới bàn cho đến khi chỉ cách nổi ba chiều vài phân. Tay tôi vươn ra khum khum một luồng sáng xanh lá nhấp nháy.

Ai đó đến bên tôi, cơ thể căng cứng. Finnick, tất nhiên rồi. Bởi chỉ có người chiến thắng mới nhìn những gì tôi nhìn thấy tức thì đến vậy. Trường đấu. Điểm xuyết bằng những cái kén do Ban Tổ chức Đấu trường điểu khiển. Tay Finnick ve vuốt một luồng sáng đỏ đứng yên trên đầu cửa. “Thưa quý vị... ”

Giọng anh khẽ khàng, nhưng giọng tôi thì vang khắp vòng. “Đấu trường Sinh tử lần thứ 76 bắt đầu!”

Tôi cười. Rất nhanh. Trước khi bất kỳ ai có thời gian nhận ra ẩn ý trong câu nói. Trước khi họ nhướng mày, đưa ra lời phản đối, suy đoán này nọ rồi nảy ra giải pháp là cách ly tôi khỏi Capitol càng xa càng tốt. Bởi họ không hề muốn trong đội mình có một người chiến thắng nóng giận và suy nghĩ độc lập với lớp mô sẹo tâm lý quá dày không thể nào xuyên qua.

“Tôi thậm chí không biết tại sao ông phải lo tập huấn cho Finnick và tôi nhỉ, ông Plutarch?” tôi nói.

“Phải, chúng tôi là hai chiến binh được trang bị tốt nhất mà ông có,” Finnick tự đắc thêm vào.

“Đừng nghĩ là tôi quên chuyện đó.” Ông vừa nói vừa sốt ruột phẩy tay. “Giờ thì quay về hàng đi, Chiến binh Odair và Chiến binh Everdeen. Tôi còn phải thuyết trình cho xong.”

Chúng tôi về chỗ, tảng lờ những cái nhìn dò hỏi ném về phía mình. Tôi tỏ thái độ tập trung hết sức khi Plutarch nói tiếp, gật đầu đôi chỗ, nhích người để nhìn rõ hơn, suốt lúc đó cứ tự nhủ hãy kiên nhẫn cho đến khi có thể vào rừng mà hét lên. Hay nguyền rủa. Hay khóc lóc. Hoặc có lẽ là cả ba việc một lúc.

Nếu đây là bài sát hạch, thì cả Finnick lẫn tôi đều đã vượt qua. Khi Plutarch nói xong và buổi họp kết thúc, tôi chột dạ khi biết có lệnh đặc biệt dành cho mình. Nhưng thì ra chỉ là tôi được miễn cắt tóc quân đội vì họ muốn Húng nhại trước cảnh đầu hàng được mong đợi phải càng giống cô gái ở trường đấu càng tốt. Để quay phim, vậy thôi. Tôi nhún vai tỏ ý chẳng mảy may quan tâm tóc mình dài ngắn thế nào. Họ bảo tôi đi mà không bình luận gì thêm.

Finnick và tôi hướng về phía nhau trong hành lang. “Anh biết nói gì với Annie đây?” anh thì thầm.

“Không gì hết,” tôi đáp. “Em cũng không nói cho mẹ và em gái em biết.” Việc chúng tôi biết mình sắp phải quay lại một trường đấu được trang bị đầy đủ đã tồi tệ lắm rồi. Giáng tin đó xuống những người yêu thương cũng chẳng ích lợi gì.

“Nếu cô ấy nhìn thấy Ảnh nổi ba chiều…” anh bắt đầu.

“Chị ấy không thấy đây. Đó là thông tin mật. Hẳn là thế,” Tôi nói. “Mà nó cũng chẳng phải đấu trường sinh tử thực sự. Sẽ có nhiều người sống sót. Chúng ta chỉ phản ứng mạnh mẽ vì… ừm, anh biết tại sao rồi đấy. Anh vẫn muốn đi chứ?”

“Đương nhiên. Anh muốn hủy hoại Snow không kém gì em đâu,” anh nói.

“Nó sẽ không giống những lần khác,” tôi nói cứng, cố thuyết phục cả chính mình. Rồi tôi chợt nhận ra cái hay ho đích thực của tình huống này. “Lần này Snow cũng là người chơi.”

Chúng tôi chưa kịp nói tiếp thì Haymitch xuất hiện. Ông không tham dự cuộc họp, giờ không nghĩ về trường đấu mà về thứ khác. “Johanna quay lại bệnh viện rồi.”

Tôi cứ tưởng là Johanna ổn cả, đã vượt qua bài sát hạch, chỉ là không được phân vào đơn vị xạ thủ thôi. Cô ném rìu rất cừ nhưng bắn súng thì trung bình. “Chị ấy bị thương ạ? Có chuyện gì vậy ạ?”

“Là khi con bé ở trong Khu ấy. Người ta cố tìm ra điểm yếu tiềm ẩn của từng chiến binh. Vì thế họ đã làm ngập phố,” Haymitch nói.

Chẳng ăn thua gì. Johanna biết bơi. Ít nhất, tôi nhớ mang máng là cô đã bơi vài quãng trong Huyết trường Tứ phân. Tất nhiên là không giống như Finnick, nhưng không ai trong chúng tôi giống Finnick cả. “Rồi?”

“Đó là cách chúng tra tấn con bé ở Capitol. Nhấn chìm nó rồi cho điện giật,” Haymitch nói. “Lúc ở trong Khu nó đã hồi tưởng lại. Sợ hãi, không biết mình ở đâu. Nó lại phải dùng thuốc an thần rồi.” Finnick và tôi chỉ biết đứng đó, như thế chúng tôi đã mất khả năng phản ứng. Tôi nghĩ đến việc Johanna không bao giờ tắm. Rằng hôm đó cô đã phải gồng mình thế nào mới lao ra được màn mưa mà với cô chẳng khác gì a xít. Tôi đã cho rằng cô đau đớn là do bị cắt ma phiện.

“Hai đứa nên tới thăm con bé đi. Các cháu cũng gần như là bạn với nó còn gì.” Haymitch nói.

Điều này còn làm mọi chuyện tệ hơn. Tôi thực không biết quan hệ giữa Johanna và Finnick là thế nào. Nhưng tôi hầu như không biết gì về cô cả. Không gia đình. Không bạn bè. Không cả một vật kỷ niệm nào mang theo từ Quận 7 để đặt bên đống quần áo quy định trong chiếc ngăn kéo vô danh của mình. Không gì hết.

“Ta nên đi thông báo cho Plutarch thì hơn. Ông ta sẽ không vui đâu,” Haymitch nói. “Ông ta càng muốn có nhiều người chiến thắng càng tốt để máy quay dõi theo ở Capitol. Nghĩ là như thế thì chương trình truyền hình sẽ thu hút hơn.”

“Bác và Beetee có đi không ạ?” tôi hỏi.

“Càng nhiều người chiến thắng trẻ tuổi hấp dẫn càng tốt,” Haymitch tự sửa lại. “Thế nên, không. Chúng ta sẽ ở lại đây.”

Finnick đi thẳng một mạch tới thăm Johanna, nhưng tôi thì nấn ná bên ngoài vài phút cho đến khi Boggs xuất hiện. Giờ ông là chỉ huy của tôi, vậy nên tôi đoán nếu mình có nhờ vả đặc việt thì hỏi xin ông. Khi tôi trình bày với ông ý định của mình, ông liền viết giấy phép cho tôi được vào rừng trong giờ Suy niệm, miễn là tôi ở trong tầm nhìn của các vệ sĩ. Tôi chạy về phòng, định dùng chiếc dù, nhưng nó chứa đầy những kỷ niệm đáng sợ. Thay vào đó, tôi băng qua hành lang đi lấy một miêng băng bông trắng mà tôi mang theo từ Quận 12. Vuông vắn. Dày dặn. Đúng thứ tôi cần.

Tìm thấy một cây thông trong rừng, tôi liền bóc những lá kim thơm ngát khỏi cành. Sau khi có được một chồng ngay ngắn ở giữa miếng băng, tôi túm các góc buộc lại, thắt chặt bằng một sợi dây leo, làm thành một bọc to cỡ quả táo.

Trước cửa phòng bệnh, tôi nhìn Johanna một lát, nhận ra rằng phần lớn sự hung hãn của cô thể hiện trong thái độ cộc cằn thô lỗ. Bị tướt mất cái đó, như cô bây giờ, thì chỉ còn một cô gái mong manh, mở to mắt cố giữ tỉnh táo trước tác dụng của thuốc. Sợ hãi những gì mà giấc ngủ mang lại. Tôi đến bên cô chìa cái bọc ra.

“Gì đây?” cô khò khè nói. Đuôi tóc ẩm của cô chĩa lỉa chỉa trên trán.

“Tôi làm cho chị đấy. Thứ gì đó để trong ngăn kéo.” Tôi đặt nó vào tay cô. “Ngửi đi.”

Cô nâng cái bọc lên mũi, ngập ngừng hít hà. “Như mùi quê nhà vậy.” Mắt cô ầng ậc nước.

“Tôi đã hy vọng thế. Chị đích thị là người Quận 7,” tôi nói. “Nhớ hồi chúng ta gặp nhau không? Chị là một cái cây. Ừm, đại khái thế.”

Đột nhiên, cô túm chặt cổ tay tôi. “Cô phải giết ông ta, Katniss à.”

“Đừng lo.” Tôi kìm lại thôi thút gỡ tay ra.

“Thề đi. Bằng thứ mà cô quan tâm ấy,” cô rít lên.

“Tôi thề. Bằng cả tính mạng mình.” Nhưng cô vẫn không buông tay tôi ra.

“Bằng cả tính mạng gia đình cô,” cô kiên quyết.

“Bằng cả tính mạng gia đình tôi,” tôi nhắc lại. Có lẽ việc tôi lo lắng cho chính sự sống còn của mình chưa đủ thuyết phục. Cô buông tay tôi ra, tôi liền xoa cổ tay. “Mà sao chị lại nghĩ là tôi sẽ làm vậy hả đồ ngốc?”

Điều đó làm cô thoáng cười. “Tôi chỉ cần nghe vậy thôi.” Cô áp bọc lá thông lên mũi và nhắm mắt lại.

Những ngày còn lại quay cuồng trôi qua. Sau bài tập thể lực ngắn mỗi sáng, đội của tôi lại ra trường bắn luyện tập toàn thời gian. Tôi chủ yếu tập súng, nhưng họ dành một tiếng mỗi ngày cho các vũ khí chuyên biệt, tức là tôi được dùng câu cung Húng nhại, còn Gale thì sử dụng món vũ khí nặng trịch của mình. Cây đinh ba Beetee thiết kế cho Finnick có rất nhiều tính năng đặc biệt, nhưng điểm nổi bật nhất là anh có thể phóng nó đi, nhấn một cái nút trên băng cổ tay là thu hồi được mà không cần đuổi theo nó.

Đôi khi chúng tôi bắn vào những hình nộm Trị an viên cho quen với những nhược điểm trong thiết bị bảo hộ của chúng. Kẽ hở trên bộ giáp, đại để vậy. Nếu bắn trúng phần thịt, ta được thưởng một luồng máu giả. Hình nôm của ta thấm đẫm máu đỏ tươi.

Thật vững tâm khi thấy mức độ chính xác nói chung trong nhóm của chúng tôi cao đến mức nào. Cùng với Finnick và Gale, đội gồm có năm chiến binh là dân Quận 13. Jackson, một phụ nữ trung tuổi, chỉ huy phó của Boggs, trông thì có vẻ lờ đờ nhưng lại có thể bắn trúng những thứ mà các thành viên còn lại thấm chí không nhìn thấy nếu thiếu kính ngắm. Viễn thị, bà nói. Hai chị em gái lên Leeg – chúng tôi gọi là Leeg 1 và Leeg 2 cho rõ – mặc đồng phục trông giống nhau như tạc, tôi không phân biệt nổi hai người bọn họ cho đến khi nhận thấy mắt Leeg 1 có những đốm vàng kỳ dị. Hai chàng lớn tuổi hơn, Mitchell và Homes, kiệm lời nhưng có thể bắn tung bụi khỏi ủng người khác từ khoảng cách năm mươi mét. Tôi thấy những đội khác cũng khá ổn, nhưng tôi không hiểu rõ lắm vai trò của đội mình trong đến buổi sáng Plutarch đến chỗ chúng tôi.

“Đội 451, các cô cậu được chọn cho nhiệm vụ đặc biệt,” ông bắt đầu. Tôi cắn mặt trong môi, hy vọng hão rằng đó là nhiệm vụ ám sát Snow. “Ta có nhiều xạ thủ nhưng lại hơi thiếu đội ngũ quay phim. Vì thế chúng tôi đã tuyển chọn tám cô cậu làm ‘Đội Ngôi sao’. Các cô cậu sẽ là những khuôn mặt màn ảnh của cuộc đánh chiếm.”

Thất vọng, sững sờ, rồi giận dữ lan khắp đội. “Ông vừa nói là chúng tôi sẽ không tham gia chiến trận thực sự ư?” Gale gay gắt nói.

“Các cô cậu sẽ tham gia chiến trận, nhưng có lẽ không thường xuyên ở tiền tuyến. Nếu ta còn có thể tách biệt tiền tuyến trong kiểu chiến tranh này.” Plutarch nói.

“Không ai trong chúng tôi muốn thế.” Theo sau lời nhận xét của Finnick là những lời đồng tình râm ran, nhưng tôi vẫn im lặng. “Chúng tôi sẽ chiến đấu.”

“Các cô cậu sẽ được tận dụng đối đa sự hữu ích với nỗ lực chiến tranh,” Plutarch nói, “Và chúng tôi đã quyết định là các cô cậu có giá trị truyền hình lớn nhất. Cứ nhìn hiệu ứng mà Katniss mang lại khi tất bật ngược xuôi trong bộ trang phục Húng nhại mà xem. Thúc đẩy cả cuộc nổi dậy. Các cô cậu có để ý làm sao cô ấy là người duy nhất không phàn nàn không? Đó là bởi vì cô ấy hiểu sức mạnh của màn hình.”

Thực ra, Katniss không nói gì là bởi cô ấy không có ý định ở cùng “Đội Ngôi sao”, nhưng cô ấy nhận ra sự cần thiết của việc tới Capitol trước khi tiến hành bất cứ kế hoạch nào. Tuy vậy, ngoan ngoãn quá cũng có thể dấy lên nghi ngờ.

“Nhưng không phải chỉ toàn là giả vờ, phải không?” tôi nói. “Thế thì lãng phí tài năng quá.”

“Đừng lo,” Plutarch bảo tôi. “Các cô cậu sẽ có vô số mục tiêu thực sự để nhắm tối, nhưng đừng nóng vội. Không phải thay thế các cô cậu thì tôi cũng đã có đủ chuyện cần lo rồi. Giờ thì tới Capitol thể hiện cho tốt vào.”

Buổi sáng hôm chúng tôi lên đường, tôi chia tay với gia đình. Tôi chưa nói cho họ biết rằng mức độ phòng thủ của Capitol phản ánh vũ khí ở trường đấu, nhưng việc tôi phải ra trận tự thân nó đã đủ khủng khiếp lắm rồi. Mẹ ôm chặt tôi hồi lâu. Tôi cảm thấy nước mắt lăn dài trên má mẹ, thứ mà mẹ đã kìm nén khi tôi phải tham gia đấu trường. “Đừng lo. Con sẽ an toàn tuyệt đối. Con thậm chí còn chẳng phải chiến binh thực thụ. Chỉ là con rối lên hình cho đẹp của Plutarch mà thôi,” tôi vỗ về mẹ.

Prim tiễn tôi tới tận cửa bệnh viện. “Chị thấy thế nào?”

“Thoải mái hơn rồi, vì chị biết rằng mẹ và em ở nơi mà Snow không thể với tới,” tôi nói.

“Lần tới gặp lại, mình sẽ hoàn toàn thoát khỏi ông ta,” em quả quyết. Rồi em vòng tay ôm cổ tôi. “Cẩn thận nhé.”

Tôi tính xem có nên nói lời tạm biệt cuối cùng với Peeta hay không, rồi quyết định làm thế chỉ khiến cả hai đứa khó xử mà thôi. Nhưng tôi vẫn nhét hạt trai vào túi bộ đồng phục. Vật kỷ niệm của chàng trai bánh mì.

Có bao nhiêu nơi nhưng tàu bay lại đưa chúng tôi tới Quận 12, ở đó người ta đã dựng một khu vận tải dã chiến bên ngoài vùng oanh kích. Lần này không có chuyến tàu xa xỉ nào mà chỉ có một chiếc xe chở hàng nhồi nhét hết cỡ các chiến binh vận đồng phục xám sẫm, ngủ gối đầu lên ba lô, sau hai ngày rong ruổi, chúng tôi xuống xe trong một đường nhầm xuyên núi dẫn tới Capitol, cuốc bộ nốt hành trình sáu tiếng, cẩn thận đi trên vạch sơn xanh sáng đánh dấu lối an toàn dẫn đến khoảng không phía trên.

Chúng tôi tới khu trại tạm của phiến quân, một dải đất dài mười khối nhà bên ngoài sân ga nơi Peeta và tôi đến lần trước. Nơi đây đã chật cứng các chiến binh. Đội 451 được phân một khoảng đất để dựng lều. Vùng này đã bị chiếm đóng hơn một tuần qua. Phiến quân đã đẩy lùi đám Trị an viên, trong quá trình đó đã mất hàng trăm mạng người. Lực lượng Capitol thoái lui và tập hợp lại sâu hơn trong thành phố. Giữa chúng tôi bây giờ là những con phố đặt bẫy treo, trống hoác và đầy mời mọc. Cần phải quét sạch kén ở mỗi phố thì chúng tôi mới tiến lên được.

Mitchell hỏi về việc đánh bom bằng tàu bay – chúng tôi đều cảm thấy bị phơi mình quá trần trụi ngoài trời – nhưng Boggs nói đó không phải là vấn đề to tát. Phần lớn phi đội của Capitol đã bị tiêu diệt ở Quận 2 hoặc trong cuộc đánh chiếm. Nếu còn lại bất cứ chiếc tàu bay nào thì nó phải giữ lại dự phòng. Có lẽ vậy thì Snow cùng bè lũ tay sai mới có thể đào thoát vào phút cuối tới một boong ke tổng thống nào đó nếu cần. Tàu bay của chính chúng tôi không cất cánh được sau khi tên lửa phòng không của Capitol triệt phá mấy đợt đầu tiên. Hai bên sẽ quyết chiến ngoài đường phố mà chỉ huy hoại bề mặt cơ sở hạ tầng và gây thương vong cho con người ở mức tối thiểu hy vọng thế, phiến quân muốn Capitol, cũng như ta muốn Quận 13 vậy.

Sau ba ngày, hầu hết Đội 451 mạo hiểm thoát khỏi cảnh buồn chán. Cressida cùng đội của chị quay cảnh chúng tôi bắn tên nhả đạn. Họ bảo rằng chúng tôi là một phần của đội tung hỏa mù. Nếu phiến quân chỉ bắn vào những cái kén của Plutarch thì chỉ mất khoảng hai phút là Capitol luận ra chúng tôi có ảnh nổi ba chiều. Vì thế phần lớn thời gian được dành cho việc phá hủy những thứ vụn vặt, nhằm đánh lạc hướng. Chủ yếu chúng tôi chỉ bổ sung vào chồng kính cầu vồng đã bị bắn vỡ tung tóe khỏi mặt ngoài của tòa nhà màu kẹo ngọt. Tôi ngờ rằng họ sẽ xen cảnh này với cảnh những mục tiêu quan trọng của Capitol bị công phá. Thi thoảng có vẻ người ta cũng cần đến sự phục vụ của các xạ thủ đích thực. Tám bàn tay giơ lên, nhưng Gale, Finnick và tôi chưa bao giờ được chọn.

“Lỗi tại anh hết, ai bảo quá sẵn sàng trước ống kính,” tôi bảo Gale. Ánh mắt tóe lửa.

Có lẽ họ không rõ phải làm gì với ba người chúng tôi lắm, nhất là tôi. Tôi có mang theo trang phục Húng nhại, nhưng phải mặc đồng phục để ghi hình. Có lúc tôi dùng súng, có lúc họ bảo tôi sử dụng cung tên. Như thể họ không muốn đánh mất hẳn Húng nhại, nhưng lại muốn hạ cấp tôi thành lính bộ binh. Vì không quan tâm, tôi thấy chán nản thì ít mà buồn cười thì nhiều khi tưởng tượng ra cuộc tranh cãi đang diễn ra ở Quận 13.

Trong khi ngoài mặt bày tỏ bất mãn về việc không được thực sự tham gia vào cuộc chiến, tôi cũng bận rộn với kế hoạch của riêng mình. Mỗi người chúng tôi có một tấm bản đồ Capitol bằng giấy. Thành phố tạo thành một hình vuông gần như chằn chặn. Những đường kẻ chia bản đồ thành các hình vuông nhỏ hơn, với các chữ cái nằm men theo cạnh trên và chữ số chạy dọc cạnh bên thành một bản ô vuông. Tôi mê mải với nó, chú ý từng giao lộ và đường phụ, nhưng đó chỉ làn phương án dự phòng. Các chỉ huy ở đây đang tận dụng ảnh nổi ba chiều của Plutarch. Mỗi người có một loại máy cầm tay gọi là Ảnh nổi tạo ra những hình ảnh như tôi từng thấy ở Bộ Tư lệnh. Họ có thể phóng to bất cứ khu vực nào trên bảng ô vuông để xem những cái kén nào đang rình rập mình. Ảnh nổi là một thiết bị độc lập, một tấm bản đồ tuyệt xảo, vì nó không gửi hay nhận tín hiệu được. Nhưng nó ưu việt hơn phiên bản giấy của tôi nhiều.

Ảnh nổi được kính hoạt bằng giọng nói của một chỉ huy cụ thể khai báo danh tính. Một khi hoạt động, nó phản ứng với cả những giọng nói khác trong đội, vì thế nhỡ không may Boggs chết hoặc bị thương nặng thì người khác có thể đảm trách thay. Nếu bất kỳ ai trong đội lặp lại ba từ liên tiếp từ “dâu độc” thì Ảnh nổi sẽ phát nổ, thổi tung tất cả mọi thứ trong bán kính khoảng năm mét thành cát bụi. Cái đó là vì lý do an ninh trong trường hợp bị bắt. Chúng tôi hiểu rằng tất cả sẽ làm thế không chút ngần ngừ.

Vì thế tất cả những gì tôi cần làm là ăn trộm Ảnh nổi đã kích hoạt của Boggs và bỏ đi trước khi ông phát hiện ra. Tôi nghĩ việc này còn dễ hơn là ăn trộm răng của ông.

Vào buổi sáng thứ tư, Chiến binh Leeg 2 bắn phải một cái kén đánh dấu nhầm. Thay vì thả một đàn muỗi mút mà phiến quân sẵn sàng đối mặt, cô lại khiến đám phi tiêu kim loại phóng ra tung tóe. Người ta tìm thấy não của cô. Cô chết trước khi cứu thương tới kịp. Plutarch hứa sẽ nhanh chóng tìm người thay thế.

Chiều hôm sau, thành viên mới nhất của đội chúng tôi đến. Không xiềng xích. Không người giám sát. Thong dong bước ra khỏi sân ga với súng lủng lẳng trên dây đeo qua vai. Mọi người sững sờ có, bối rối có, lên tiếng phản đối cũng có, nhưng

451

được in lù lù trên mu bàn tay Peeta bằng mực tươi. Boggs tịch thu vũ khí của cậu rồi đi gọi điện thoại.

“Không vấn đề gì đâu,” Peeta nói với đám còn lại của chúng tôi. “Đích thân thống đốc chỉ định tôi. Bà ta quyết định rằng các ĐTT cần chút kích thích.”

Có lẽ đúng vậy thật. Nhưng nếu Coin phái Peeta tới đây thì bà ta còn quyết định thứ khác nữa. Rằng với bà ra thì tôi chết hữu ích hơn là sống

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 7

Đang tải bình luận...