Danh Sách Của Schindler

CHƯƠNG 31

CHƯƠNG 31

CHƯƠNG 31 Trong bất cứ thảo luận nào về Schindler, đến một lúc nào đấy, các bạn bè sống sót của Herr Direktor sẽ chớp mắt, lắc đầu và bắt đầu một công việc gần như toán học là tìm tổng những động cơ của ông. Vì một trong những cảm xúc phổ biến nhất từ những người Do Thái của Schindler là “Không hiểu sao ông ấy lại làm vậy”. Có thể nói rằng đầu tiên Oskar là một con bạc, một kẻ đa cảm yêu chuộng tính minh bạch và đơn giản khi hành thiện; rằng bản chất Oskar là một kẻ vô chính phủ thích chơi khăm chế độ; và rằng sau nết tận tình hưởng lạc là sự sẵn sàng phẫn nộ, phản ứng và không khuất phục trước sự man rợ của nhân tính. Nhưng tất cả, dù chẻ ra ghép lại thế nào, cũng không giải thích nổi sự lì lợm của Oskar, vào mùa thu năm 1944, trong việc thu xếp nơi trú ẩn cuối cùng cho những người sắp tốt nghiệp Emalia. Và không chỉ cho họ. Đầu tháng Chín, ông lái xe sang Podgórze gặp Madritsch, khi đó đang sử dụng hơn ba ngàn nhân công ở nhà máy quân phục của mình. Cơ sở này cũng sẽ bị giải thể. Madritsch sẽ nhận lại chỗ máy khâu, còn công nhân của ông sẽ biến mất. Nếu cùng đặt vấn đề, ta có thể cứu được hơn bốn ngàn người. Của tôi và của anh. Chúng ta có thể đưa họ đến nơi an toàn. Dưới mạn Moravia. Madritsch sẽ luôn xứng đáng với sự kính trọng của các tù nhân sống sót. Bánh mì và gà tuồn lậu vào nhà máy đều do ông lấy tiền túi ra trả, với sự mạo hiểm thường trực. Có lẽ ông được đánh giá là điềm tĩnh hơn Oskar. Không phù phiếm và không bị những nỗi ám ảnh đeo đuổi. Ông cũng chưa bị bắt bao giờ. Nhưng sự nhân hậu của ông đã vượt ngưỡng an toàn, và nếu không mưu trí và quyết liệt, cuộc đời ông có lẽ đã kết thúc ở Auschwitz.

Giờ đây Oskar vẽ ra trước mắt ông hình ảnh một trại Madritsch-Schindler, đâu đó trên cao nguyên Jeseniks; một thôn trang công nghiệp khói tỏa yên bình. Ý tưởng đó hấp dẫn Madritsch nhưng ông chưa vội nhận lời. Ông hiểu dù thất bại trên chiến trường, con quái vật SS chẳng những không nguôi đi, mà còn hung hãn hơn. Đau thay, ông đã đúng khi tin rằng, tù nhân ở Płaszów sẽ bị các trại sát nhân dưới miền Tây nuốt chửng. Bởi đâu chỉ mình Oskar ương ngạnh và điên rồ, Sở Chỉ huy SS và các đặc vụ chiến trường sáng giá của nó - các Commandant, Trưởng trại tập trung - cũng không chịu kém. Tuy nhiên, ông cũng chưa từ chối. Ông cần thời gian suy nghĩ. Dù không nói ra với Oskar, nhưng có lẽ Madritsch e sợ việc chung chạ với một kẻ táo tợn và ma mãnh như Herr Schindler. Không có câu trả lời rõ ràng từ Madritsch, Oskar đành lên đường. Ông đi Berlin và mời đại tá Erich Lange ăn tối. Tôi có thể chuyển hẳn sang sản xuất đạn pháo, ông bảo Lange. Tôi có thể đưa các máy móc hạng nặng về. Lange là nhân vật mấu chốt. Người đảm bảo các hợp đồng; người viết những bức thư giới thiệu nhiệt tình mà Oskar cần cho Ủy ban Di tản và các quan chức Đức tại Moravia. Về sau, khi nhận xét về viên sĩ quan âm trầm này, Oskar khẳng định ông ta thường xuyên hỗ trợ mình. Lange vẫn đang ở giai đoạn cực cùng tuyệt vọng và ghê tởm về đạo lý điển hình ở nhiều cá nhân làm việc trong nhưng không phải lúc nào cũng vì chế độ. Sẽ làm được thôi, Lange bảo, nhưng tốn kém đấy. Không phải cho tôi. Cho những kẻ khác. Qua Lange, Oskar nói chuyện với một viên chức thuộc Ủy ban Di tản của OKH trên phố Bendler. Người này cho biết, nhiều khả năng kế hoạch di tản sẽ được chuẩn y nguyên tắc. Nhưng có một trở ngại lớn. Viên Toàn quyền kiêm Gauleiter (72) của Moravia, cai trị từ Lâu đài Liberec, theo đuổi chính sách cấm cửa các trại lao động Do Thái khỏi tỉnh mình. Cả SS lẫn Tổng cục Quân giới đều

chưa thành công trong việc thuyết phục ông ta thay đổi thái độ. Người thích hợp để phá thế bế tắc này, y nói, là một kỹ sư Wehrmacht trung niên, làm việc tại văn phòng Troppau của Tổng cục Quân giới, tên là Sussmuth. Oskar cũng có thể nhờ ông ta tìm giúp địa điểm tái lập nhà máy tại Moravia. Trong khi đó, Herr Schindler có thể trông cậy sự ủng hộ của Ủy ban Di tản. “Nhưng chắc ngài cũng hiểu, xét sức ép hiện nay, và ảnh hưởng của cuộc chiến lên cuộc sống tiện nghi của họ, họ sẽ phản hồi nhanh hơn nếu ngài đối đãi tử tế với họ một chút. Đám dân nghèo thành thị bọn tôi vốn khan thịt nguội, xì gà, rượu, vải vóc, cà phê… đại khái như vậy.” Tay viên chức nọ có vẻ nghĩ rằng Oskar tha theo một nửa sản lượng thời bình của Ba Lan. Kỳ thực, để biện được một gói quà cho các thành viên Ủy ban, Oskar buộc phải mua hàng xa xỉ phẩm theo giá chợ đen Berlin. Nhân viên tiếp tân ở khách sạn Aldon mua giúp Oskar thứ rượu schnapp hảo hạng với giá khuyến mại 80 RM một chai. Mà gửi cho các quý nhân ở Ủy ban thì không thể dưới một tá. Cà phê đắt như vàng, và xì gà Havana thì giá trên trời. Oskar mua số lượng lớn và bỏ vào giỏ. Các quý nhân chắc cũng cần động lực để thuyết phục ngài Toàn quyền Moravia. Trong khi Oskar đang ngược xuôi chạy vạy, Amon Goeth bị bắt. * Hẳn đã có kẻ cáo giác gã. Một thuộc cấp đố kỵ, hoặc một công dân trách nhiệm đã từng đến tư dinh và choáng váng trước thói xa hoa hưởng lạc của gã. Một điều tra viên SS cao cấp tên Eckert bắt đầu tra xét việc làm ăn của Amon. Những phát súng gã bắn từ ban công không phải là cái ông ta quan tâm. Nhưng các hành vi biển thủ và buôn bán chợ đen thì có, cũng như cáo buộc của một số thuộc cấp về việc bị gã đối xử tàn nhẫn. Amon đang về thăm ông bố làm xuất bản ở Vienna thì bị SS

bắt giữ. SS cũng khám xét căn hộ của Hauptsturmführer Goeth trong thành phố và phát hiện một số tiền khoảng 80.000 RM mà Amon không thể giải thích hợp lý. Họ còn tìm thấy gần một triệu điếu thuốc lá giấu trên trần nhà. Căn hộ thành Vienna của Amon có vẻ giống kho hàng hơn là một chốn nghỉ chân. Thoạt tiên người ta có thể ngạc nhiên khi thấy SS - hay đúng hơn là Cục 5 của Văn phòng An ninh Trung ương - lại muốn bắt giữ một công bộc mẫn cán như Hauptsturmführer Goeth. Nhưng cơ quan này đã điều tra những hiện tượng bất thường ở Buchenwald để quy tội cho Koch, viên Commandant ở đó. Họ cũng săn lùng chứng cứ cho vụ bắt giữ Rudolf Höss (73) nổi tiếng, và đã thẩm vấn một cô gái Do Thái thành Vienna bị nghi là có bầu với ngôi sao của hệ thống trại tập trung. Do vậy Amon, có mặt và phẫn nộ khi bị khám nhà, chẳng có mấy cơ sở để mong được miễn trừ. Gã bị đưa đến nhà tù SS ở Breslau chờ điều tra xét xử. Họ thể hiện sự vô can trong cách gã điều hành Płaszów bằng việc đến tư dinh gã thẩm vấn Helen Hirsch với lý do tình nghi cô can dự vào hành vi gian lận của Amon. Trong những tháng tiếp đó, hai lần cô bị đưa xuống xà lim dưới trại lính SS ở Płaszów để điều tra. Họ tra khảo cô về các đầu mối chợ đen của Amon - tay chân của gã là ai, gã quản lý xưởng kim hoàn, tiệm may và xưởng bọc nệm của Płaszów ra sao. Không ai đánh đập hoặc đe dọa cô. Nhưng họ đoán chắc rằng cô là một phần tử trong băng nhóm vẫn hành hạ cô. Nếu có bao giờ ao ước một sự giải thoát huy hoàng và không tưởng, Helen hẳn cũng chẳng dám nghĩ tới kịch bản Amon bị chính đồng bọn bắt giữ. Nhưng cô cảm thấy mất dần lý trí trong phòng hỏi cung, khi họ, bằng luật lệ của mình, muốn xích cô vào một giuộc với Amon. Có lẽ Chilowicz giúp được các ông, cô nói. Nhưng Chilowicz chết rồi. Cảnh sát là nghề của họ, và sau một thời gian, họ xác định cô

chẳng biết gì để khai ngoài chút thông tin về những bữa tiệc ê hề của Goeth. Họ có thể hỏi cô về những vết sẹo, nhưng biết không thể quy tội bạo dâm cho Amon. Khi điều tra về bạo dâm ở trại Sachsenhausen, họ đã bị lính gác có vũ trang lùa ra khỏi cửa. Ở Buchenwald họ kiếm được một hạ sĩ quan làm nhân chứng chống lại viên Commandant, nhưng người này đã chết trong xà lim. Trưởng ban điều tra của SS ra lệnh lấy mẫu thuốc độc từ dạ dày viên hạ sĩ quan SS ra thử nghiệm với bốn tù nhân Nga. Ông ta chứng kiến họ giãy chết, và có bằng chứng chống lại viên Commandant và tay bác sĩ của trại. Mặc dù ông ta buộc được tội sát nhân và bạo dâm cho y, đó là một thứ công lý quái gở. Trên hết, nó khiến đội ngũ quản trại đoàn kết và thủ tiêu nhân chứng. Do vậy điều tra viên tại Cục 5 không tra hỏi Helen về thương tích của cô. Họ tiếp tục theo đuổi tội danh biển thủ, và cuối cùng buông tha cho cô. Họ cũng thẩm vấn cả Mietek Pemper. Anh đủ khôn ngoan để không khai nhiều về Amon, đặc biệt là về tội ác với loài người của gã. Anh không biết gì về việc gã gian lận ngoài những lời đồn đại. Anh đóng vai người đánh máy trung dung và tốt tính, chỉ chuyên gõ các văn bản không mật. “Herr Commandant không bao giờ trao đổi những việc đó với tôi.” anh liên tục kêu nài. Nhưng sau màn kịch ấy chắc anh cũng chung niềm ngỡ ngàng tột độ với Helen Hirsch. Nếu có sự kiện nào hé mở cho anh một con đường sống rõ ràng nhất, thì đấy là việc Amon bị bắt. Bởi không có gì hạn định sinh mệnh anh chắc chắn hơn kịch bản này: khi quân Nga tới Tarnow, Amon sẽ đọc chính tả những bức thư cuối cùng trước khi kết liễu người đánh máy. Điều làm Mietek lo lắng, bởi vậy, là họ sẽ thả Amon ra quá sớm. Có điều, họ không chỉ quan tâm đến chuyện đầu cơ của Amon. Viên thẩm phán SS xét hỏi Pemper đã được Oberscharführer Lorenz Landsdorfer tiết lộ rằng Hauptsturmführer Goeth đã cho gã thư ký Do Thái đánh máy bản

hướng dẫn và kế hoạch ứng phó mà trại lính Płaszów phải triển khai nếu bị du kích tấn công. Amon, nhằm giải thích cho Pemper cách trình bày, đã cho gã xem bản sao những kế hoạch tương tự của các trại tập trung khác. Viên thẩm phán SS lấy làm quan ngại về việc tiết lộ tài liệu mật cho một tù nhân Do Thái đến mức ra lệnh bắt Pemper. Pemper trải qua hai tuần thê thảm trong xà lim dưới trại lính SS. Anh không bị tra tấn, nhưng bị hỏi cung thường xuyên bởi các điều tra viên Cục 5 và hai thẩm phán SS. Anh ngỡ như đọc được trong mắt họ kết luận rằng an toàn nhất là bắn anh. Và một hôm khi bị thẩm vấn về kế hoạch ứng phó khẩn cấp của Płaszów, Pemper hỏi lại, “Các ông giữ tôi làm gì? Tù nào chả là tù. Đằng nào tôi cũng chịu án chung thân rồi.” Lập luận ấy được tính toán nhằm chấm dứt câu chuyện: hoặc là được phóng thích, hoặc nhận một viên đạn. Kết thúc phiên hỏi cung, Pemper trải qua vài tiếng đồng hồ thấp thỏm cho đến khi cửa xà lim mở ra. Anh được trả về lán. Tuy nhiên, đây chưa phải là lần cuối anh bị thẩm vấn về Commandant Goeth. Dường như sau vụ bắt giữ, thuộc cấp của Amon không vội vàng bảo chứng cho gã. Tất cả đều thận trọng, Và chờ đợi. Bosch, kẻ đã uống vô khối rượu của Amon, bảo Untersturmführer John rằng hối lộ những điều tra viên cứng rắn của Cục 5 là điều rất mạo hiểm. Về

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 88

Đang tải bình luận...