phần căn nguyên thất bại đến từ nết không chịu ngồi yên và khó khép mình vào khuôn khổ của Oskar. Năm đó, hay tin ông gặp khó khăn, các Schindlerjuden từ Israel mời ông đến chơi và đài thọ mọi chi phí. Báo tiếng Ba Lan ở Israel đăng tin nhắn mời các cựu tù của Trại tập trung Brinnlitz, những người từng biết “Oskar Schindler người Đức”, liên hệ với tờ báo. Ở Tel Aviv, Oskar được chào đón nồng nhiệt. Con cái sinh sau chiến tranh của các cựu tù xúm xít vây quanh ông. Ông béo ra, khuôn mặt cũng nặng nề hơn. Nhưng tại những buổi chiêu
đãi, người quen cũ đều nói ông vẫn là Oskar hào sảng ngày xưa. Giọng đùa gầm gừ sắc sảo, nét phong lưu hào nhoáng kiểu Charles Boyer, tửu lượng như hũ chìm, tất cả vẫn vẹn nguyên sau hai lần phá sản. Đó lại là năm xét xử Adolf Eichmann, và việc Oskar đến Israel thu hút sự chú ý của báo giới quốc tế. Trước ngày khai mạc phiên tòa phóng viên tờ Daily Mail London đã viết một bài về sự tương phản trong lý lịch của hai nhân vật và trích lời nói đầu từ bức thư ngỏ của các Schindlerjuden kêu gọi giúp đỡ Oskar: “Chúng ta không quên nỗi đau Ai Cập, chúng ta không quên Haman (87) , chúng ta không quên Hitler. Nhưng, bên cạnh quân tà ác, chúng ta cũng không quên những người chính trực. Hãy nhớ Oskar Schindler.” Một số người sống sót sau Holocaust tỏ ý nghi ngờ tính xác thực của một trại lao động nhân đạo như của Oskar, và nỗi hoài nghi ấy được phản ánh qua một phóng viên dự cuộc họp báo với Schindler ở Jerusalem. “Ông giải thích thế nào,” anh này hỏi, “về việc ông quen biết hết giới sĩ quan SS cao cấp tại Cracow và thường xuyên làm ăn với chúng?” “Vào giai đoạn lịch sử ấy,” Oskar nói, “thảo luận về số phận người Do Thái với đức Chưởng giáo Jerusalem là điều hơi khó khăn.” Bộ phận Xác minh của Yad Vashem, vào cuối thời gian Oskar định cư ở Argentina, đã tìm đến và nhận được bản tường trình do ông cung cấp về hoạt động của mình tại Cracow và Brinnlitz. Giờ đây, chủ động và dưới tác động của Itzhak Stern, Jakob Sternberg và Moshe Bejski (khi xưa là chuyên gia làm giả con dấu cho Oskar, nay là một luật sư uyên bác và khả kính), Ủy ban Thác quản của Yad Vashem bắt đầu cân nhắc một hình thức tôn vinh chính thức dành cho Oskar. Chủ tịch Ủy ban là Thẩm phán Landau, chánh án tại phiên tòa xét xử Eichmann. Yad Vashem tìm kiếm và thu về rất nhiều lời chứng về Oskar. Trong số lượng lớn những đánh giá này, có bốn là phê phán. Mặc dầu cả bốn nhân chứng đều thừa
nhận, nếu không có Oskar thì bọn họ đã chết, họ vẫn phê phán cách thức kinh doanh của ông trong những tháng đầu cuộc chiến. Hai trong số bốn lời chúng tiêu cực ấy là của hai bố con, được nhắc tới trong phần đầu dưới cái tên C. Oskar đã đưa tình nhân của ông, Ingrid, vào làm Treuhänder (quản lý) ở đại lý đồ tráng men của họ tại Cracow. Lời chứng thứ ba từ thư ký củaC, nhắc lại cáo buộc ông dùng nắm đấm và hăm dọa, những tin đồn mà Stern đã thông tin lại với Oskar từ năm 1940. Cuối cùng là một người khẳng định có cổ phần ở nhà máy tráng men của Oskar trước chiến tranh, khi nó mang tên cũ là Rekord, song Oskar đã phớt lờ quyền lợi của ông ta. Thẩm phán Landau và Ủy ban của ông chắc đã xem bốn cáo buộc này là không đáng kể khi đặt cạnh vô vàn lời chứng của các Schindlerjuden khác, và họ không bình luận gì. Dù gì đi nữa, cả bốn vẫn thừa nhận Oskar đã cứu mạng họ, nên người ta bảo Ủy ban đã đặt câu hỏi tại sao, nếu đã gây tội lỗi với những người này, Oskar còn vượt bao gian truân khổ ải để cứu họ làm gì. Thành phố Tel Aviv là nơi đầu tiên vinh danh Oskar. Vào sinh nhật thứ năm mươi ba của Oskar, ông khánh thành tấm bia tại Công viên Anh hùng. Văn tự trên bia ca ngợi ông cứu mạng 1.200 tù nhân tại AL Brinnlitz, và tuy nó chưa phản ánh hết, về mặt số lượng, thành tích thật sự của ông, nó tuyên bố tấm bia được dựng lên bằng tình yêu và lòng biết ơn. Mười ngày sau, ở Jerusalem, Oskar được phong là Người Hiệp nghĩa, một danh hiệu đặc hữu của Israel, bắt nguồn từ một giả thuyết xa xưa của chủng tộc Hebrew, rằng giữa biển người phi Do Thái, Chúa Trời luôn ban tặng cho họ một mẻ những người chính trực. Oskar còn được mời trồng một cây carob trên Đại lộ Hiệp nghĩa dẫn tới Bảo tàng Yad Vashem. Ngày nay cây vẫn còn, có gắn biển, sánh vai cùng cây mang tên nhiều người Hiệp nghĩa khác. Tại đây còn có cây của Julius Madritsch, người đã liều lĩnh nuôi dưỡng và bảo vệ công nhân của mình theo một cách chưa hề nghe đến tại các nhà
máy của Krupp và Farben, và một cây của Raimund Titsch, quản đốc của Madritsch ở Płaszów. Trên triền đồi sỏi đá này, hiếm có cây lưu niệm nào mọc cao hơn ba mét. Truyền thông Đức đưa tin về thành tích thời chiến của Oskar và các nghi lễ ở Yad Vashem. Những tin bài ấy, dù luôn tán tụng, không làm cuộc sống của ông dễ dàng hơn. Ông bị phỉ nhổ, bị ném đá trên đường phố Frankfurt, một tốp công nhân giễu cợt ông và nói ông nhẽ ra phải bị hỏa thiêu cùng bọn Do Thái. Năm 1963, ông đấm một công nhân, kẻ gọi ông là “đồ bợ đít Do Thái”, và bị y kiện vì tội hành hung. Tại tòa án địa phương, nấc thấp nhất ở hệ thống tư pháp Đức, Oskar được viên chánh án giáo huấn một bài trước khi phạt ông bồi thường thiệt hại. “Lẽ ra tôi đã tự sát,” Oskar viết cho Henry Rosner ở Queens, New York, “nếu điều đó không làm chúng hả hê đến thế.” Những lăng nhục ấy càng gia tăng sự phụ thuộc của ông vào các cựu tù. Họ là bảo đảm duy nhất về tình cảm lẫn tài chính cho Oskar. Suốt phần đời còn lại, mỗi năm ông lại đến với họ vài tháng, sống trong an nhàn và trân trọng giữa Tel Aviv hay Jerusalem, ăn miễn phí ở một nhà hàng Rumania trên phố Ben Yehudah, Tel Aviv, dẫu đôi khi vẫn bị Moshe Bejski, vì lòng hiếu thuận, cố hạn chế tửu lượng của ông xuống ba ly đúp cognac một tối. Nhưng rốt cuộc, ông vẫn luôn phải trở về với nửa kia của tâm hồn mình: con người bị tước đoạt hết thảy; căn hộ chật chội, tồi tàn chỉ cách nhà ga Frankfurt vài trăm mét. Viết thư từ Los Angeles cho các Schindlerjuden khác trên đất Mỹ vào năm ấy, Poldek Pfefferberg kêu gọi tất cả các cựu tù quyên góp ít nhất một ngày lương cho Oskar Schindler, người, theo lời anh, đang trong tình trạng “chán chường, cô đơn, vỡ mộng”. Mối liên hệ của Oskar và các Schindlerjuden được duy trì định kỳ hằng năm. Đó là một sự luân chuyển theo mùa - nửa năm là cánh bướm Israel, nửa năm là con sâu Frankfurt. Ông thường xuyên túng thiếu.
Một Ủy ban ở Tel Aviv, với Itzhak Stern, Jakob Sternberg và Moshe Bejski là thành viên, tiếp tục vận động chính quyền Tây Đức dành cho Oskar một khoản trợ cấp tương xứng. Căn cứ của họ là những hành động anh hùng của Oskar trong thời chiến, những tài sản ông đã mất, và sức khỏe yếu ớt của ông lúc này. Phản ứng chính thức đầu tiên của chính phủ Đức, mặc dầu vậy, lại là trao tặng ông Huân