hồi vào xe hàng. Trong một cử chỉ đặc biệt tử tế, người lính SS có nhiệm vụ tách trẻ con ra riêng đã cho Olek chung toa với Henry. Tàu đông tới nỗi tất cả đều phải đứng, nhưng khi bắt đầu có người chết vì lạnh và khát, một tù nhân mà Henry mô tả là “một người Do Thái khôn ngoan” bèn cho xác họ vào chăn và treo lên những móc buộc ngựa trên trần. Như thế sẽ có thêm chỗ cho người sống. Để cậu bé được thoải mái, Henry nảy ra ý treo Olek trong chăn đúng như vậy. Nhờ thế cậu bé vừa có một hành trình dễ chịu hơn, vừa có thể, khi dừng ở ga hoặc các đoạn tàu tránh, xin lính Đức bên dưới vê tuyết ném lên lưới sắt trên mái. Tuyết vỡ ra sẽ phát tán hơi ẩm vào lòng toa, và tù nhân sẽ tranh nhau vài mẩu vụn băng.
Mất bảy ngày tàu mới tới Dachau, và một nửa trên toa của Rosner đã chết. Khi tàu rốt cuộc cũng dừng bánh và mở cửa, một xác chết rơi ra, còn Olek, vừa lồm cồm bò dậy từ trong tuyết, lập tức bẻ gãy một trụ băng bám dưới gầm tàu và liếm lấy liếm để. Điều kiện đi lại ở châu Âu tháng Một năm 1945 là như thế. Đối với tốp thợ mỏ ở Goleszów tình hình còn thảm hơn. Vận đơn cho hai toa hàng chở họ, hiện được lưu giữ trong tàng thư ở Yad Vashem, cho thấy hơn mười ngày liền họ không được ăn uống gì, cửa toa bị băng đóng chặt. R, một cậu bé mười sáu, nhớ lại, họ phải cào băng đóng ở mặt trong toa tàu ăn cho đỡ khát. Đến Birkenau họ cũng không được xuống. Guồng máy sát nhân đang vào những ngày cuối cùng điên cuồng nhất. Nó không có thời gian cho họ. Họ bị bỏ mặc ở đoạn tàu tránh, nối lại vào đầu máy, lê đi năm mươi dặm rồi lại tháo ra. Họ được kéo đến trước các cổng trại, nơi những viên Commandant từ chối nhận họ vì lý do hiển nhiên là đến giờ họ đã không còn chút giá trị sản xuất nào, và vì đằng nào thì ở khắp nơi, cơ sở vật chất - giường tầng và khẩu phần - đều đã tới hạn. Tờ mờ sáng một ngày cuối tháng Một, họ bị tháo ra và bỏ lại trên sân ga Zwittau. Oskar bảo một người bạn từ ga gọi cho ông báo ở trong toa tàu có người cào vách và kêu gào. Họ van xin bằng đủ thứ tiếng, vì những người bị nhốt, hồ sơ cho thấy, bao gồm dân Slovenia, Ba Lan, Czech, Đức, Pháp, Hungary, Hà Lan và Serbia. Nhân vật gọi điện rất có khả năng là em rể Oskar. Oskar bảo anh cho kéo hai toa tàu từ chỗ tàu tránh đến Brinnlitz. Đó là một sáng lạnh ghê hồn - ba mươi độ dưới không, theo lời Stern. Kể cả người vốn chính xác là Biberstein cũng bảo ít nhất phải là âm hai mươi độ. Poldek Pfefferberg bị dựng dậy khỏi giường, mang theo đồ hàn đến chỗ tàu tránh ngập tuyết để phá những cánh cửa đóng băng cứng như sắt. Anh cũng nghe thấy tiếng rên rỉ kinh dị từ bên trong. Thật khó lòng miêu tả cảnh tượng họ thấy khi cuối cùng
những cánh cửa cũng bật mở. Chính giữa mỗi toa là một kim tự tháp xác người đông cứng, tứ chi cong queo ghê người. Hơn một trăm người sống sót bốc mùi kinh khủng, đen sì vì bỏng lạnh, chỉ còn da bọc xương. Không một ai nặng quá ba mươi lăm cân. Oskar không có mặt. Ông đang ở nhà máy, nơi một góc ấm áp dưới tầng trệt được chuẩn bị sẵn sàng để đón đoàn người từ Goleszów. Tù nhân dỡ nốt những cỗ máy cuối cùng bị Hoffman bỏ lại và mang xuống ga ra. Rơm được đưa vào rải lên sàn. Schindler đã kịp lên đặt vấn đề với Liepold. Viên Untersturmführer không muốn nhận nhóm người từ Goleszów; về điểm này, y giống hệt những Commandant khác mà họ đã gặp mấy tuần qua. Liepold đưa ra lập luận sắc bén rằng không ai có thể giả vờ coi những người này là công nhân đạn dược. Oskar thừa nhận điều này, song cam kết đưa họ vào danh sách, đồng nghĩa với việc trả mỗi ngày 6 RM cho một người. “Tôi có thể sử dụng họ khi họ đã hồi phục,” Oskar nói. Liepold nhận thấy hai khía cạnh của vấn đề. Thứ nhất, y không thể ngăn cản Oskar. Thứ hai, tăng quy mô Brinnlitz và kèm theo đó là tăng phí nhân công sẽ làm hài lòng Hassebroeck. Liepold sẽ đưa tên họ vào sổ và ghi ngày nhập trại sớm lên, nghĩa là khi họ còn đang được khiêng vào cổng nhà máy, Oskar đã phải trả tiền cho họ rồi. Vào trong xưởng, họ được quấn chăn và nằm nghỉ trên nệm rơm. Emilie từ nhà đi xuống, theo sau là hai tù nhân khiêng một xô cháo khổng lồ. Bác sĩ nhận thấy dấu hiệu bỏng lạnh và cần phải có kem trị bỏng. Bác sĩ Biberstein lưu ý Oskar rằng họ sẽ cần vitamin, dù ông e rằng khó mà kiếm nổi ở Moravia. Trong khi đó mười sáu thi thể đóng băng được đưa vào lán. Giáo sĩ Levartov nhìn họ, và biết rằng với tứ chi cong queo vì lạnh như vậy, sẽ khó lòng chôn cất họ theo đúng nghi thức Chính thống, vốn không cho phép làm gãy xương người chết. Tuy nhiên việc này, Levartov biết, đòi hỏi phải thuyết phục viên Commandant. Trong các chỉ thị của Cục D gửi Liepold có ghi rõ
phải nhanh chóng xử lý xác chết bằng cách hỏa thiêu. Phòng đặt nồi hơi là phương tiện hoàn hảo, lò luyện kim đủ sức làm bốc hơi thi thể. Thế nhưng Schindler đến nay đã hai lần từ chối việc hỏa thiêu người chết. Lần thứ nhất là khi Janka Feigenbaum mất tại bệnh xá của Brinnlitz, Liepold ngay lập tức ra lệnh hỏa thiêu. Qua Stern, Oskar biết rằng nhà Feigenbaum và Levartov đều bi phẫn trước việc này, và thái độ phản đối của Oskar có lẽ được nhen nhóm bởi chút tàn dư Công giáo trong tâm hồn ông. Đó là thời kỳ Nhà thờ Công giáo gay gắt phản đối hình thức hỏa táng. Đồng thời với việc từ chối để Liepold sử dụng lò luyện, Oskar ra lệnh cho thợ mộc chuẩn bị quan tài, còn bản thân ông cung cấp xe ngựa, để Levartov và tang gia đưa thi hài ra chôn cất ngoài rừng dưới sự giám sát của lính gác. Hai bố con Feigenbaum đi sau xe tang, vừa đi vừa đếm bước từ cổng trại, để khi chiến tranh kết thúc còn tìm lại được thi hài Janka. Nhân chứng kể rằng Liepold nổi giận trước hành vi nuông chiều tù nhân này. Một số cư dân Brinnlitz còn bình luận rằng Oskar đối với Levartov và nhà Feigenbaum bằng một thái độ nhẹ nhàng và lịch thiệp còn hơn cả bình thường ông đối với Emilie. Lần thứ hai Liepold muốn sử dụng lò luyện là khi bà cụ Hofstatter mất. Oskar, đáp ứng đề nghị của Stern, cho đóng một cỗ quan tài khác, cho phép khắc một tấm bia kim loại ghi tiểu sử bà cụ bỏ vào quan tài. Levartov và một nhóm mười tráng đinh tụng kinh Kaddish cho người chết, được phép rời trại để tiến hành tang lễ. Stern bảo rằng vì bà Hofstatter mà Oskar xây dựng một nghĩa trang Do Thái trong xứ đạo Công giáo ở Deutsch-Bielau, một làng lân cận. Theo lời ông, Oskar đến nhà thờ đúng ngày Chủ nhật khi bà Hofstatter mất và nêu đề xuất với cha xứ. Hội đồng xứ đạo họp gấp và đồng ý bán cho Oskar một mảnh đất nhỏ ngay ở ngoài nghĩa trang Công giáo. Chắc như đinh đóng cột rằng một số
thành viên hội đồng phản đối, bởi đó là thời kỳ Luật Giáo hội được diễn giải rất ngặt nghèo đối với việc ai được và ai không được chôn cất ở đất thiêng. Tuy nhiên, một số tù nhân cũng đáng tin cậy khác bảo rằng lô đất làm nghĩa trang được Oskar mua khi chuyến tàu từ Goleszów xuất hiện, với một