hồi là không thể. Jarrod Wilcox quan sát thấy rằng: “Khi bắt đầu thua, rõ ràng là họ còn ít tài sản trong tay nên họ cần phải giảm biện pháp đòn bẩy tài chính của mình xuống. Nhưng thay vào đó, họ lại kích đòn bẩy tăng lên tới 60 lần. Đó là sai lầm khủng khiếp. Không một tay cờ bạc nào ở Las Vegas lại phạm sai lầm lớn đến thế - không một ai sống sót nổi." Khi tin tức về các rắc rối liên quan đến quỹ lan rộng ra, nhiều người bắt đầu lo lắng. Cục dự trữ liên bang Mỹ lo sợ rằng sự sụp đổ của LTCM sẽ làm nguy hại đến toàn bộ nền kinh tế thị trường. Các ngân hàng đầu tư lớn nhất thế giới của phương Tây đều là đối tác làm ăn của LTCM. Người ngoài cuộc đầu tiên được mời xem xét "Tổng thể rủi ro" là Peter Fisher của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ ở New York. Trong cuộc họp khẩn cấp vào chủ nhật ngày 12 tháng 9, Larry Hilibrand, người của LTCM đã phát các bản báo cáo cho Fisher. Khi đọc, Fisher cảm thấy khủng hoảng. Tài liệu khá là đơn giản. Nó tóm tắt tình trạng của LTM, tưởng thuật lại các nguy cơ thua lỗ trong "cơn bão kéo dài một năm" này - thua lỗ khi giá cả hoặc lãi suất sai lệch một lượng bằng với lượng bất ổn trung bình hằng năm.
Đó là trường hợp tồi tệ nhất và cũng là duy nhất có khả năng xảy ra. Một trong những điều kinh hoàng chính là bài viết thứ năm có tựa đề "Đồng đô la Mỹ - sự đánh đổi lan nhanh". Bài này tường thuật lại những thương vụ đặt cược vào quá trình gia tăng trao đổi đồng đô la Mỹ. Sự lan nhanh này đã lên tới 15 điểm. Nếu sự lan rộng này tiếp tục tăng 15 điểm thì nguy cơ thua lỗ của quỹ sẽ là con số chóng mặt: 240 triệu đô ta. Điều này thật sự đã chôn vùi Fisher vì sự gia tăng trao đổi đồng đô Mỹ đã lên tới 40 điểm trong tám tháng rưỡi đầu năm 1998. Đó chỉ mới là bài thứ năm trên trang đầu tiên. Có tới 20 bài viết trên mỗi trang, và tài liệu đó có tới 15 trang. Khi xem qua bảng báo cáo, Fisher cảm thấy sốc về một chuyện khác. LTCM đang tiến hành đồng loạt các thương vụ mạo hiểm tương tự nhau trên khắp thế giới. Lẽ ra là phải có sự đa dạng trong đầu tư nhưng nó lại không được như vậy. Việc vỡ nợ ở Nga đã ảnh hưởng đến thị trường tín dụng toàn cầu. Theo một tài liệu khác mà Fisher được xem, các ngân hàng và nhà môi giới lớn nhất mà LTCM đang thực hiện giao dịch - trong số đó có Merrill Lunch, Goldman Sachs, Morgan và Salomon Brothers -sẽ thua lỗ chừng 2,8 tỉ đô la nếu như LTCM đột nhiên sụp đổ. Fisher cho rằng con số này đã được giảm bớt rất nhiều. Tất cả những công ty này trông cậy vào dòng thu nhập từ LTCM nên sẽ dễ dàng lâm vào tình trạng cạn kiệt tài chình nếu quỹ này thất bại. Tất cả các ngân hàng sẽ nhanh chóng tịch thu những khoản tiền cọc hay tài sản ký quỹ hiện có và bán chúng đi, điều này càng làm giá cả rớt xuống thảm hại. Fisher dự tính rằng mức thua lỗ thực sự vào khoảng từ 3 tới 5 tỉ đô la. Ông nói "Tôi không lo là thị trường sẽ đi xuống, mà tôi lo rằng sẽ không còn bất cứ giao dịch nào hiện hữu nữa." Thứ Tư ngày 23 tháng 9 năm 1998 chính thức là ngày hoạt động cuối cùng của LTCM với tư cách một pháp nhân tự do. Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ ở New York đã tổ chức cuộc họp các ngân hàng và công ty đầu tư vốn là đối tác của LTCM. Họ gọi đó là liên hiệp các công ty và đã đồng ý đặt vào 3.625 tỉ đô la vào quỹ. Họ không mua dứt các khoản đầu tư của những nhà đầu tư gốc, những người vẫn tiếp tục sở hữu những khoản đầu tư mất giá trầm trọng của mình. Họ sẽ để những nhà đầu tư này tiếp tục đầu tư vào quỹ cho đến khi các khoản đầu tư ấy còn ít ảnh hưởng, tác động chậm chạp và có thể tháo bỏ một cách an toàn.
LTCM đã mất 4,4 tỉ đô la so với giá trị tài sản cao nhất mà nó từng có - tức vào khoảng 90%. Chỉ tính những người cộng tác với quỹ này thôi là đã mất khoảng 1,8 tỉ. Đó là số tiền tương đương những khoản đầu tư trước đó của họ và bây giờ, nó co dúm lại chỉ còn 28 triệu đô la. Được biết là Merton đã mất đến 100 triệu đô và ông đang cố gắng hạ mình thuyết phục Harvard đóng góp tiền đầu tư vào LTCM. Nhiều đối tác có tài sản khổng lồ trước khi đầu tư vào LTCM cũng đã để tiền vào quỹ. Larry Hilibrand được cho biết là đã khóc trong một cuộc họp báo. Ông đã tự vay 24 triệu đô la từ Credit Lyonnais để tăng tiền đóng góp vào quỹ. Ông đã áp dụng lực đòn bẩy để mua quỹ của riêng mình và quỹ này lại cũng đang vận hành với cấp số nhân khủng khiếp. Tổng tài sản của Hilibrand giảm từ khoảng 100 triệu đô xuống còn âm 20 triệu đô la tiền nợ. Hilibrand cho rằng nếu được rót vốn thêm thì khoản nợ riêng của mình sẽ được bù đắp. Nhưng liên hiệp các công ty không đồng ý. Warren Buffett không ngờ là bằng cách nào mà "10 hay 15 người với chỉ số IQ trung bình là 170" lại có thể tự đưa mình vào "chỗ trắng tay" như thế. Đó cũng giống như cảm xúc của Daniel Bernoulli khi ông viết vào năm 1738 rằng "Một người đánh liều hết tất cả tài sản của mình cũng giống như một tên cả tin khờ khạo, cho dù khoảng lợi nhuận có thể lớn đến đâu đi nữa".
"Biến cố nhiều mặt sấp" và Frankenstein Báo giới bắt đầu công kích LTCM và đặc biệt là Merton và Scholes - hai chủ nhân của giải Nobel năm 1997. Một tựa đề trên tờ Business Week có nội dung: "Khoa học về tên lửa nổ tung ngay trên bệ phóng". Còn bài của Michael Lewis trên tờ The New York Times thì viết: "Những bộ óc lỗi lạc chịu khuất phục như thế nào". Tờ Fortune cho rằng hai nhà đạt giải Nobel này đã "đổi vòng nguyệt quế để lấy giải mâm xôi trên thị trường tài chính, một điều đáng xấu hổ do bị tẩy chay và bị xem như những kẻ thua cuộc đáng tủi hổ." Các nhà báo đưa ra 3 lý do cho sự thất bại này: phương pháp đòn bẩy tài chính, quá nhiều rủi ro tiềm ẩn và tự kiêu. Nhưng không một lý do nào là lời giải thích hoàn toàn thuyết phục. Hệ thống những thương vụ liên kết chặt chẽ với nhau của LTCM phức tạp tới nỗi những con số thể hiện chính sách đòn bẩy tài chính cũng không nói lên được gì. Quỹ này công bố rằng quỹ có tỷ lệ đòn bẩy là 25,6 vào cuối năm 1996. Con số này nhỏ hơn Morgan Stanley (26,5), Lehman Brothers (33,2) và Salomon (42,5). Nhưng không một ngân hàng nào trong số đó thất bại cả. Các ngân hàng này không thất bại vì danh mục đầu tư của họ ổn định và/hoặc chúng có nhiều nguồn lực tài chính để chờ đợi những thương vụ tương đồng. Biện pháp đòn bẩy tài chính không phải lúc nào cũng xấu. Theo quy luật chung, bạn cũng không thể nói rằng, lực đòn bẩy khoảng 30 lần luôn là điều xâu. Không hẳn thế mà điều đó còn tùy. LTCM sử dụng thuật ngữ vừa quen vừa lạ "fat tails" (Tạm dịch: "biến cố nhiều mặt sấp"). Từ này có nguồn gốc từ đường cong hình chuông. Nếu bạn vẽ ra hình phân phối các khả năng xảy ra của những biến động giá cả hoặc lãi suất tiêu biểu, bạn sẽ có được đường cong hình chuông tương tự như hình phân phối thông thường trong các lớp học thống kê. Xem xét kĩ hơn, bạn sẽ thấy đường cong này có "biến cố nhiều mặt sấp". Phía cuối bên trái và phải đường cong này (ở hai mép chuông) không ôm chặt cạnh đáy của sơ đồ như trong các phân phối thông thường. Điều này đơn giản là có sự chuyển đổi lớn của giá và lãi suất - hay đó là mô hình những bước nhảy của con bọ chét của Merton -mô hình này thông dụng hơn so với các phân phối thông thường. Do đó "biến cố nhiều mặt sấp" là trường hợp cực kì hiếm khi xảy ra theo may rủi, nhưng thật sự lại là trường hợp phổ biến hơn. Có thể cả đời bạn không thấy diễn viên kịch câm nào đi trên cái xe một bánh, nhưng rồi một ngày, bạn lại xếp hàng xem cả ba
người như thế ở một quán cà phê Starbucks. Lí do: Gánh xiếc đến thành phố. Thorp phát hiện ra rằng LTCM đã xây dựng nhiều mô hình của mình chỉ dựa vào khối lượng dữ liệu trong bốn năm. Trong khoảng thời gian ngắn như vậy, chênh lệch giữa trái phiếu chính phủ và các loại trái phiếu thường khác là khoảng từ 3 đến 4 điểm phần trăm. Quỹ đầu tư đánh cược rằng khoảng cách này sẽ không bị nới rộng ra quá nhiều trong trường hợp tin tức cứ tiếp tục lan nhanh. Tuy nhiên, gần đây nhất là vào năm 1990, khoảng cách ấy đã lên tới 9%. Thorp giải thích: "Người ta cho rằng nếu mọi thứ đều nằm trong một thời hạn lịch sử nhất định thì nhất thiết sẽ có một quan hệ nhân quả ở đây". Nhưng dĩ nhiên là không có. Vào năm 1998, khi khoảng cách đột ngột gia tăng lên 6%, "họ cho đó là sư kiện ngàn năm có một. Thế nhưng một hai năm sau, khoảng cách càng rộng hơn và hai năm sau nữa, nó lại càng tăng thêm." Giả định về sự tự kiêu là lí do thuyết phục hơn cả. Trong nhiều năm, người của LTCM xuất thân từ giới cao cấp trong trường trung học ở Phố Wall. Ít ai có thể cưỡng được sự ham thích khi chứng kiến vẻ nhún nhường của những người học đòi làm sang. Theo như bản tính kiêu ngạo của những người như thế, hầu hết các bản báo cáo đều cho rằng đó chính là nét mới được thêm vào huyền thoại Frankenstein. Một người nghiện máy tính mà đảm đương các công việc về tài chính sẽ phạm sai lầm chết người khi đặt quá nhiều niềm tin vào những máy móc của mình. Cùng với sự lan truyền của những điều không đoán trước trong thế giới loài người, những mô hình ngày càng trở nên tàn lụi. Cuốn sách bán chạy nhất của Roger Lowenstein là ‘'Khi những thiên tài thất bại"( When Genius Failed) đã quy trách nhiệm rằng Merton và Scholes đã bỏ quên những đặc tính như cực kì bảo thủ, hám lợi, cướp bóc... đang ngự trị trong tâm trí của nhiều thương gia trong đời thực. Họ đã quên mất yếu tố con người. Hay như Nicholas Dunbar viết trên Inventing Money: Khi Fis(c)her Black trẻ tuổi đã vượt cây cầu bắt qua sông Charles để làm việc cùng với Scholes thì 29 năm trước đó, bộ phim "2001: A Space Odyssey" (Năm 2001, hành trình vào không gian) đã được trình chiếu ở các rạp chiếu bóng. Trong phim này, máy tính HAL phát khùng và tìm cách giết vị anh hùng. những máy chiếc máy tạo ra tiền được xứ lý bằng điện toán của LTCM cũng nổi điên như thế và đã tiêu diệt hết những người tạo ra mình.
Động lực sống còn Dù hình ảnh Frankenstein có lôi cuốn thế nào thì cũng thật khó để tạo ra một nguyên tắc đạo đức thực tiễn từ nó. Các nhà quản lý danh mục đầu tư thà từ bỏ những chiếc điện thoại di động chứ không có ý định bỏ những mô hình trên máy tính.