Cai Ghe Trong

phần của kế hoạch tinh vi đã dự tính

phần của kế hoạch tinh vi đã dự tính

phần của kế hoạch tinh vi đã dự tính đó. “Dù em nghĩ về Garrett như thế nào, cũng đừng tin tưởng hắn. Em nghĩ hắn vô tội. Nhưng cũng hãy chấp nhận là hắn có thể có tội.

Em biết chúng ta vẫn tiếp cận các hiện trường vụ án như thế nào, Sachs.” “Với một tư duy mở. Không định kiến. Tin tưởng rằng mọi cái đều có thể.” Nhưng rồi Sachs lại nhìn gã trai. Cặp mắt gã sáng rỡ, hạnh phút lướt qua hết cảnh vật này tới cảnh vật khác trong lúc điều khiển thuyền đi xuyên các con kênh, trông không giống chút nào một kẻ phạm tội vượt ngục mà y như thể một thiếu niên phấn chấn tham gia chuyến cắm trại, sung sướng và hào hứng trước những gì mình sẽ có thể khám phá sau mỗi khúc quanh của sông. “Chị ta giỏi đấy, Lincoln”, Ben nói, ám chỉ mánh khoé sử dụng chiếc điện thoại di động. Cô ấy đúng là giỏi, lincoln nghĩ thầm. Rồi anh tự nói thêm với bản thân mình: cô ấy giỏi chẳng kém tôi. Tuy nhiên anh phải nghiêm khắc thừa nhận - cũng riêng với bản thân mình thôi - rằng lần này thì cô đã giỏi hơn anh. Rhyme điên tiết với chính mình vì đã không dự tính trước điều ấy. Đây đâu phải một cuộc chơi, anh tự nhủ, đâu phải một bài tập - như cái cách anh đôi lúc vẫn thử thách Sachs khi cô đang tiến hành khám nghiệm hiện trường hay khi họ đang phân tích các chứng cứ trong la-bô của anh ở New York. Tính mạng cô đang gặp nguy hiểm. Thời gian trước khi Garrett cưỡng hiếp hoặc sát hại cô chỉ còn tính bằng tiếng đồng hồ. Anh không thể lại phạm sai lầm lần nữa. Một cảnh sát xuất hiện trên ngưỡng cửa, xách chiếc túi giấy đựng hàng của chuỗi cửa hiệu Food Lion. Nó đựng quần áo của Garrett để ở khu tạm giam. “Tốt”, Rhyme nói. “Lập bảng đi, một người nào đấy. Thom, Ben… lập bảng đi. “Tìm thấy tại hiện trường gián tiếp – cối xay.” Ben viết đi, viết đi!” “Nhưng chúng ta lập rồi mà.” Ben chỉ tấm bảng. “Không, không, không”, Rhyme quát. “Xoá hết đi. Các chứng cứ đó là giả. Garrett đã bố trí để đánh lạc hướng chúng ta. Giống hệt chỗ đá vôi trong chiếc giày hắn bỏ lại khi bắt cóc Lydia. Nếu chúng ta có thể tìm thấy chứng cứ trong quần áo của hắn - anh hất đầu chỉ cái túi – chúng ta sẽ biết Mary Beth thực sự đang ở đâu”. “Nếu chúng ta may mắn”, Bell nói.

Không phải may mắn, Rhyme nghĩ thầm, mà là nếu chúng ta giỏi. Anh bảo Ben: “Cắt một đoạn của chiếc quần – đoạn gần gấu – và chạy qua máy tách hợp chất”. Bell bước ra khỏi văn phòng, để nói với Steve Farr về việc xin tần số ưu tiên cho các máy bộ đàm mà không phải tiết lộ với cảnh sát bang những gì đang diễn ra, Rhyme đã khăng khăng đề nghị điều này. Bây giờ thì nhà hình sự học và Ben cùng chờ đợi kết quả từ máy tách hợp chất. Trong lúc chờ đợi, Rhyme hỏi: “Chúng ta có gì nữa?”. Anh hất đầu chỉ đống quần áo. “Các vết sơn màu nâu dây trên quần của Garrett.” Ben vừa xem xét vừa báo cáo. “Màu nâu sẫm. Trông còn mới.” “Màu mâu”, Rhyme nhắc lại và kiểm tra chúng. “Nhà của cha mẹ Garrett sơn màu gì?” “Tôi không biết”, Ben đáp. “Tôi đâu có nghĩ cậu là cái kho chứa thông tin vớ vẩn của Tanner’s Corner”, Rhyme lẩm bẩm. “Tôi muốn nói: Hãy gọi điện hỏi họ.” “Ồ”. Ben tìm thấy số máy trong hồ sơ vụ án. Anh ta nói chuyện với người nào đó một lát. “Đấy là cái đồ con hoang chẳng muốn hợp tác gì hết… Cha nuôi của Garrett. Dù sao thì nhà họ cũng sơn màu trắng và không có chi tiết nào sơn màu nâu sẫm.” “Vậy, có thể nơi đang giam giữ cô gái sơn màu này.” Anh chàng to béo hỏi: “Liệu có cơ sở dữ liệu nào về sơn mà chúng ta có thể đối chiếu không?”. “Ý kiến hay đấy”, Rhyme đáp. “Nhưng câu trả lời là không. Ở New York thì tôi có, tuy nhiên nó chẳng giúp gì cho chúng ta ở đây. Còn cơ sở dữ liệu của FBI lại về xe hơi. Nhưng hãy cứ tiếp tục. Có gì trong túi quần, có gì không? Đi…” Nhưng Ben đã đang đi găng tay cao su vào rồi. “Ông định bảo việc này phải không?” “Phải”, Rhyme lẩm bẩm. Thom nói: “Anh ấy vốn vẫn ghét bị đoán trước ý”. “Thế thì tôi sẽ cố gắng đoán trước ý thường xuyên hơn”, Ben nói. “A, có cái gì này.” “Cái gì?”

Ben hít hít. “Phó mát và bánh mì.” “Lại thức ăn. Giống như chỗ bích quy và…” Ben cười to. Rhyme cau mày. “Cái gì mà buồn cười?” “Đó là thức ăn - nhưng không phải cho Garrett.” “Ý cậu là thế nào?” “Chưa, tôi chưa đi câu bao giờ”, Rhyme lẩm bẩm. “Nếu muốn có cá, người ta mua, người ta nấu, người ta ăn. Câu cá thì có liên quan quái gì đến bánh sandwich nhân phó mát hả?” Đây không phải từ bánh sandwich”, Ben giải thích. “Đây là những viên chua. Mồi để đi câu. Người ta trộn bánh mì và phó mát rồi cho chúng lên men. Bọn cá ăn sát đáy rất mê món này. Bọn cá da trơn chẳng hạn. Mùi càng chua càng tốt.” Rhyme nhướn lông mày. “À, bây giờ thì chi tiết ấy hữu ích đấy.” Ben kiểm tra phần gấu lơ-vê. Anh ta phủi một chút gì đó xuống tờ phiếu đặt mua dài hạn tạp chí People, rồi soi dưới kính hiển vi. “Không có gì đặc biệt lắm”, anh ta nói. “Ngoại trừ những đốm nhỏ. Màu trắng.” “Để tôi xem.” Nhà động vật học bê chiếc kính hiển vi lớn hiệu Bausch & Lomb đến cho Rhyme. Anh nhìn vào các thị kính. “Được rồi, tốt. Chúng là các sợi giấy.” “Thế à?”, Ben hỏi. “Đấy hiển nhiên là giấy. Còn có thể là gì nữa chứ? Cũng là loại hút nước. Tuy nhiên, chẳng có manh mối nào cho thấy nguồn gốc. Bây giờ thì chỗ đất cát đó rất đáng quan tâm. Cậu lấy thêm một ít được không? Từ phần gấu lơ-vê ấy?” “Tơi sẽ cố gắng.” Ben cắt đường khâu và mở gấu ra. Anh ta phủi thêm được một ít đất cát xuống tờ phiếu. “Soi đi”, Rhyme yêu cầu. Nhà hình sự học chuẩn bị một phiến kính và đặt nó lên bệ chiếc kính hiển vi kép mà anh ta lại bê rất chắc hắn cho Rhyme nhìn. “Có nhiều đất sét. Tôi muốn nói là nhiều. Đá feldspathic, có lẽ là granite. Và… cái gì thế kia? Ồ, rêu nước.”

Ben cảm thấy rất ấn tượng. “Làm sao ông biết được tất cả những cái này?” “Đơn giản là tôi biết.” Rhyme không có thời gian để đi vào bàn luận việc một nhà hình sự học phải thông thạo về thế giới vật chất như anh thông thạo ra sao. Anh hỏi: “Trong gấu quần còn gì nữa? Cái gì kia?”. Anh hất đầu chỉ cái gì đó nằm trên tờ phiếu đặt mua tạp chí. “Cái gì bé tí màu xanh trăng trắng đấy?” “Nó từ một loài thực vật”, Ben nói. “Nhưng không phải chuyên môn của tôi. Tôi đã học về thực vật dưới nước, nhưng tôi chẳng yêu thích môn này. Tôi yêu thích những dạng sống có cơ hội chuồn đi khi người ta định sưu tầm chúng. Như thể xem chừng thượng võ hơn.” Rhyme ra lệnh: “Mô tả đi”. Ben quan sát kỹ lưỡng bằng chiếc kính lúp. “Một cái cuống hơi đỏ có một giọt chất lỏng ở đầu dưới. Trông nhơn nhớt. Đầu trên có một bông hoa trắng hình chuông… Nếu tôi phải phỏng đoán thì…” “Cậu phải làm việc đó”, Rhyme quát. “Và khẩn trương lên.” “Tôi khá chắc chắn rằng nó là một nhánh gọng vó.” “Là cái quái quỷ gì vậy? Nghe cứ như đi bắt tôm bắt cá ấy.” Ben nói: “Gọng vó cũng giống cây bắt ruồi. Loài này ăn thịt côn trùng. Chúng rất tuyệt. Thuở nhỏ, tôi từng ngồi quan sát chúng hàng tiếng đồng hồ. Cái cách chúng bắt…” “Rất tuyệt”, Rhyme châm biếm nhắc lại. “Tôi không quan tâm đến thói quen dùng bữa của chúng. Chúng hay được tìm thấy ở đâu? Điều đó sẽ rất tuyệt đối với tôi đấy.” “Ồ, khắp vùng này.” Rhyme cau có. “Vô tích sự. Mẹ kiếp. Được rồi, sau khi chạy xong mẫu vải quần hãy chạy chỗ đất cát kia qua máy tách hợp chất.” Rồi anh nhìn chiếc áo phông của Garrett đang trải rộng trên một cái bàn. “Những vết bẩn kia là gì?” Có vài vết đo đỏ bám ở chiếc áo. Ben xem xét chúng kỹ lưỡng rồi nhún vai, lắc đầu. Đôi môi mỏng của nhà hình sự học nở nụ cười giễu cợt. “Cậu thử nếm xem?” Không do dự, Ben cầm áo lên, liếm lấy một chút vết bẩn. Rhyme kêu to: “Cậu chàng khá”.

Ben nhướn một bên lông mày. “Tôi cho rằng đó là một bước đúng chuẩn.” “Chẳng đời nào tôi thèm làm như vậy đâu”, Rhyme đáp lời. “Tôi không tin ông lấy một phút”, Ben nói. Anh ta liếm lại. “Theo tôi phỏng đoán thì nước trái cây. Tuy nhiên không nói được là vị gì.” “Rồi, bổ sung vào danh sách chứng cứ đi, Thom.” Rhyme hất đầu chỉ chiếc máy tách hợp chất. “Chúng ta hãy xem kết quả phân tích mảnh vải quần, tiếp theo chạy chỗ đất cát lấy từ phần gấu.” Chiếc máy nhanh chóng cho họ biết các chất bám trên quần áo của Garrett là gì và những thứ có trong gấu quần gã: đường, lại camhene, chất cồn, dầu hoả, men nở. Lượng dầu hoả rất đáng kể. Thom bổ sung chúng vào danh sách chứng cứ và mấy người đàn ông cũng xem xét kỹ lưỡng. TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP – CỐI XAY Sơn nâu dây trên quần Cây gọng vó Đất sét Rêu nước Nước trái cây Sợi giấy Viên chua làm mồi câu Camphene Chất cồn Dầu hoả Men nở Tất cả những cái này có ý nghĩa như thế nào? Rhyme băn khoăn tự hỏi. Quá nhiều manh mối. Anh không thể nhận ra các mối quan hệ giữa chúng. Liệu đường là từ nước trái cây hay từ một địa điểm riêng biệt mà gã trai từng đến? Liệu gã đã mua dầu hoả hay gã chỉ tình cờ trốn trong một trạm xăng hay trong một kho chứa nơi người chủ cất dầu hoả? Chất cồn thì được tìm thấy trong ba nghìn sản phẩm gia dụng và công nghiệp phổ biến - từ các loại dung môi tới nước thơm xoa mặt sau khi cạo râu. Men nở chắc chắn bị dây vào tại cối xay, đó là nơi ngũ cốc được xay thành bột. Sau vài phút, ánh mắt Lincoln Rhyme lướt sang bảng chứng cứ khác.

* * * TÌM THẤY TẠI HIỆN TRƯỜNG GIÁN TIẾP - PHÒNG RIÊNG CỦA GARRETT Xạ chồn hôi Lá thông bị cắt rời khỏi cành Các bức vẽ côn trùng Ảnh chụp gia đình Ảnh chụp mary Beth Các sách về côn trùng Dây câu Tiền Chìa khoá chưa xác định Dầu hoả Ammonia Nitrate Camphene Một chi tiết nào đấy Sachs đã đề cập tới khi cô đang khám xét phòng riêng của gã trai quay lại với Rhyme. “Ben, cậu có thể mở cuốn vở kia được không, cuốn vở của Garrett ấy? Tôi muốn xem nó lần nữa.” “Ông có muốn tôi đặt vào thiết bị lật trang không?” “Không, cứ lật bằng tay thôi”, Rhyme bảo. Các bức vẽ côn trùng cứng nhắc của gã trai được lật nhanh qua: bọ gạo, nhện nước, gọng vó. Rhyme nhớ Sachs đã bảo anh rằng, ngoại trừ chiếc lọ đựng ong bắp cày – cái két an toàn của Garrett – tất cả các loài côn trùng trong bộ sưu tập của gã đều được nuôi trong những chiếc lọ đựng nước. “Tất cả bọn chúng đều là các loài thuỷ sinh.” Ben gật đầu. “Có vẻ thế”. “Hắn bị nước thu hút”, Rhyme trầm ngăm. Anh nhìn Ben. “Và loại đầu mối câu đó? Cậu nói nó dùng để câu bọn cá ăn sát đáy à?” “Viên chua ạ? Phải rồi.” “Nước mặn hay nước ngọt?” “Chà, nước ngọt. Tất nhiên rồi.” “Và dầu hỏa – thuyền cũng chạy bằng dầu hoả, đúng không nhỉ?”

“Nhiên liệu đốt đèn”, Ben trả lời. “Loại thuyền nhỏ gắn động cơ bên ngoài thân vốn vẫn sử dụng nó.” Rhyme nói: “Nếu suy nghĩ tới điều này thì thế nào nhỉ? Phải chăng hắn đang đi về phía tây bằng thuyền trên sông Paquenoke?”. Ben nói: “Có lý đấy, ông Lincoln. Và tôi cuộc rằng lượng dầu hoả nhiều vậy vì hắn đã nạp lại nhiên liệu nhiều lần – phải chạy qua chạy lại giữa Tanner’s Corner và nơi hắn giữ Mary beth. Chuẩn bị sẵn sàng các thứ cho cô ấy”. “Tư duy tốt đấy. Gọi Jim Bell vào đây, được không?” Vài phút sau, Bell quay lại và Rhyme trình bày giả thuyết cảu anh. Bell nói: “Những con bọ dưới nước đem đến cho anh cái ý tưởng ấy đấy hả?”. Rhyme gật đầu. “Nếu chúng ta biết về côn trùng, chúng ta sẽ biết về Garrett.” “Nó chẳng điên rồ hơn những điều khác tôi đã nghe ngày hôm nay”, Jim Bell nói. Rhyme hỏi: “Các anh có thuyền cảnh sát không?” “Không. Nhưng dù sao thì nó cũng không hữu ích gì cho chúng ta đâu. Anh không biết sông Paquo. Trên bản đồ nó trông giống như bất cứ con sông nào – cũng có hai bờ, cũng có cái nọ cái kia, đủ cả. tuy nhiên nó còn có đến nghìn cái vịnh nhỏ và sông nhánh nối các đầm lầy. Nếu Garrett đi theo sông Paquo hắn sẽ không đi theo dòng chảy chính, tôi đảm bảo với anh điều này. Sẽ chẳng tài nào tìm thấy hắn được.” Ánh mắt Rhyme đưa theo sông Paquenoke về phía tây. “Nếu hắn đã vận chuyển các đồ dự trữ tới địa điểm giữ Mary Beth thì nghĩa là chỗ đó có lẽ không quá xa con sông. Hắn sẽ phải đi về phía tây bao xa để tới khu vực ở được?” “Phải xa đấy. Thấy khu vực trên kia không?” Bell đặt tay vào khu vực xung quanh ôG-7. “Đó là phía bắc sông Paquo, không ai sinh sống ở đó cả. Phía nam con sông thì khá đông dân cư. Hắn chắc chắn sẽ bị phát hiện.” “Vậy ít nhất phải chừng mười dặm về phía tây?” “Anh đúng đấy”, Bell nói.

“Cái cầu kia?” Rhyme hất đầu chỉ tấm bản đồ. Anh đang nhìn ô E-8. “Cầu Hobeth ấy à?” “Dốc lên cầu như thế nào? Chính là một đoạn quốc lộ?” “Xung quanh toàn bãi rác. Nhưng cầu cao chừng bốn mươi feet nên dốc lên cầu dài. Ồ, hẵng khoan… Anh đang cho rằng Garrett sẽ phải quay lại dòng chảy chính để đi qua phía dưới cầu?” “Đúng. Vì các kỹ sư hẳn đã lấp những nhánh sông nhỏ toả ra hai bên khi họ xây dựng dốc lên cầu.” Bell gật đầu. “Ờ. Tôi hiểu rồi.” “Cử Lucy và những người khác tới đó bây giờ đi. Tới chỗ cái cầu. Và, Ben này, hãy gọi cho nhân vật kia – Henry Davett. Bảo rằng chúng ta lấy làm tiếc lại cần đến sự giúp đỡ của ông ta”. Chúa sẽ làm gì… Một lần nữa nghĩ tới Davett, Rhyme thầm nhẩm một lời cầu nguyện – tuy nó không nhắm đến bất cứ vị thần nào. Nó nhắm đến Amelia Sachs: Ôi, Sachs, hãy cẩn thận. Chỉ còn là vấn đề thời gian, sớm muộn gì Garrett cũng sẽ có cớ xin em tháo còng cho hắn. Rồi dẫn em tới nơi nào đó hoang vắng. Rồi tìm cách cướp súng của em… Đừng để những tiếng đồng hồ đang trôi qua ru em vào sự tin tưởng hắn, Sachs ạ. Đừng mất cảnh giác. Hắn có độ kiên nhẫn của loài bọ ngựa đấy.

G CHƯƠNG HAI MƯƠI TÁM arrett thông thạo các luồng nước ở đây y như một tay hoa tiêu đường sông lão luyện, gã lái cho con thuyền đi vào những chỗ có vẻ là những nhánh sông cụt nhưng rốt cuộc luôn luôn tìm thấy những lạch nước, mảnh tựa tơ nhện, dẫn họ vững vàng tiến về phía tây xuyên qua cái mê cung này. Gã lưu ý Sachs những con rái cá sông, những con chuột xạ và hải ly – những cảnh tượng hẳn khiến các nhà tự nhiên học nghiệp dư phấn khích, nhưng không gây ấn tượng gì đối với cô. Đối với cô, đời sống hoang dã là những con chuột cống, những con bồ câu và sóc sống trong thành phố - và cũng chỉ ở khía cạnh là chúng hữu ích cho công việc giám định của cô và Rhyme. “Nhìn kìa!”, Garrett kêu to. “Cái gì?” Gã chỉ một cái gì đó mà Sachs không trông thấy được. Gã nhìn chằm chằm vào một điểm gần bờ, lẫn giữa biết bao nhiêu vở kịch hết sức ngắn ngủi đang diễn ra dưới nước. Tất cả những gì Sachs có thể trông thấy là một con bọ gì đó nhảy trên mặt sông. “Gọng vó”, Garrett bảo Sachs rồi ngồi ngả người lại khi họ bơi lướt qua. Bộ mặt gã trở nên nghiêm trang. “Côn trùng, nói chung, quan trọng hơn chúng ta nhiều. Ý tôi là đối với việc giữ cho hành tinh này tiếp tục tồn tại. hãy tưởng tượng – tôi đã đọc được điều này ở đâu đó – rằng nếu ngày mai tất cả mọi người trên trái đất biến mất, thế giới vẫn tiếp tục tồn tại bình thường. Nhưng nếu côn trùng biến mất thì đời sống sẽ kết thúc nhanh chóng – nói chung, trong vòng một thế hệ. Cây cối sẽ chết hết, rồi tới các con vật, và trái đất sẽ một lần nữa biến thành khối đá tảng khổng lồ.” Mặc dù chất giọng còn của tuổi mới lớn, Garrett nói với vẻ uy quyền của một vị giáo sư và sự nhiệt tình của một người điều hành các cuộc họp tôn giáo làm thức tỉnh lại đức tin. Gã tiếp tục: “Phải, một số loài côn trùng gây hại. nhưng chỉ một số thôi, một hay hai phần trăm gì đó”. Bộ mặt gã trở nên sinh động và gã tự hào nói: “Và những loài phá hoại mùa màng, chà, tôi có cái ý tưởng này. Nó khá

thú vị đấy. Tôi muốn nuôi loài rệp mắt vàng đặc biệt ấy, để kiềm chế các loại gây hại, thay thế cho các hoá chất độc - như vậy các loài côn trùng hữu ích và các loài động vật khác không bị tiêu diệt. Rệp mắt vàng là lựa chọn tốt nhất. Chưa ai từng làm việc này.” “Cậu nghĩ là cậu có thể làm à, Garrett?” “Tôi chưa biết chính xác phải làm thế nào. Nhưng tôi sẽ học cách.” Sachs nhớ lại một chi tiết cô đã đọc được trong cuốn sách của Garrett, thuật ngữ do E. O. Wilson đưa ra, biofilia – cái tình cảm gắn bó mà con người cảm thấy đối với các loài sinh vật khác trên trái đất. Và trong lúc lắng nghe gã nói những chuyện vặt vãnh này - tất cả đều là bằng chứng cho niềm say mê trước thiên nhiên và sự hiểu biết – cô có một ý nghĩ lấn át mọi ý nghĩ khác: bất cứ ai có thể bị các loài sinh vật cuốn hút và có thể yêu thương chúng, theo cái cách kỳ quặc như gã, thì không thể là một kẻ cưỡng dâm và sát nhân được. Amelia Sachs bám chặt lấy ý nghĩ này và nó giúp cô không lung lay tinh thần trong lúc họ điều khiển con thuyền đi theo sông Paquenoke, chạy trốn khỏi Lucy Kerr và gã đàn ông bí ẩn mặc quần yếm màu nâu vàng, chạy trốn khỏi thị trấn Tanner’s Corner bình dị đang đầy nỗi lo sợ. Chạy trốn khỏi Lincoln Rhyme nữa. Chạy trốn khỏi cuộc phẫu thuật sắp tới và những hệ quả kinh khủng nó có thể đem đến cho cả hai người. Con thuyền hẹp êm ả lướt qua các phụ lưu, dòng nước chẳng còn màu đen thẫm mà bây giờ là màu vàng kim, như một kiểu đổi màu ngụy trang - phản chiếu ánh tà dương – y hệt cái giống châu chấu Pháp Garrett đã kể cho Sachs nghe. Cuối cùng, gã trai lái thuyền ra khỏi các sông nhánh và vào sông chính, men sát bờ, Sachs ngoái nhìn đằng sau, về phía đông, xem có thuyền cảnh sát nào truy đuổi không. Cô chẳng nhìn thấy gì ngoại trừ chiếc xà lan to tướng của Công ty Davett đang ngược dòng - chạy trái đi hướng vào một cái vịnh nhỏ. Qua cành lá một cây liễu buông loà xoà trên mặt sông, gã dõi ánh mắt về phía tây tới chiếc cầu bắc ngang sông Paquenoke. “Chúng ta phải đi phía dưới cầu”, Garrett nói. “Chúng ta không thể đi vòng xung quanh được.” Gã cẩn thận quan sát gầm cầu. “Cô

có trông thấy ai không?” Sachs nhìn. Cô trông thấy vài chớp sáng. “Có lẽ. Tôi không thể nói chắc chắn. Chói quá.” “Đó là nơi lũ khốn kiếp đang đợi chúng ta”, Garrett lo lắng nói. “Tôi luôn luôn e ngại chiếc cầu. Người ta tìm kiếm cô.” Luôn luôn? Garrett cho thuyền cập bờ và tắt máy. Gã trèo ra, tháo bù–loong gắn động cơ vào thuyền, rồi tháo động cơ giấu giữa những búi cỏ, cùng với bình xăng. “Cậu đang làm gì vậy?”, Sachs hỏi. “Không thể để xảy ra nguy cơ bị phát hiện được.” Garrett đưa chiếc hộp giữ lạnh và các bình nước ra khỏi thuyền, rồi buộc hai mái chèo vào ghế ngồi bằng hai đoạn dây thừng đầy dầu mỡ. Gã dốc hết nước ra khỏi sáu bình, đậy nắp lại, bỏ chúng sang bên. Gã hất đầu chỉ các chai nước. “Tệ quá. Mary Beth thì không có một giọt nào. Cô ấy sẽ cần có ít nước. Nhưng tôi có thể lấy cho cô ấy từ cái ao gần ngôi nhà đó.” Rồi gã lội xuống sông, tay túm mạn thuyền. “Hãy giúp tôi nào”, gã nói. “Chúng ta phải lập úp nó.” “Chúng ta sẽ đánh chìm nó à?” “Không. Chỉ lật úp nó thôi. Chúng ta sẽ cho các cái bình rỗng xuống bên dưới. Nó sẽ nổi.” Lật úp à?” “Tất nhiên.” Sachs nhận ra ý đồ của Garrett. Họ sẽ chui xuống bên dưới chiếc thuyền và trôi qua gầm cầu. Từ trên cầu, khó có thể phát hiện thân thuyền màu sẫm ngập sâu trong nước. Vượt được vị trí đó rồi, họ có thể lật lại thuyền và chèo nốt quãng đường đến chỗ Mary Beth. Garrett mở chiếc hộp giữ lạnh, tìm thấy một cái túi nhựa. “Chúng ta có thể bỏ các thứ không muốn bị ướt vào đây.” Gã bỏ vào cuốn sách của gã, Thế giới thu nhỏ. Sachs bỏ ví và súng. Cô giắt áo phông vào trong quần bò, rồi thả cái túi vào phía trước áo. Garrett nói: “Cô có thể tháo còng cho tôi được không?”. Gã giơ đôi bàn tay ra. Sachs lưỡng lự. “Tôi không muốn chết chìm”, Garrett nói, ánh mắt cầu khẩn.

Tôi sợ. Bắt hắn ngừng bắn đi! “Tôi sẽ không làm gì xấu đâu. “Tôi hứa.” Sachs miễn cưỡng rút chìa khoá từ túi quần ra, mở còng.       † † † † †       Những người Anh điêng Weapemeoc, tức những người bản xứ của khu vực bây giờ là Bắc Carolina, xét về mặt ngôn ngữ, đã cấu thành nên dân tộc Algonquin và có họ hàng với các bộ tộc Powhatans, Chowans và Pamlico ở vùng Trung – Đại Tây Dương của nước Mỹ. Họ là những người chủ trang trại xuất sắc và khiến các bộ tộc Anh điêng khác phải ghen tỵ vì tài câu cá. Họ yêu chuộng hoà bình một cách thái quá và hầu như không quan tâm đến chuyện trang bị vũ khí. Ba trăm năm trước, khoa học gia người Anh đã viết: “Vũ khí mà họ có chỉ là những chiếc cung làm bằng gỗ phỉ, những mũi tên làm bằng thân sậy. Họ cũng không có bất cứ thứ gì để bảo vệ mình, ngoại trừ tấm mộc làm bằng vỏ cây cùng với áo giáp được đan bởi que giẽ và các loại sợi.” Phải nhờ tới những người thực dân Anh họ mới được biến thành chiến binh, và những người thực dân Anh đã thực hiện điều này khá hiệu quả bằng cách, cùng một lúc, vừa đe doạ họ rằng Chúa Trời sẽ phẫn nộ nếu họ không cải sang Cơ Đốc giáo, vừa tàn sát dân số của họ với việc đem đến bệnh cúm và đậu mùa, vừa đòi hỏi họ cung cấp lương thực, thực phẩm, nhà cửa – những thứ mà bản thân mình quá lười biếng không tự tạo ra, vừa giết chết một trong số các thủ lĩnh được yêu quý của bộ tộc, Wingina, người mà những người thực dân đã tin tưởng một cách sai lầm, như thực tế xảy ra cho thấy, đang âm mưu tấn công vào khu vực người Anh định cư. Trước sự ngạc nhiên đầy tức tối của những người thực dân, thay cho việc đức Chúa Jesus bước vào trái tim mình, những người Anh điêng đã tuyên bố lòng trung thành đối với các vị thần của chính họ - các Maniou – và rồi tuyên bố cuộc chiến chống lại người Anh, mà hành động mở màn (theo lịch sử do cô gái trẻ Mary Beth McConnell

viết) là cuộc tấn công vào Những Người Thực Dân Biến Mất trên đảo Roanoke. Sau khi những người định cư tháo chạy, bộ tộc Weapemeoc – dự đoán rằng người Anh sẽ củng cố lực lượng – đã có cái nhìn mới mẻ về vũ khí và bắt đầu sử dụng đồng, vốn dĩ chỉ được sử dụng cho mục đích trang trí, vào việc sản xuất vũ khí. Đầu mũi tên làm bằng kim loại sắc hơn đầu mũi tên làm bằng đá lửa, và dễ dàng chế tạo hơn. Tuy nhiên, khác với trong phim ảnh, một mũi tên bắn đi từ cây cung không có rãnh kéo dây thông thường không cắm sâu vào da thịt được và hầu như chẳng bao giờ gây tử thương. Để kết liễu kẻ thù bị thương rồi, những chiến binh Weapemeoc sẽ hạ cú đòn cuối cùng – một cú giáng vào đầu chiếc gậy được gọi chính xác là “cây chuỳ phi thường”, mà người bộ tộc này đã rất tài tình làm ra. Một cây chuỳ phi thường chỉ là một hòn đá tròn lớn, được nhét vào đầu chẻ ra của một chiếc gậy, rồi được buộc cố định bằng dây da. Nó là một thứ vũ khí hết sức hiệu quả, và cây chùy Mary Beth McConnell đang làm lúc này, dựa trên kiến thức khảo cổ về người Anh điêng, chắc chắn cũng gây chết người chẳng kém những cây chùy - theo giả thuyết do cô xây dựng - từng đập vỡ sọ và đánh gãy răng rắc xương sống những người Anh đến định cư ở Roanoke khi họ quyết chiến trong trận cuối cùng trên hai bờ sông Paquenoke tại đại điểm bây giờ được gọi là Bến tàu kênh Nước đen. Cô làm cây chùy của mình từ hai thanh đỡ uốn cong của chiếc bàn ăn cũ kỹ. Còn hòn đá thì chính là hòn đá mà Tom, gã đồng đảng của nhà truyền giá, đã ném vào cô. Cô đặt nó giữa hai thanh đỡ và buộc bằng những dải vải xé ra từ thân áo sơ mi bò. Món vũ khí khá nặng – khoảng sáu, bảy pound – tuy nhiên nó không quá nặng đối với Mary Beth, người thường xuyên nhấc các tảng đá nặng ba mươi, bốn mươi pound trong lúc đào bới khảo cổ. Cô đứng lên khỏi đi văng và vung cây chùy vài lần, hài lòng với sức mạnh mà món vũ khí đem đến cho cô. Cô nghe thấy một âm thanh khó chịu - lũ bọ trong chiếc lọ. Nó khiến cô nghĩ tới thói quen búng móng tay đáng kinh tởm của Garrett. Cô rùng mình tức tối và giơ cây chùy lên để giáng xuống chiếc lọ ở gần nhất. Nhưng rồi Mary Beth dừng tay. Phải , cô căm ghét lũ bọ, nhưng nỗi tức giận của cô không hẳn nhằm vào chúng, mà là nhằm vào

Garrett cơ. Cô bỏ mặc những chiếc lọ, bước tới trước cánh cửa, giáng mấy phát. Chà, cô cũng không chờ đợi điều đó. Nhưng quan trọng là cô đã buộc hòn đá vào đầu chuỳ rất chắc chắn. Nó không bị tuột ra. Tất nhiên, nếu nhà truyền giáo và gã Tom kia quay lại với một khẩu súng, cây chùy sẽ không có tác dụng chống đỡ mấy. Nhưng Mary Beth quyết định rằng trong trường hợp bọn chúng vào được cô sẽ giấu cây chùy đằng sau lưng và đứa đầu tiên động đến cô sẽ vỡ sọ. Đứa kia có thể sẽ giết chết cô, dù sao thì cô cũng đưa được một đứa đi theo mình. (Cô hình dung đây chính là cách Virginia Dare đã hy sinh.) Mary Beth ngồi xuống, nhìn ra bên ngoài cửa sổ, nhìn vầng tà dương đang xuống đến hàng cây nơi cô phát hiện thấy nhà truyền giáo lần thứ nhất. Cái cảm giác đang lan khắp người cô là gì? Cô nghĩ nó là sự sợ hãi. Nhưng rồi cô đi tới kết luận rằng nó hoàn toàn chẳng phải sự sợ hãi. Mà nó là nỗi sốt ruột. Cô mong muốn kẻ thù của mình quay lại. Mary Beth nhấc cây chùy đặt lên đùi. Hãy sẵn sàng đi, gã Tom kia đã bảo cô thế. Chà, cô sẵn sàng rồi đây.       † † † † †       “Một chiếc thuyền kìa.” Lucy vươn người về phía trước qua đám lá có mùi cay cay của một cây nguyệt quế mọc bên bờ sông, gần cầu Hobeth. Bàn tay cô đặt trên khẩu súng. “Đâu?”, Lucy hỏi Jesse Corn. “Kia kìa.” Anh ta chỉ về phía mạn trên sông. Lucy mơ hồ trông thấy được một mảng hơi thẫm màu nổi trên mặt nước, cách đấy nửa dặm. Nó đang trôi theo dòng. “Ý anh là gì, thuyền ấy à?”, Lucy hỏi. “Tôi không trông thấy… “Không, nhìn kìa. Nó bị lật úp.” “Tôi không thấy rõ”, Lucy nói. “Mắt anh tinh thật.”

“Bọn họ chăng?”, Trey hỏi. “Có chuyện gì vậy? Nó bị lật úp à?” Nhưng Jesse Corn nói: “Không, bọn họ ở phía dưới”. Lucy nheo mắt nhìn. “Làm sao anh biết.” “Chỉ là cảm giác thế thôi”, Jesse trả lời. “Phía dưới ấy có đủ không khí à”, Trey hỏi. Jesse nói: “Chắc chắn. Lòng thuyền đủ cao. Hồi nhỏ chúng tôi từng làm như vậy với những chiếc xuồng ở hồ Bambert. Chúng tôi chơi trò tàu ngầm”. Lucy nói: “Chúng ta làm gì đây? Chúng ta cần có một chiếc thuyền hoặc một phương tiện nào đấy để ra chỗ bọn họ”. Cô nhìn xung quanh. Ned tháo chiếc thắt lưng quân dụng, đưa cho Jesse. “Rõ khỉ, tôi chỉ việc bơi ra và đẩy chiếc thuyền vào bờ.” “Anh có thể bơi như thế à?”, Lucy nói. “Bọn họ đang lặn dưới nước”, Jesse nói. “Tôi không lo lắng lắm chuyện bọn họ có thể nổ súng bắn ai.” Trey lưu ý: “Bôi một chút dầu lên đạn là ngâm nước được hàng tuần”. “Amelia sẽ không bắn đâu”, Jesse Corn, người bảo vệ kẻ phản bội, nói. “Nhưng chúng ta sẽ không liều lĩnh”, Lucy đáp lời. Rồi cô quay sang Ned. “Đừng lật nó lại. Hãy chỉ bơi ra và lái cho nó trôi theo hướng này. Trey, anh đến đằng kia, bên cạnh cây liễu ấy, mang theo khẩu súng săn. Jesse và tôi sẽ ở chỗ bờ sông kia. Bọn họ sẽ nằm trong tầm ngắm của chúng ta nếu có xảy ra chuyện gì.” Ned, chân trần và không mặc áo, rón rén bước từ cái gờ cao đẩy đá tảng xuống bãi bùn. Anh ta thận trọng nhìn xung quanh – đề phòng rắn, Lucy đồ là vậy - rồi nhoài người vào làn nước. Anh ta bơi sải về phía chiếc thuyền, rất nhanh, giữ đầu cao hơn mặt nước. Lucy rút khẩu Smith & Wesson khỏi bao, hơi kéo cò. Cô liếc nhìn Jesse Corn, anh chàng đang lo lắng nhìn món vũ khí trong tay cô. Trey đứng bên cạnh một cái cây, cầm khẩu súng săn, họng súng hất lên. Anh ta để ý thấy cô đã kéo cò, liền nhét một viên đạn vào ổ khẩu Remington.

Chiếc thuyền còn cách họ chừng ba mươi feet, gần như giữa dòng. Ned là tay bơi cừ và anh ta đang thu hẹp khoảng cách nhanh chóng. Anh ta sẽ đến nơi sau… Tiếng súng nổ to và gần. Lucy giật nảy người khi đám bọt nước bắn lên không trung, cách Ned chừng vài feet. “Ôi, không!”, Lucy kêu to, giơ vũ khí ra, tìm kiếm kẻ nổ súng. “Đâu, đâu?” Trey gọi, khom mình và nắm lại khẩu súng săn. Ned lặn xuống dưới nước. Một tiếng nổ nữa. nước vọt lên không trung. Trey hạ thấp khẩu súng săn và bắt đầu bắn về phía chiếc thuyền. Những phát đạn hốt hoảng. Khẩu súng cỡ nòng 12 nạp được bảy viên đạn. Người cảnh sát bắn hết chỉ trong vòng vài giây, mỗi viên đều găm thẳng vào chiếc thuyền, làm những mảnh gỗ và nước văng tung toé. “Đừng!”, Jesse kêu lên. “Có người ở phía dưới đấy!” “Đạn bắn từ đâu vậy?”, Lucy hỏi to. “Từ phía dưới thuyền à? Hay từ phía bên kia thuyền? Tôi không biết được. Bọn họ đâu hả?” “Ned đâu?”, Trey hỏi. “Anh ấy trúng đạn à? Ned đâu?” “Tôi không biết”, Lucy hét lên, giọng khàn đi vì hoảng sợ. “Tôi chẳng tài nào trông thấy anh ấy.” Trey nạp lại đạn và một lần nữa nhắm vào chiếc thuyền. “Đừng!”, Lucy ra lệnh. “Đừng bắn. Yểm trợ cho tôi!” Lucy chạy xuống theo bờ sông, lội xuống nước. Bỗng nhiên, khi gần đến mép nước, cô nghe thấy tiếng hổn hển tắc nghẹn và Ned bập bềnh nổi lên. “Giúp tôi!” Anh ta khiếp sợ, vừa ngoảnh nhìn đằng sau vừa quờ quạng mò vào bờ. Jesse và Trey nhắm súng sang phía bờ bên kia và từ từ bước xuống sát mép nước. Cặp mắt thất thần của Jesse không rời khỏi chiếc thuyền thủng lỗ chỗ - những cái lỗ kinh khủng, vỡ toác trên thân thuyền. Lội xuống nước, Lucy cất súng vào bao và túm cánh tay Ned, lôi anh ta lên bờ. Anh ta đã lặn cho tới lúc không dám ở dưới nước nữa, nhợt nhạt và yếu ớt thiếu oxy. “Bọn họ đâu?”, Ned cố hết sức hỏi, gần như tắc thở. “Không biết nữa”, Lucy nói, lôi anh ta vào một bụi cây. Anh ta ngã nghiêng người xuống, vừa khạc nhổ vừa ho. Cô quan sát anh ta kỹ

lưỡng. Anh ta không bị trúng đạn. Trey và Jesse đến chỗ họ, cả hai đều khom mình, mắt nhìn chằm chằm sang bên kia sông, tìm kiếm kẻ tấn công. Ned vẫn đang tắc thở. “Cái nước này tởm thật. Như nước cứt.” Chiếc thuyền từ từ trôi về phía họ, bây giờ ngập phân nửa. “Bọn họ chết rồi”, Jesse Corn thì thào, đăm đăm nhìn chiếc thuyền. “Bọn họ chắc đã chết rồi.” Chiếc thuyền trôi lại gần hơn. Jesse tháo thắt lưng quân dụng ra và bắt đầu bước về phía trước. “Đừng”, Lucy nói, ánh mắt dõi sang bờ bên kia. “Để nó vào tới chỗ chúng ta.”

C CHƯƠNG HAI MƯƠI CHÍN hiếc thuyền bị lật úp trôi vào một cây tuyết tùng bật gốc đổ xuống mặt sông, rồi mắc lại ở đó. Mấy người cảnh sát đợi ít phút. Không có chuyển động nào ngoài sự dập dềnh của chiếc thuyền đã vỡ toác. Mặt nước hoe đỏ, nhưng Lucy không thể nói đấy là do máu loang ra hay đấy là do ánh tà dương rực rỡ như lửa. Jesse Corn, lo lắng và nhợt nhạt, liếc nhìn Lucy. Cô gật đầu. Cả ba người còn lại đều lăm lăm chĩa súng vào chiếc thuyền trong lúc Jesse lội ra bật ngửa nó. Vài mảnh bình nước bị xé rách tướp nổi bập bềnh và lờ lững trôi theo dòng. Không có ai ở phía dưới cả. “ Chuyện gì đã xảy ra vậy?”. Jesse hỏi. “Tôi không hiểu”. “Rõ khỉ”, Ned bực bội lầm bầm. “Bọn họ đã bài binh bố trận gạt chúng ta. Một trò mai phục chết tiệt.” Trước đó Lucy không tin rằng nỗi tức giận còn có thể chi phối cô được hơn nữa. Nhưng bây giờ thì nó đang chiếm lĩnh cô tựa dòng điện bỏng rát. Ned nói đúng. Amelia đã sử dụng chiếc thuyền giống như những con chim mồi của Nathan Groomer và mai phục họ từ bờ bên kia. “Không”, Jesse phản đối, “Cô ta không làm việc ấy đâu. Nếu cô ta có bắn cũng chỉ để dọa chúng ta thôi. Amelia là tay thiện xạ. Cô ta đã có thể bắn trúng Ned nếu muốn”. “Chết tiệt, Jesse, hãy mở mắt ra, được không?” , Lucy quát. “Bắn từ chỗ ẩn nấp um tùm như thế kia ư? Dù giỏi mấy cô ta vẫ có thể bắn trượt. Còn chuyện bắn xuống nước? Biết đâu đạn chẳng nẩy lên. Hoặc Ned có thể hoảng hốt mà bơi vào đúng chỗ một viên đạn.” Jesse Corn không đáp lời. Anh ta lấy hai lòng bàn tay chà mặt và đăm đăm nhìn sang bờ bên kia. “Được, bây giờ chúng ta sẽ làm như thế này”, Lucy hạ giọng nói. “Trời đang tối rồi. Chúng ta sẽ đi cho tới lúc nào tắt hẳn ánh sáng. Sau đó chúng ta sẽ đề nghị Jim đem đến các vật dụng cần thiết để nghỉ qua đêm. Chúng ta sẽ dựng lều ngoài trời. Chúng ta sẽ giả định

rằng bọn họ đang nhắm bắn vào chúng ta và chúng ta sẽ theo đó mà hành động. Bây giờ, hãy vượt qua cầu, tìm kiếm dấu vết bọn họ. Tất cả đã nạp đạn và khóa chốt an toàn chưa?”. Ned và Trey trả lời rồi. Jesse Corn đăm đăm nhìn chiếc thuyền vỡ toác một lát, xong rồi mới chậm chạp gật đầu. “Thế thì đi thôi”. Bốn người cảnh sát bắt đầu vượt qua cây cầu dài chừng năm mươi thước không có gì che chắn – nhưng họ không đi cụm lại với nhau. Họ đi thành hàng dài để nếu Amelia Sachs tiếp tục bắn cô ta cùng lắm sẽ chỉ bắn trúng một người, và những người kia có thể chạy tới ẩn nấp đâu đó, bắn trả. Đây là ý tưởng của Trey, anh ta học được từ một bộ phim về Chiến tranh thế giới thứ hai, và vì đây là ý tưởng của anh ta, anh ta cho rằng mình sẽ giữ vị trí đi đầu. Nhưng Lucy Kerr khăng khăng giành vị trí này.       † † † † †       “Mày suýt nữa thì bắn trúng nó.” Harris Tomel nói : “Đời nào.” Nhưng Culbeau vẫn một mực: “Tao đã bảo, chỉ dọa chúng nó thôi. Mày mà bắn trúng thằng Ned, mày biết bọn ta sẽ gặp rắc rối ra sao không?”. “Tao biết tao đang làm gì, Rich. Tin tưởng tao một chút đi, được không?” Đồ học trò chết giẫm, Culbeau tự nhủ thầm. Ba gã đàn ông đang ở bờ bắc sông Paquo, lê bước dọc một lối mòn chạy song song con sông. Thực ra, Culbeau mặc dù bực bội vì Tomel suýt bắn trúng tay cảnh sát bơi ra chỗ chiếc thuyền, gã cũng chắc chắn rằng những phát bắn tỉa đó đã có tác dụng. Lucy và lũ kia bây giờ gọi là run như dẽ và sẽ biết điều di chuyển chậm chạp. Vụ nổ súng cũng còn đem đến một lợi ích khác nữa – nó khiến Sean O’Sarian kinh hoàng và thôi mở miệng. Ba gã đi được hai mươi phút thì Tomel hỏi Culbeau: “Mày biết cái thằng nhãi đang đi theo hướng này chứ?”

“Biết.” “Nhưng mày hoàn toàn không biết hắn sẽ đi đến đâu.” “Tất nhiên không”, Culbeau nói. “Nếu tao biết thì bọn ta đã có thể đi thẳng đến đó rồi, đúng không?” Nào, đồ học trò. Hãy sử dụng cái đầu chết giẫm của mày đi. “Nhưng…” “Yên tâm. Bọn ta sẽ tìm thấy hắn”. “Tao xin ít nước được không?”, O’Sarian rốt cuộc hỏi. “Nước à? Mày muốn nước à?”. O’Sarian nói vẻ tự mãn: “Phải, đó là thứ tao đang muốn.” Culbeau ngờ vực liếc nhìn gã và đưa cho gã một cái chai. Culbeau chưa từng biết gã thanh niên gầy nhẳng này thực tế đã uống những gì khác ngoài bia, whisky và rượu lậu. Gã uống cạn, chùi cái mồm xung quanh đầy tàn nhang và lẳng cái cái chai sang bên đường. Culbeau thở dài. Gã nói với vẻ châm biếm: “Này, Sean, mày chắc chắn muốn để lại dấu vân tay trên vật gì đó dọc đường đi à?”. “Ồ, phải rồi.” Gã thanh niên gầy giơ xương vội vã chạy vào bụi rậm nhặt cái chai. “Xin lỗi”. Xin lỗi? Sean O’Sarian xin lỗi à? Culbeau hoài nghi nhìn chằm chằm

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 54

Đang tải bình luận...