Phần 5 Tháng sáu 1911. Hoa điệp thắp chói đỏ từng mảng trời thành phố Sài Gòn. Mặt đường lấm tấm những cánh hoa như xác pháo sau đêm giao thừa. Anh Ba bước chầm chậm. Những cánh hoa điệp rơi lả tả xuống dấu chân anh. Anh bâng khuâng nghĩ về lời hẹn của ông chủ sự cảng Nhà Rồng: “Ngày mồng hai tháng sáu này, tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin từ Tua-ran vào sẽ cập Bến Nhà Rồng, ở lại vài ba ngày và có thể họ tuyển thêm bồi tàu.Tôi hứa sẽ giới thiệu anh với ông thuyền trưởng Lu-i Ê-du-a Maisen…”. Anh Ba càng băn khoăn, nghĩ ngợi sẽ nói gì với cha lần gặp cuối cùng này. Liệu anh có cầm được nước mắt trước mặt cha lúc anh phải nói lên cái điều “dứt áo ra đi biệt xứ” không? Đường phố yên tĩnh và êm ả. Anh Ba hơi tần ngần trước cửa lữ quán. Một người đàn ông đã luống tuổi ngồi ngay lối vào cửa quán. Anh vừa bước lên thềm, ông ta hỏi ngay: – Anh hỏi gì? – Thưa tôi xin gặp ông bảng Nguyễn Sinh Huy ạ. Người coi quán nhìn anh Ba từ đầu xuống chân và hơi nhíu mày lúc nhác thấy anh đi dép “cu li”.
– Anh là ai mà dám gặp quan Phó bảng? – Dà… tôi là con… – Anh hổng đùa chứ? – Đâu dám! Người coi quán lại đảo mắt xuống đôi dép “cu li” dưới chân anh Ba, chưa hết ngờ vực. Nhưng lúc ông nhìn lên bắt gặp cặp mắt anh Ba sáng long lanh, ông đổi giọng: – Mời cậu ấm lên lầu. – ông chỉ tay về lối cầu thang. Anh Ba vừa đặt chân lên bậc thang gác, ông ta lại chạy tới, vồn vã: – Cậu ấm lên khỏi thang gác này thì quẹo theo hành lang phía tay trái, đến phòng có chữ Cửu treo trên cửa ra vào, cậu kéo dây chuông, nghe cậu. Anh Ba cúi đầu cảm tạ và nhẹ nhàng bước lên cầu thang gỗ đen màu sừng. Hành lang hẹp, gốc nhẵn bóng. Anh sáng lờ mờ, hành lang như can đường dưới đêm trăng lu. Anh hồi hộp dừng bước trước cửa phòng treo chữ Cửu (92). Cái dây chuông thòng lòng ngang tầm tay. Anh đưa ngón tay trỏ định kéo dây chuông nhưng thụt lại ngay và anh úp bàn tay hồng đỏ lên vầng trán nóng ran. Anh đứng dựa vào lan can một lát. Vuốt lại mái tóc, anh lại bước đến cửa, mạnh dạn kéo dây chuông rồi lại tới dựa lan can, đợi… Cánh cửa hé mở. Một ông già bước ra. Hai người cùng quan sát lẫn nhau. Anh Ba lễ phép bước đến hỏi trước: -Thưa bác, xin bác cho cháu được gặp ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Ông già nhíu đôi lông mày trắng như hai múi bông, tóc ông xếp làn sóng đổ dài xuống quá ót và bạc phơ. Bộ râu ba chòm rung rinh theo nhịp miệng, ông nói:
– Anh là người có quan hệ chi với quan lớn? – Mắt ông già không ngừng xem xét diện mạo và đôi dép “cu li” dưới chân anh Ba. Hiểu được thái độ ông già, anh Ba lễ phép thưa: – Cháu là con quan Phó bảng Huy, thưa bác. – Trời… đất! – ông già rướn cao đôi mày, ngạc nhiên chắp hai tay trước bụng. – Xin lỗi cậu ấm. Tôi đâu dè cậu là con quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. – ông bước lại gần anh Ba: – Tôi hổng đeo kiếng nên đâu có nhìn rõ! – ông chìa hai tay: – Mời cậu ấm vô ạ. Anh Ba bước vào phòng. ông già dẫn anh đến bên chiếc giường con: – Đây là nơi quan lớn nghỉ. Cậu ấm ngồi tạm. Quan lớn hiện đang dùng trà với ông cử dưới Lục tỉnh lên chơi ngoài phòng khách. Anh nhìn theo ông già, lắc đầu nói thầm: – Cha mình đã bỏ cái ghế quan trường như bỏ cái tấm giẻ rách lau chân, nhưng mọi người lại trọng vọng nó ngợp cả mắt. Tội nghiệp! Ông già trở ra, chìa tay: – Quan lớn mời cậu vô. Anh Ba cúi đầu đáp lễ và đi vào sau tấm bình phong. Phòng trà lữ quán mà ông Huy đang tiếp khách là một gian nhà vuông vức, sàn gỗ đen bóng. Bộ bàn trà kê sát cửa sổ lớn. Ngoài cửa sổ là vườn cây râm mát, bóng trúc ngoắt ngọn vào khung cửa. Hoa ngoài vườn đưa hương vào phòng trà. Ông Phó bảng Huy ngồi ở chiếc ghế kê sát cửa sổ. Màu xanh ngoài vườn trúc tỏa vào quanh nơi ông ngồi. Ông cử nhân miền Lục tỉnh ngồi đối diện. Hương chè quyện hương vườn xanh đưa vào ngọt cả không gian. o0o
Anh Ba bước vào chắp tay đằng trước cúi chào cha và khách của cha. Anh đứng nghiêm trang, tay vẫn giữ trước ngực. Ông khách chìa tay ra phía trước: – Mời cậu ấm an tọa. Anh Ba cúi đầu đáp lễ. Nhưng anh chưa được cha cho phép nên vẫn đứng nguyên vị trí. Ông Phó bảng nhìn con, giọng nghiêm mà ấm: – Quan bác đã cho phép, con ngồi vào ghế. Anh Ba bưng chiếc ghế lùi xuống một chút, không dám ngồi ngang hàng với những.người bề trên mình. Vị khách cảm mến sự lễ phép mẫu mực gia phong của anh. Ông khách ân cần mời anh uống trà. Anh Ba đỡ lấy ly trà trên tay vị khách. Ông Phó bảng giới thiệu với bạn: – Cháu là Tất Thành, con thứ ba của tôi. Ông cử miền Lục tỉnh gật gù nhưng mắt vẫn ánh lên sự băn khoăn khó hiểu về bộ quần áo vải thô và đôi dép “cu li” nhuộm vẻ phong trần của người thanh niên có khuôn mặt tuấn tú này. Anh Ba hơi bối rối. Ông khách vẫn nhìn anh Ba, và trong mắt ông lộ rõ niềm xúc động khó tả. Ông Phó bảng Huy giục con: – Thành chuyên trà mời quan bác, con! Anh Ba thay ấm trà cũ. Anh tráng ấm chén qua nước sôi và đang chuyên trà thì khách đã xin cáo lui: – Xin phép quan bác, tôi còn ở Sài thành sẽ còn tới hầu chuyện quan bác. Giờ này để quan bác và cậu ấm bàn bạc việc nhà. Ông Phó bảng đứng lên, tay chắp trước bụng. Ông cử nhân Lục tỉnh nhìn anh Ba, nói:
– Tôi đã kính mộ quan bác: một đại nhơn, đại đức. Nay tôi càng kính phục quan bác có một người con, đúng như cổ nhơn dạy: “Ty dĩ tự mục, khiêm nhi dũ quang, tiến đức tu nghiệp”. (93) Ông Phó bảng chắp tay xá ông bạn và mỉm cười. Anh Ba hơi bối rối về lời khen mình, anh lễ phép: – Thưa bác, cháu cũng chỉ học hỏi theo người xưa là “Lập nghiệp thủy ư tu thân” thôi ạ. (94) Ông cử đặt bàn tay lên vai anh Ba, nói giọng cảm phục: – Cậu ấm ơi! Hậu sanh khả úy. Hậu sanh khả úy. Nhìn thấy cậu, tôi đã nói ngay với quan bác: một con người thành nhân trước khi thành nghiệp… – Dà không dám, thưa bác, cháu chỉ là… Anh Ba chưa nói hết điều định nói, ông cử đã chắp tay xá xá đi ra… o0o Không khí trong phòng lặng ngắt. Ông Phó bảng Huy vẻ băn khoăn hỏi: – Sao con vẫn còn quanh quẩn ở đây? – Thưa cha, con sắp đi xa Tổ quốc. Con gặp cha lần này có lẽ… có lẽ… – Anh Ba rưng rưng nước mắt. Ông Huy sắc mặt biến đổi, giọng hơi dịu: – Con đi xuất dương đến nước nào? – Dạ, con sang Pháp và có thể còn đi nhiều nước khác nữa để học hỏi…
– Đế quốc Pháp là kẻ thù của Việt Nam mình, sao con lại sang Pháp để mưu việc cứu nước? – Dạ, thưa cha, con đã giãi bày với cha cái điều ấy từ