phần một món ăn của nhà hàng tại New York. — Có chứng cứ về hành vi tra tấn. — Tất cả hồ sơ lưu của lần phiên dịch cho Robert Moreno vào ngày 1 tháng 5 đã bị đánh cắp. — Không thấy điện thoại di động hay máy tính. — Có hóa đơn tính tiền tại quán Starbucks nơi Lydia chờ khi Moreno gặp riêng ai đó vào ngày 1 tháng 5. — Tin đồn về các các-ten ma túy đứng sau các vụ trừ khử này. Xem ra khó có khả năng. • Điều tra bổ sung. — Xác định nhân thân của Kẻ tố giác. — Đối tượng vô danh đã rò rỉ Mệnh lệnh Đặc nhiệm. — Gửi qua email nặc danh.
— Đã truy ra được là đi qua Đài Loan đến Romania đến Thụy Điển. Gửi từ khu vực New York trên mạng Wi-Fi công cộng, không sử dụng máy chủ chính phủ. — Dùng máy tính cũ, có lẽ từ 10 năm trước, iBook, hoặc là kiểu vỏ sò, hai tông màu trong đó có màu sáng khác (như xanh lá hoặc màu vỏ quýt). Hoặc là kiểu truyền thống, màu than chì, nhưng dày hơn nhiều so với máy tính xách tay ngày nay. — Kẻ trong xe con màu nhạt theo dõi thám tử A. Sachs. — Hiệu xe và đời xe chưa xác định. “Có vài điểm bí ẩn ở đây,” Rhyme trầm ngâm nói trong khi nhìn chằm chằm lên bảng, đắm đuối vào các dữ kiện. Anh nói như thì thầm: “Ta có thích bí ẩn không, tân binh?” “Theo tôi là có, Lincoln.” “À, cậu đúng đấy. Mà tại sao mới được?” “Bởi vì bí ẩn giúp ta, ờ thì, không tự mãn. Bí ẩn khiến ta thắc mắc và có thắc mắc thì ta mới khám phá được.” Một nụ cười. “Vậy thì ta biết gì rồi? Đầu tiên, X165. Ta có rất nhiều chứng cứ chống lại hắn - mưu sát Annette tại Bahamas, đánh bom tại quán Java Hut và mưu sát Lydia Foster. Nếu - xin lỗi, - khi ta có được nhân thân hắn, ta có thể vững vàng buộc hắn tội sử dụng chất nổ và tội mưu sát. Bây giờ đến tội âm mưu của Shales và Metzger. Ta có thể gắn kết bọn họ - cả hai làm việc cùng nhau tại NIOS - và ta đã biết mật danh của Shales, là Don Bruns, trên chỉ lệnh khử. Bây giờ
ta chỉ cần mảnh ghép cuối của bài toán xếp hình: phải chứng minh Barry Shales có mặt tại Bahamas vào ngày 9 tháng 5. Làm được điều đấy, ta có thể khép cả hai bọn họ vào tội âm mưu.” Anh tự thì thầm với mình khi nhìn chằm chằm vào bảng. “Không vật chứng nào ở đây chứng minh hắn ở đấy cả. Ta có thể chứng minh X165 có mặt tại khách sạn South Cove một ngày trước vụ nổ súng nhưng không phải là Shales.” Anh nhìn về phía Sachs. “Việc khai thác thông tin thế nào rồi - có tìm được gì về lịch sử đi lại của Shales không?” “Để tôi gọi Cục Thông tin.” Cô nhấc điện thoại của mình lên. Ta cũng không cần nhiều đâu, Rhyme suy ngẫm. Mối liên hệ thì ban hội thẩm có thể suy ra được - đó chính là mục đích của chứng cứ gián tiếp. Nhưng vẫn phải có cơ sở nào đó để đưa ra suy luận hợp lý. Ban hội thẩm có thể khép một người vào tội uống rượu đụng xe bỏ chạy, cho dù sáng hôm sau người này có tỉnh táo phủ nhận đi nữa, nếu một nhân viên pha chế cho lời khai là nghi can này đã nốc chục cốc bia một tiếng trước vụ tai nạn và ban hội thẩm xem lời khai đó là đáng tin. Bộ tiếp sóng E-Zpass trên phương tiện giao thông, thẻ tín dụng, chip RFID trong phù hiệu nhân viên, thẻ tàu điện MetroCard, hồ sơ của Cục An ninh Vận chuyển, chứng từ Hải quan, máy quay giao thông và máy quay an ninh trong các cửa hiệu… cả chục nguồn thông tin có thể dùng để chứng minh nghi can từng có mặt tại hiện trường. Anh để ý thấy Sachs đang ghi chép nhanh. Tốt. Anh có cảm tưởng họ đã bắt được vàng.
Điều gì đó sẽ gắn chặt Barry Shales vào Bahamas vào ngày 9 tháng 5. Sellitto đang nhìn sơ đồ và anh ta lặp lại suy nghĩ của Rhyme. “Phải có thứ gì đấy. Ta biết chắc Shales là kẻ bắn tỉa mà.” Amelia Sachs ngắt máy, rồi bằng một nét mặt hoang mang hiếm thấy, nói, “Thật ra thì, Lon à, hắn không phải kẻ bắn tỉa.”
59 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ Nửa tiếng sau, Nance Laurel có mặt trong căn biệt thự phố của Rhyme. “Không thể nào,” cô ta thì thầm. Sachs nói, “Hắn không phải kẻ bắn tỉa. Cô tự xem đi.” Nói rồi cô ném một số tài liệu lên cái bàn trước mặt Laurel bằng một lực mà theo Rhyme, hơi quá mạnh trong trường hợp này. Mặt khác, rõ ràng hai người phụ nữ này không hề có phận bằng hữu. Bấy lâu anh luôn nghĩ giữa họ sẽ nảy sinh một cuộc xung đột ăn miếng trả miếng, tựa hồ kẻ săn bão nhìn bầu trời đầy mây màu xanh hạt đỗ rồi nghĩ: Bão tố đang kéo đến. Điều mà Cục Thông tin của Sở cảnh sát New York phát hiện ra là Barry Shales không có mặt tại Bahamas vào ngày Moreno bị bắn. Cả ngày hôm đó hắn ở thành phố New York - thật ra đã nhiều tháng rồi hắn chưa ra nước ngoài. “Họ chạy cả chục câu truy vấn, tham chiếu chéo tất tần tật. Tôi bảo họ kiểm tra kỹ lần nữa đi. Họ kiểm tra những ba lần rồi. Quét định vị chip RFID cho thấy hắn vào trong văn phòng NIOS vào lúc 9 giờ rồi đi ăn trưa chắc vào khoảng 2 giờ. Trong thời gian đó hắn đến quán Bennigan, trả tiền bằng thẻ tín dụng. Chữ viết được chụp lại đúng là chữ viết của hắn, rồi hắn đi ra ATM - máy quay tại ATM xác nhận chính là hắn. Nhận dạng gương mặt giống đến sáu mươi điểm. Trở lại văn phòng vào lúc 3 giờ. Đi về lúc 6 rưỡi.” “9 tháng 5. Cô chắc không?”
“Khẳng định luôn.” Một tiếng động lạ, tiếng xì xì y như rắn. Tiếng thở chậm thoát ra từ miệng Nance Laurel. “Vậy ta còn gì đây?” Sachs hỏi. “Còn lại X165,” Pulaski nói. Sellitto đế thêm, “Chúng ta chẳng có chứng cứ gì cho thấy hắn là kẻ bắn tỉa cả - hắn có vẻ giống kẻ yểm trợ hoặc kẻ phi tang hơn. Nhưng chúng ta có thể truy tố hắn nhiều tội danh.” Rhyme nói, “Vậy cứ xem đây là vụ án khác. Ta quên hẳn vụ mưu sát Moreno đi. Ta hãy chứng minh Metzger phái X165 giết Lydia Foster rồi cài bom tự chế. Chí ít đấy chính là tội âm mưu. Có khả năng buộc Metzger tội mưu sát bậc hai[83].” Nhưng Laurel trông còn ngờ vực. “Đấy có phải vụ án tôi muốn đâu.” “Cô muốn?” Sachs hỏi, như thể cô nhận thấy cô phó công tố viên quận này nói chuyện cứ như một bé gái quen được nuông chiều. “Phải. Vụ án của tôi là truy tố Metzger và kẻ bắn tỉa của y về tội âm mưu thực hiện hành vi ám sát phi pháp có mục tiêu.” Giọng cô ta cất cao, thể hiện sự bực dọc mà lần đầu Rhyme nghe được. “Chỉ lệnh khử là toàn bộ cơ sở để truy tố.” Cô ta nhìn chằm chằm vào chỉ lệnh khử trên bảng trắng cứ như nó đã phản bội mình. “Ta vẫn có thể tóm Metzger,” Sachs phản pháo một cách dằn dỗi. “Còn tóm cách nào có quan trọng không?”
Tảng lờ cô, cô phó công tố viên quận xoay người bước đến trước cửa sổ trước phòng khách. Cô ta đang nhìn chằm chằm vào Công viên Trung tâm. Amelia Sachs nhìn theo sau cô ta. Rhyme biết chính xác cô đang nghĩ gì. Tôi muốn… Vụ án của tôi… Mắt Rhyme xoay sang Laurel. Cái cây cô ta đang nhìn là một cây sồi trắng đầm lầy, Quercus bicolor, một cái cây rậm rạp, không cao lắm, phát triển rất tốt tại Manhattan. Rhyme biết về nó không phải vì bản thân hứng thú đến ngành trồng trọt mà vì anh đã phát hiện một mẩu nhỏ xíu lá sồi trắng đầm lầy trong xe một gã Reggie “Hầm xí” Kelleher, một tên du côn đặc biệt ác ôn tại khu Hells Kitchen[84]. Mẩu lá này, cùng với một chút đất nhớp nhúa, đã định vị được Kelleher tại bãi đất trống trong Công viên Prospect, nơi tìm thấy xác một tên đầu sỏ ma túy Jamaica, mặc dù cái xác không có đầu. Rhyme đang tập trung vào cái cây thì ý tưởng ấy chợt lóe lên. Anh quay nhanh sang chỗ sơ đồ chứng cứ rồi nhìn chăm chăm một