phần màng qua GC/MS.” Vài phút sau anh ta đã có kết quả từ máy sắc ký khí/khối phổ kế. Cooper đọc, “DHA, C22:6n-3 - axít docosahexaenoic.” “Dầu cá,” Rhyme nói, mắt nhìn vào màn chiếu hình ảnh từ kính hiển vi. “Và với cái màng này, mọi người có thấy ở góc phải bên trên không? Tôi cho đây là trứng cá: trứng cá thường. Hoặc trứng cá muối.” “Còn có ít C8H8O3 nữa,” Cooper nói. “Tôi chịu,” Rhyme làu bàu. Việc tra cứu mất ba mươi giây. “Vanillin.” “Chất chiết xuất từ vani ư?” “Đúng vậy.” “Thom! Thom, vào đây. Cậu đang ở nơi khỉ gió nào vậy?” Giọng cậu hộ lý dạt vào phòng. “Anh cần gì?” “Cần cậu có mặt ở đây. Trong phòng.” Xắn tay áo xuống, cậu hộ lý nhập bọn. “Tôi làm sao kháng lại được lệnh triệu tập lịch sự như thế chứ?” Sachs cười.
Rhyme chau mày. “Nhìn chỗ biểu đồ kia đi, Thom. Vận dụng kỹ năng ẩm thực của cậu. Nói tôi biết suy nghĩ của cậu về những mục đấy, biết rằng axít docosahexaenoic và C8H8O3 lần lượt là trứng cá muối và vani.” Cậu hộ lý đứng nhìn các biểu đồ một hồi. Mặt cậu chuyển thành một nụ cười. “Quen lắm… Chờ chút.” Cậu đi đến một máy tính gần đó rồi truy cập báo New York Times. Cậu duyệt mạng ít lâu. Rhyme không thấy chính xác cậu ta đang xem cái gì. “Chà, hay thật.” “À, cậu chia sẻ cái đoạn hay đấy được không?” “Hai hiện trường vụ án kia - Lydia Foster và Java Hut - có dấu vết của atisô và cam thảo, đúng không?” “Đúng,” Cooper xác nhận. Cậu xoay máy tính cho họ nhìn. “Chà, kết hợp những thành phần đấy với trứng cá muối và vani là ta có một món cực đắt tiền được phục vụ tại Patchwork Goose. Gần đây có bài báo viết về chính món này trong mục Ẩm thực đấy.” “Patchwork… cái quái gì thế?” Sellitto làu bàu. Sachs nói, “Đó là một trong những nhà hàng sang trọng nhất thành phố. Họ phục vụ bảy, tám món trong bốn tiếng, món nào cũng kèm rượu. Họ làm mấy thứ kỳ quặc như nấu bằng ni tơ lỏng và đèn khò. Dĩ nhiên là tôi chưa bao giờ đến đấy.” “Đúng thế,” Thom vừa nói vừa hất đầu về phía màn hình. Đây có vẻ như là một công thức món ăn. “Và đó là một trong những món ấy: cá hồi ăn cùng atisô nấu trong nước lèo cam thảo và được trang trí
bằng trứng cá và sốt trứng vani. Hung thủ của mọi người để lại lượng nhỏ những thành phần ư?” “Đúng vậy,” Sachs nói. Sellitto hỏi, “Vậy ra hắn làm việc trong nhà hàng ấy à?” Thom lắc đầu. “Chắc không đâu. Ở những chỗ như thế, anh phải làm sáu ngày một tuần, mười hai giờ mỗi ngày. Hắn làm gì có thời gian làm sát thủ chuyên nghiệp được. Mà chắc hắn cũng chẳng phải là thực khách ở đấy. Tôi không nghĩ mấy thành phần đấy lại chuyển sang hoặc dính lại trên áo quần hắn hơn vài giờ đâu. Nhiều khả năng là hắn tự làm món này tại nhà. Từ công thức ở đây.” “Tốt, tốt,” Rhyme thì thầm. “Bây giờ chúng ta biết X165 đến Bahamas vào ngày 15 tháng 5 để giết Annette Bodel, đặt bom tự chế tại Java Hut rồi giết Lydia Foster. Hắn có lẽ đã ở khách sạn South Cove ngay trước khi Moreno bị bắn. Hắn dọn đường cho Barry Shales ra tay.” Sachs nói, “Và ta biết hắn thích nấu nướng. Có thể trước đây là dân nhà nghề. Chi tiết đấy biết đâu có ích.” Cooper nhấc điện thoại lên bắt máy. Rhyme không nghe thấy điện thoại reo, anh không biết là do điện thoại để chế độ rung hay do tai anh còn bị ứ nước từ chuyến tắm biển. Mắt anh vẫn nhức nhiều lắm. Anh kỹ thuật viên hiện trường vụ án cảm ơn người gọi rồi thông báo “Chúng tôi đã cho phân tích lọn tóc nâu mà Amelia tìm thấy từ nhà của Lydia Foster. Vừa nãy là cuộc gọi báo kết quả từ CODIS.
Không có thông tin. Dù kẻ giấu mặt này là ai đi nữa thì hắn cũng không có trong bất kỳ cơ sở dữ liệu ADN tội phạm nào.” Khi Sachs viết những khám phá mới nhất của họ lên bảng trắng, Rhyme nói, “Giờ thì ta cũng có tiến triển rồi. Nhưng mấu chốt tóm Metzger là khẩu súng bắn tỉa và mấu chốt tìm ra khẩu súng là viên đạn. Ta xem viên đạn nào.”
57 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ Mặc dù người ta đã lấy mạng nhau bằng súng ống cả nghìn năm nay nhưng phân tích súng đạn về mặt pháp y vẫn là một ngành khoa học tương đối mới. Bằng cách áp dụng ngành khoa học này - có thể nói là lần đầu tiên trên thế giới - các điều tra viên tại Anh vào giữa thế kỉ XIX đã buộc một hung thủ thú tội dựa trên cơ sở khớp một viên đạn với cái khuôn đúc ra nó. Năm 1902, một nhân chứng chuyên gia (chính là Oliver Wendell Holmes[79]) giúp công tố viên buộc tội một nghi can bằng cách khớp một viên đạn bắn thử từ súng của hung thủ với đầu đạn gây án. Tuy nhiên, tận đến khi Calvin Goddard, bác sĩ và nhà khoa học pháp y, xuất bản cuốn “Đạn đạo học pháp y” vào năm 1925, ngành khoa học này mới thực sự cất cánh. Goddard cho đến nay vẫn được xem là cha đẻ của khoa học đạn đạo. Rhyme có ba mục tiêu khi áp dụng các quy tắc mà Goddard đã vạch ra cách đây chín mươi năm. Thứ nhất, xác định viên đạn. Thứ hai, từ thông tin đó xác định loại súng có thể đã bắn viên đạn này. Thứ ba, liên kết viên đạn cụ thể này với một khẩu súng cụ thể sử dụng loại đạn đó, từ đó có thể truy ra tay súng, trong trường hợp này là Barry Shales. Cả đội giờ đây bắt đầu giải câu hỏi thứ nhất. Viên đạn. Đeo găng và khẩu trang, Sachs mở túi ni lông chứa viên đạn, một khối chữ nhật thuôn bằng đồng và chì có hình thù bất thường.
Cô nhìn sơ qua nó. “Một viên đạn lạ lùng. Bất thường. Thứ nhất, nó quá lớn - 19,5 gam.” Trọng lượng của vật phóng bắn ra từ súng - gọi là đầu đạn - của phần nhiều súng săn, súng chiến đấu và kể cả súng bắn tỉa nhỏ hơn nhiều, khoảng 11,7 gam. Cô đo viên đạn bằng một thiết bị đo nòng, một đĩa kim loại phẳng trên đóng nhiều lỗ có kích thước khác nhau. “Còn là cỡ hiếm gặp nữa. Lớn lắm. 10,67 li.” Rhyme chau mày. “Không phải 10,57 à?” Đây là suy đoán ban đầu của anh khi thấy nó trong Buồng Khử. Cỡ 10,57 li là một cách tân mới đây của đạn súng trường, do hãng Barret Arms có tiếng thiết kế. Viên đạn loại này là một biến thể của cỡ 12,7 li được lính bắn tỉa khắp thế giới sử dụng. Trong khi một số quốc gia và các bang ở Mỹ đã cấm sử dụng cỡ 12,7 li cho mục đích dân dụng, cỡ 10,57 li vẫn hợp pháp ở hầu hết các nơi khác. “Không, nhất định lớn hơn.” Nói rồi Sachs quan sát viên đạn bằng kính hiển vi, công suất thấp. “Và thiết kế rất tình vi. Loại đầu rỗng bịt chóp nhựa - loại đạn spitzer cải tiến.” Chẳng lạ gì khi các nhà sản xuất vũ khí bắt đầu tích hợp khí động học vào kiểu dáng các loại đạn trong khoảng thời gian máy bay được phát triển. Đạn spitzer - bắt nguồn từ một từ tiếng Đức có nghĩa là “đạn nhọn” - được phát triển cho mục đích bắn súng trường tầm xa. Nhờ kiểu dáng thon dài nên đạn rất chính xác. Nhược điểm duy nhất là đạn vẫn nguyên vẹn khi đâm vào mục tiêu nên sức công phá kém hơn hẳn đạn đầu lõm, có chóp tròn, luôn nở bung trong da thịt.
Một số nhà sản xuất đạn nghĩ ra cách ghép một chóp nhựa nhọn lên trên một đầu đạn lõm. Chóp này cho viên đạn kiểu dáng thon dài của đạn spitzer nhưng bung ra khi trúng mục tiêu, cho phép đầu đạn nở bung. Đây là loại đạn Barry Shales đã dùng để sát hại Robert Moreno. “Để hoàn chỉnh thiết kế thon dài này,” cô nói thêm, “viên đạn còn là loại đuôi thuyền - phần đuôi hẹp lại, hệt như thuyền buồm đua, để giảm lực cản khi đạn lao qua không khí.” Cô tóm tắt, “Viên này lớn, nặng, chính xác hết sảy.” Đoạn cô hất đầu về phía tấm ảnh hiện trường chụp Moreno nằm sóng soài trên đi văng trong Buồng Khử, máu và mô túa ra từ sau lưng. “Và có sức công phá lớn.” Cô cạo đầu đạn rồi phân tích một dấu tích thải - chất khí và những hạt thuốc còn sót lại sau khi thuốc súng bốc cháy. “Loại thượng hạng,” cô nói. “Hạt nổ có chất lượng tương tự diêm Federal 210, thuốc súng hiệu Hodgdon Extreme Extruded - được sản xuất với dung sai cao nhất. Đây là siêu đạn.” “Ai sản xuất?” Đây là câu hỏi quan trọng. Nhưng tìm kiếm trên Internet trả về rất ít kết quả. Không nhà sản xuất lớn nào như Winchester, Remington hay Federal chào bán và cũng không nhà bán lẻ nào nhập kho loại đạn này. Tuy nhiên, Sachs tìm thấy một vài chỗ đề cập đến sự tồn tại của loại đạn bí ẩn này trên một số diễn đàn súng ống ít ai biết và tìm ra rằng một công ty vũ khí tại New Jersey, Walker Defense Systems[80] , có thể chính là nhà sản xuất. Trang mạng của công ty này tiết lộ rằng, mặc dù Walker
không làm súng trường, nó sản xuất một loại đạn spitzer đuôi thuyền 10,67 li bịt chóp nhựa. Sachs nhìn Rhyme. “Họ chỉ bán cho quân đội, cảnh sát… và chính phủ liên bang.” Mục tiêu đầu tiên đã được thỏa mãn, đặc điểm nhận biết viên đạn. Bây giờ cả đội chuyển sang tìm loại khí giới đã bắn viên đạn đó. “Trước tiên,” Rhyme hỏi, “súng này thuộc loại cơ cấu bắn nào? Thoi nạp, bán tự động, ba phát liên thanh, tự động? Sachs, em nghĩ sao?” “Lính bắn tỉa không bao giờ dùng loại tự động hoàn toàn hoặc liên thanh nhiều phát - rất khó cân bằng giữa độ giật liên tục và khoảng cách lớn. Nếu đây là loại thoi nạp thì hắn đã không bắn ba phát rồi. Nếu phát đầu trượt, hắn sẽ làm kinh động mục tiêu rồi mục tiêu sẽ tìm chỗ nấp. Em nghĩ là loại bán tự động.” Sellitto nói. “Tìm ra cũng không khó lắm đâu. Nhất định chỉ có một, hai loại súng trên thế giới bắn được đạn như vậy. Khá đặc trưng.” “Khá đặc trưng,” Rhyme thốt ra, kèm một chút mỉa mai. “Khác gì nói hơi có thai.” “Linc,” Sellitto vui vẻ trả lời, “anh từng nghĩ đến chuyện dạy tiểu học chưa? Tụi nhỏ sẽ thích anh cho xem.” Nhưng nghiêm túc mà nói, Rhyme biết Sellitto đúng. Viên đạn càng hiếm thì càng có ít loại súng bắn được. Như vậy sẽ dễ xác
định khẩu súng trường này hơn và từ đó dễ truy ra nó đến Barry Shales hơn. Hai đặc tính của một viên đạn có thể gắn nó với khẩu súng bắn ra: cỡ đạn, điều này thì họ đã biết, và hệ rãnh xoắn. Tất cả nòng súng hiện đại đều có những chỗ trũng xoắn ốc tiện trong lòng súng để làm viên đạn xoáy, nhờ vậy nó di chuyển đến mục tiêu chính xác hơn. Đây gọi là hệ rãnh xoắn. Các nhà sản xuất súng tạo ra những chỗ trũng này - gọi là rãnh và gờ (phần nhô giữa hai rãnh) - theo nhiều cấu hình, tùy vào loại súng, đạn dành cho súng và mục đích của súng. Hệ rãnh xoắn, như tên gọi của nó, có thể xoáy viên đạn theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược lại, và xoáy nhanh hay chậm tùy vào đầu đạn xoay trong nòng bao nhiêu lần. Nhìn bề ngoài, đầu đạn này cho thấy súng của Barry Shales xoáy nó ngược chiều kim đồng hồ, cách 25,4 phân xoáy một lần. Điều này là bất thường, Rhyme biết chắc như thế, vì các đường xoắn ốc thường sát với nhau hơn, với tỉ số 1:7 hoặc 1:8. “Vậy đây là nòng dài, đúng không?” Rhyme hỏi Cooper. “Ừ! Dài lắm. Quái lạ.” Với cỡ đạn và hệ rãnh xoắn hiếm hoi như thế, thường sẽ dễ cô lập những thương hiệu súng trường bán tự động sở hữu các đặc tính như thế. Các cơ sở dữ liệu đạn đạo sẽ gắn kết tất cả các thông tin này với nhau và một lệnh tìm kiếm đơn giản trên máy tính sẽ trả về kết quả trong vài giây. Nhưng vụ án này chẳng có gì là bình thường.
Sachs ngước mắt khỏi máy tính nhìn lên rồi báo cáo, “Không có lấy một kết quả. Không có hồ sơ lưu về bất kỳ hãng vũ khí thương mại nào sản xuất súng trường như thế.” “Ta còn biết được gì nữa từ khẩu súng?” Rhyme hỏi. “Xem qua số ảnh chụp hiện trường, xác của Moreno. Xem thử ta biết được gì không.” Chuyên gia hiện trường đẩy mắt kính cao lên rồi đung đưa người tới lui trong khi quan sát những tấm ảnh rùng mình. Nếu trên đời này có người sở hữu nhãn quan pháp y, thì người đó là Mel Cooper. Thám tử này hiện là thành viên của Hiệp hội Quốc tế về Giám định, một tổ chức gần trăm tuổi, và anh có các chứng chỉ trình độ cao nhất từ Hiệp hội, trong tất cả các chuyên ngành: Nghệ thuật Pháp y, Phân tích Giày và Rãnh lốp xe, Nhiếp ảnh Pháp y, Dấu vân tay Mười ngón và Dấu vân Tiềm ẩn - cũng như Phân tích Kiểu vết máu, một sở thích cá nhân của cả Cooper lẫn Rhyme. Anh đọc được ảnh hiện trường vụ án như cách bác sĩ đọc được tấm phim X quang. Anh bèn nói, “Ồ, xem đi, khoảng cách.” Anh chạm vào một tấm ảnh, chỉ ra chỗ máu, những mẩu thịt, xương trên đi văng lẫn chỗ sàn đằng sau nó. “Hắn bắn từ khoảng cách hơn 1.800 mét, đúng không?” “Khoảng cỡ đấy,” Rhyme nói. “Amelia, vận tốc thông thường của một viên đạn lớn cỡ vậy là bao nhiêu?” Cô nhún vai. “Ra khỏi nòng với tốc độ tối đa là 825 mét/giây. Tốc độ lúc trúng mục tiêu thì tôi nghĩ là 550.”
Cooper lắc đầu. “Viên đạn này di chuyển với tốc độ hơn 910 mét/giây khi trúng Moreno.” Sachs nói, “Thật hả?” “Khẳng định luôn.” “Vậy thì quá nhanh. Chứng tỏ khẩu súng này có nòng đặc biệt dài và viên đạn được nạp rất nhiều thuốc súng. Thông thường một viên đạn cỡ đấy sẽ có 2,6 gam hay 2,7 gam thuốc phóng. Để đạt được tốc độ anh nói, tôi nghĩ lượng thuốc phóng sẽ gấp đôi, tức là hộp khóa nòng phải được gia cố.” Đây là bộ phận của súng trường có nhiệm vụ giữ đạn để tiến hành bắn. Hộp khóa nòng dày hơn nòng nhằm chịu được áp suất ban đầu của các khí giãn nở trong nòng, để súng không nổ tung khi xạ thủ bóp cò. “Có kết luận gì không?” “Có,” Sachs nói. “Barry Shales, hoặc ai đấy ở NIOS, tự chế ra súng này.” Rhyme nhăn mặt. “Vậy là không có cách nào truy ra NIOS hay Shales từ nơi bán của một khẩu có số xê ri bất kỳ rồi. Chết tiệt.” Mục tiêu thứ ba của anh, liên kết viên đạn với Shales qua khí giới của hắn, đâm ra khó khăn hơn rất nhiều. Sachs nói, “Chúng ta vẫn đang chờ Cục Thông tin gọi lại báo kết quả khai thác thông tin. Biết đâu họ tìm ra Shales đã mua cấu kiện súng hay đồ nghề cho súng.”
Rhyme nhún vai. “Chà, để xem viên đạn này còn cho ta biết được gì nữa. Mel, dấu vân tay thì sao?” Dấu vân tay thực tế có thể vẫn còn lại sau khi viên đạn xuyên qua không trung, xuyên qua cơ thể và đôi khi xuyên qua cả tường. Miễn là Barry Shales đã chạm vào viên đạn bằng ngón tay trần. Mà thực tế lại không phải vậy. Đeo kính bảo hộ, Sachs quét một thanh ánh sáng[81] qua viên đạn. “Không có.” “Còn dấu vết?” Lúc này Cooper đang xem xét viên đạn. “Nhiều bụi thủy tinh từ cửa sổ.” Sau đó anh dùng nhíp gắp ra một vài hạt chất li ti. Anh quan sát các mẫu này kỹ càng dưới kính hiển vi. “Thực vật,” Rhyme đưa ra giả định khi nhìn vào màn hình. “Phải, thật vậy,” anh kỹ thuật viên nói. Anh chạy một quy trình phân tích hóa học. “Đây là urushiol. Một dị nguyên gây kích ứng da.” Anh ngước lên. “Cây sơn độc chăng?” “À, cây gỗ độc. Bên ngoài cửa sổ Buồng Khử. Viên đạn hẳn đã đi xuyên qua một cái lá trước khi trúng Moreno.” Anh kỹ thuật viên cũng tìm thấy một chất sợi, giống hệt sợi vải trên sơ mi của Moreno, và nhiều lượng nhỏ máu khớp với nhóm máu của nhà hoạt động chính trị này. Cooper nói, “Ngoài cái đấy và dấu tích thải ra thì chẳng còn thứ gì khác trên viên đạn.” Rhyme xoay chiếc xe lăn mới của mình về phía chỗ bảng liệt kê chứng cứ. “Ron, phiền cậu cập nhật kiệt tác của chúng ta bằng nét
chữ rồng bay phượng múa[82] của cậu. Tôi cần phải nhãn quang bức tranh toàn cảnh,” anh đế thêm vì cảm thấy khó cưỡng lại cái thôi thúc dùng một chút biệt ngữ đặc trưng của người lãnh đạo hiện vắng mặt của họ, đại úy Bill Myers.
58 VIÊN ĐẠN TRIỆU ĐÔ VỤ MƯU SÁT ROBERT MORENO Hiện trường 1. — Dãy phòng 1200, Khách sạn South Cove, Đảo New Providence, Bahamas (‘Buồng Khử’). — 9 tháng 5. • Nạn nhân 1: Robert Moreno. — NNTV: Vết thương duy nhất do đạn bắn vào ngực. — Thông tin bổ sung: Moreno, 38 tuổi, công dân Mỹ, kiều dân, sống tại Venezuela. Chống Mỹ kịch liệt. Biệt danh: “Sứ giả Chân lý”. Đã xác định “biến mất vào không trung” và “cho nổ tung” không liên quan đến khủng bố. — Giày chứa chất sợi giống với sợi trong thảm ngoài hành lang khách sạn, đất từ lối vào khách sạn và cả dầu thô. — Áo quần chứa nhiều lượng nhỏ các chất của bữa sáng: Vụn bánh, mứt và thịt hun khói và cả dầu thô. — Ở tại thành phố New York ba ngày, từ 30 tháng 4 đến 2 tháng 5. Mục đích? — 1 tháng 5, dùng dịch vụ công ty Elite Limousines. — Tài xế Tash Farada (tài xế thường lái là Vlad Nikolov bị ốm. Đang định vị).
— Đóng tài khoản tại ngân hàng American Independent Bank and Trust và có thể tại các ngân hàng khác nữa. — Đi xe quanh thành phố cùng phiên dịch viên Lydia Foster (đã bị X165 giết). — Lý do có tư tưởng chống Mỹ: bạn thân bị lính Mỹ giết trong cuộc xâm lược Panama, năm 1989. — Chuyến đi cuối của Moreno đến Mỹ. Sẽ không bao giờ quay lại. — Cuộc gặp mặt tại phố Wall. Mục đích? Địa điểm? — Không có hồ sơ ghi nhận vụ điều tra khủng bố nào trong vùng. — Gặp những cá nhân chưa xác định tại Lãnh sự quán Brazil và các tổ chức từ thiện của Nga, Tiểu vương quốc Ả-rập thống nhất (Dubai). — Gặp Henry Cross, giám đốc Quỹ Lớp học cho Các nước châu Mỹ. Tường trình là Moreno gặp các tổ chức từ thiện khác, nhưng không biết là tổ chức nào. Có một người đàn ông theo dõi Moreno, da trắng và “nhìn ngầu”. Máy bay tư nhân bám đuôi Moreno? Màu xanh lam. Đang xác định. • Nạn nhân 2: Eduardo de la Rua. — NNTV: Mất máu. Kính vỡ do đạn bắn bay khắp nơi cắt trúng nhiều chỗ, các mảnh kính rộng 3-4 milimét, dài 2-3 phân. — Thông tin bổ sung: Nhà báo, phỏng vấn Moreno. Sinh tại Puerto Rico, sống tại Argentina.
— Máy ảnh, máy ghi âm, bút mạ vàng, sổ ghi chép mất tích. — Giày chứa chất sợi gắn với thảm trong hành lang khách sạn và đất từ lối vào khách sạn. — Áo quần chứa nhiều lượng nhỏ các chất của bữa sáng: Hạt đa hương và sốt tiêu. • Nạn nhân 3: Simon Flores. — NNTV: Mất máu. Kính vỡ do đạn bắn bay khắp nơi cắt trúng nhiều chỗ, các mảnh kính rộng 3x4 milimét, dài 2-3 phân. — Thông tin bổ sung: Vệ sĩ của Moreno. Công dân Brazil, sống tại Venezuela. — Đồng hồ Rolex, kính râm Oakley mất tích. — Giày chứa chất sợi giống với sợi trong thảm ở hành lang khách sạn, chứa đất từ lối vào khách sạn và có dầu thô. — Áo quần chứa nhiều lượng nhỏ các chất của bữa sáng: Vụn bánh, mứt và thịt hun khói, cũng chứa dầu thô và tàn thuốc. • Trình tự các hoạt động của Moreno tại Bahamas. — 7 tháng 5. Đến Nassau cùng Floros (vệ sĩ). — 8 tháng 5. Gặp gỡ bên ngoài khách sạn cả ngày. — 9 tháng 5. 9 giờ sáng. Gặp hai người đàn ông về việc phát động Phong trào Trao quyền Địa phương tại Bahamas. 10 giờ 30 phút sáng, de la Rua đến. Vào 11 giờ 15 phút sáng, Moreno bị bắn. • Nghi can 1: Shreve Metzger.
— Cục trưởng, Cục Tình báo và Chỉ huy Quốc gia (NIOS). — Tâm thần không ổn định? Thường nóng nảy. — Chỉnh sửa chứng cứ để phê chuẩn phi pháp Mệnh lệnh Đặc nhiệm. — Đã ly hôn. Bằng Luật, Đại học Yale. • Nghi can 2: X165. — Đã xác định không phải kẻ bắn tỉa. — Có thể là kẻ ngụ tại khách sạn South Cove, ngày 8 tháng 5. Người da trắng, nam, khoảng 35 tuổi, tóc nâu nhạt cắt ngắn, giọng Mỹ, gầy nhưng săn chắc. Có dáng vẻ “quân đội”. Hỏi về Moreno. — Có thể là cộng sự của kẻ bắn tỉa hoặc được Metzger thuê riêng để phi tang và chặn đứng công tác điều tra. — Đã xác định là hung thủ giết Lydia Foster và Annotte Bodel, dùng bom tự chế tấn công quán Java Hut. — Đầu bếp nghiệp dư, chuyên nghiệp hoặc ít nhiều có tay nghề. • Nghi can 3: Barry Shales. — Đã xác nhận là kẻ bắn tỉa, mật danh Don Bruns. — 39 tuổi, cựu lính không quân, từng được trao huân chương. — Chuyên viên tình báo tại NIOS. Vợ là giáo viên. Có hai con trai.
— Kẻ đã gọi cho khách sạn South Cove vào ngày 7 tháng 5 để xác nhận việc Moreno đến khách sạn. Cuộc gọi thực hiện từ điện thoại đứng tên Don Bruns, thông qua công ty vỏ bọc của NIOS. — Cục Thông tin đang khai thác thông tin về Shales. — Đã có dữ liệu giọng nói. • Báo cáo hiện trường vụ án, báo cáo khám nghiệm tử thi, các chi tiết khác. — Hiện trường vụ án đã bị X165 lau dọn và làm nhiễm bẩn nên phần nhiều vô dụng. — Các chi tiết tổng quát: Đạn bắn xuyên qua và làm vỡ cửa sổ cao từ sàn lên trần, vườn bên ngoài, lá cây gỗ độc bị tỉa bớt đến độ cao hơn 7 mét. Tầm nhìn đến nơi ẩn nấp bị sương mù và khói bụi ô nhiễm che mờ. — Tìm thấy 47 vân tay, một nửa đã được phân tích, kết quả âm tính, số dấu vân còn lại mất tích. — Tìm thấy nhiều giấy gói kẹo. — Tìm thấy tàn thuốc. — Đạn ghim sau lưng đi văng chỗ tìm thấy xác Moreno. — Phát đạn trí mạng. — Cỡ 10,67 li, do công ty Walker Defense Systems tại bang New Jersey sản xuất. — Đạn đuôi thuyền spitzer.
— Chất lượng thượng hạng. — Vận tốc cực cao và công suất cực lớn. — Hiếm. — Súng bắn: Được chế tạo riêng. — Dấu vết trên đạn: Bụi thủy tinh, chất sợi từ sơ mi của Moreno và lá cây gỗ độc. Hiện trường 2. — Nơi Barry Shales ẩn nấp, cách Buồng Khử 1.829 mét, Đảo New Providence, Bahamas. — 9 tháng 5. — Không tìm được vỏ đạn hay chứng cứ khác cho biết vị trí ẩn nấp. • Hiện trưởng 2A. — Căn hộ 3C, 182 đường Augusta, Nassau, Bahamas. — 15 tháng 5. — Nạn nhân: Annette Bodel. — NNTV: Đang xác định, có lẽ do bị bóp cổ, ngạt thở. — Nghi can: Đã xác định là X165. — Nạn nhân có lẽ đã bị tra tấn. — Dấu vết:
Cát giống cát tìm thấy tại quán Java Hut. Axít docosahexaenoic - dầu cá. Có khả năng là trứng cá muối hay trứng cá thường. Thành