Bụi Kí 1

phần của nó. Ông ta

phần của nó. Ông ta

phần của nó. Ông ta bị kiện vì một vụ tấn công liên quan đến những cô gái trẻ. Tôi nghĩ Marisa Coulter có dính dáng đến vụ này theo cách nào đó - có lẽ bà ta đã làm chứng chống lại ông ta chăng? - chúng ta sẽ kiểm tra chi tiết sau. Và ông ta tự nhận mình là cha của Lyra?” Hannah đáp: “Tôi nghe Malcolm kể như vậy, cậu bé nghe từ Alice. Phu nhân Coulter cũng quen biết Bonneville.” “Làm sao cô biết?” Nugent hỏi. “Bà ta đã đến nhà tôi.” “Cái gì cơ? Bao giờ?” Cô kể cho ông về những gì đã xảy ra vào buổi chiều hôm đó, về việc Malcolm đã nói chuyện với Phu nhân Coulter và làm chệch hướng những câu hỏi của bà như thế nào. “Rõ ràng là bà ta có quen biết cái ông Bonneville này nhưng không chịu thừa nhận điều đó. Bà ta muốn biết đứa bé đang ở đâu. Bà ta không nhận đó là con gái của chính mình, chứ đừng nói đến việc cha

của nó là ai. Đó thật sự là một cuộc trò chuyện kì quặc - chẳng phải có ai đó bên ngoài sao?” Cô vừa nói vậy thì một tiếng gõ vang lên trên cánh cửa. Papadimitriou mở nó ra rồi thân mật bắt tay người đàn ông vừa bước vào. “Bud! Anh đến được rồi,” ông thốt lên. “Làm tốt lắm!” Nugent đứng dậy chào mừng ông. Schlesinger là một người đàn ông chừng ba mươi tuổi, gầy gò, với mái tóc vàng cắt rất ngắn và vẻ lanh lợi đầy sinh động trên nét mặt. Linh thú của ông là một con cú nhỏ. Bộ đồ mùa đông của ông trông có vẻ như đã ướt đẫm. “Chào cô, ” ông nói khi thấy Hannah. “Liệu tôi có cắt ngang chuyện gì không?” “Không, tôi nghĩ tôi mới là người cắt ngang,” Hannah đáp. “Tôi đi bây giờ đây.” “Không, Tiến sĩ Relf, ở lại đi,” Nugent bảo. “Việc này rất quan trọng. Bud, Hannah là một người của chúng ta. Cô ấy biết rõ chuyện này và cũng đã cung cấp cho chúng tôi một số thông tin có giá trị. Nhìn xem, anh ướt đẫm cả rồi. Tới gần lò sưởi nào.” Schlesinger bắt tay Hannah: “Rất vui được gặp cô. Các vị đang thảo luận chuyện gì vậy? Có phải tôi đã bỏ lỡ mất phần hay nhất rồi không?” Trong lúc Schlesinger cởi lớp áo ngoài ra và ngồi xuống bên cạnh đống lửa, Nugent giải thích tình hình, còn Hannah thì lắng nghe với sự khâm phục nghề nghiệp. Điểm A + cho bài tóm tắt đó, cô nghĩ: mọi thứ đều ở đó và nằm trong mối liên hệ phù hợp với tất cả những thứ khác, không hề có một chữ thừa, rõ ràng rành mạch. Trong lúc Ngài Nugent nói chuyện, Papadimitriou pha một ấm cà phê. “Đó là chỗ chúng tôi đã dừng lại,” Nugent kết thúc. “Giờ thì anh có gì cho chúng tôi đây?” Schlesinger nhấp một ngụm cà phê rồi bắt đầu: “Nhiều lắm. Đầu tiên là đứa bé, Lyra. Không có gì nghi ngờ về việc nó là con

gái của Coulter và Asriel. Không có ai khác dính dáng vào cả. Chúng tôi đã nghe đồn đại về một lời tiên tri nào đó liên quan đến đứa trẻ, và chúng tôi biết rằng Huấn Quyền đang đặc biệt quan tâm đến nó, vì vậy tôi đã lên phương Bắc để tìm hiểu thêm. Các phù thuỷ vùng Enara đã nghe thấy những giọng nói từ trong cực quang - họ giải thích như thế: tôi đoán đó là một phép ẩn dụ - những giọng nói ám chỉ rằng đứa trẻ có sứ mệnh đặt dấu chấm hết cho số phận. Chỉ có vậy. Họ không biết điều đó có ý nghĩa gì, và tôi cũng hoàn toàn mù tịt. Có thể là một điều tốt, cũng có thể là xấu. Và điều kiện chính là đứa trẻ phải làm việc đó mà không biết rằng mình đang làm. Dù sao thì khi Huấn Quyền nghe nói về lời tiên tri này, thông qua những mối liên lạc với phù thuỷ của riêng mình, họ đã lập tức tiến hành tìm kiếm đứa bé. Đó là khi chúng tôi nhận ra rằng một điều quan trọng đang diễn ra, cũng là lúc các vị bắt đầu tìm chỗ giấu cô bé.” “Đúng vậy, ” Nugent nói. “Cứ nói tiếp đi.” “Giờ là điều thứ hai: Gerard Bonneville. Tôi biết qua loa ông ta ở Paris, và nghe nói rằng ông ta đã đến phương Bắc, vì vậy tôi đã bí mật hỏi han xung quanh những người ở trường đại học mà tôi biết. Ông ta từng phải vào tù vì tội tình dục, dù là gì đi nữa, và ông ta vừa mới được thả ra. Ông ta đã bị đuổi khỏi vị trí trong trường đại học của mình, cắt quyền sử dụng các cơ sở vật chất phòng thí nghiệm và trợ giúp kĩ thuật, thư viện, mọi thứ mà một nhà vật lí học cần. Sẽ không ai thuê ông ta. Ông ta vẫn luôn là một kẻ khó làm việc cùng - khắt khe, ám ảnh, còn con linh thú đó thì khó ưa đến phát điên... Ba chân à? Nó vẫn còn đủ bộ bốn chân vào lần cuối tôi thấy Bonneville. Tôi nghĩ Coram van Texel có thể sẽ biết gì đó về việc này. Tôi đã gặp Coram ở Thụy Điển - tôi đoán là ông ấy đã kể với các vị.” Khi Coram van Texel được nhắc đến, Hannah liếc nhìn Ngài Nugent, ông đáp lại cái nhìn của cô bằng vẻ điềm tĩnh ôn hoà. “Nhưng Bonneville đã nhìn thấy một cách để lại được trọng vọng,” Schlesinger nói tiếp. “Ông ta biết về lời tiên tri của các phù thuỷ, và cho rằng nếu có thể nắm giữ được đứa bé, ông ta sẽ có thể thoả thuận với Huấn Quyền: trả lại tôi phòng thí nghiệm

của tôi, tất cả sự trợ giúp tôi cần, và các người có thể nhận đứa trẻ và làm gì với nó tuỳ thích. Vậy nên đó là thứ mà ông ta nhắm tới, và là lí do. Chúng ta có biết lúc này ông ta đang ở đâu không? Thông tin mới nhất mà các vị nghe được là gì?” “Đây chỉ là phỏng đoán, ” Papadimitriou nói, “nhưng rất có thể ông ta đang đuổi theo hai đứa con trai và con gái đang chăm sóc Lyra. Chúng có một con thuyền - một chiếc xuồng, tôi tin là vậy - và Hannah cho rằng chúng đã dùng nó để chạy trốn. Nhưng, Hannah ạ, chúng sẽ đi đâu được? Chúng sẽ tìm kiếm điều gì?” “À, ” Hannah nói, “cách đây vài ngày Malcolm có hỏi tôi ý tưởng về nơi nương náu, vì cậu bé đã nghe một trong các sơ nói về nó, Malcolm hỏi tôi liệu các trường đại học có còn cho các học giả nương náu hay không, và tôi nói rằng Jordan đã từng có một hình thức như thế...” “Chúng tôi vẫn thực hiện việc đó, ” Papadimitriou xen vào. “Người ta phải xin quyền nương náu học giả bằng cách yêu cầu với chính Hiệu trưởng. Có một câu mẫu bằng tiếng Latinh...” “Nên tôi dám chắc là Malcolm sẽ thử đem cô bé đến đây, ” Hannah tiếp tục. “Nhưng tất cả chúng ta đều đã thấy cơn lũ ồ ạt chảy qua thành phố thế nào rồi đấy. Tôi không nghĩ một chiếc xuồng lại có thể tiến nhiều trong dòng nước xiết này. Chúng sẽ phải đến nơi mà cơn lũ đưa chúng tới.” “Hơn nữa, một em bé thì không phải là học giả, ” Papadimitriou nói. “Nó sẽ không được chấp nhận đâu.” “Nhưng nếu cô bé được cấp quyền nương náu học giả thì điều đó sẽ giúp nó được an toàn đến mức nào?” “Hoàn toàn. Luật này đã được kiểm chứng tại các toà án, và nó luôn được nhìn nhận là không thể lay chuyển được. Nhưng, như tôi đã nói...” “Các vị biết không,” Schlesinger đột nhiên ngồi ngả về phía trước với vẻ phấn khích, “chuyện này giải thích một vấn đề khác mà tôi đã nghe được trên phương Bắc. Tôi đang hỏi han về một đứa trẻ - tôi cố tình không nói là ‘bé gái’, tôi chỉ bảo là ‘đứa trẻ’

thôi: Có phải có lời tiên tri về một đứa trẻ không? Và có một phù thuỷ - tên bà ấy là gì nhỉ: Tilda Vasara, Nữ hoàng Tilda Vasara - bà ấy nói với tôi rằng mình đã nghe được lời tiên tri về một cậu bé, vậy là tôi lịch sự lắng nghe, nhưng lại chỉ thật sự hứng thú với điều người ta có thể đã nói về một cô bé. Bà ấy kể rằng những giọng nói trong dải cực quang đã thông báo về một cậu bé phải mang một báu vật đến nơi an toàn. Chà, tôi chẳng có chút hứng thú nào với một cậu bé cả, nên đã quên sạch về nó cho tới khi các vị bắt đầu trao đổi về một nơi an toàn. Nơi nương náu. Có thể nào cậu bé này của các vị lại đang làm việc đó không?” “Đúng rồi!” Hannah thốt lên. “Chính là cái cách mà cậu bé sẽ nghĩ. Cậu nhóc lãng mạn khủng khiếp.” “Nhưng dù thế nào thì cậu nhóc vẫn chưa đem cô bé tới đây, ” Papadimitriou nói, “cho nên chúng ta phải thừa nhận rằng nếu có cố tới được đây thì cậu bé cũng thất bại rồi, và chúng đã bị cuốn đi xuống xa hơn phía hạ lưu. Ý tưởng tiếp theo của cậu bé sẽ là gì?” Hannah thấy rằng cả ba người đàn ông đều đang nhìn mình đăm đăm, như thể họ nghĩ rằng cô biết vậy. Mà có lẽ là đúng như vậy. “Ngài Asriel, ” cô nói. “Đêm hôm đó khi Ngài Asriel đến tu viện để gặp đứa bé, rồi Malcolm cho ông ta mượn xuồng của mình - sự việc đó đã tạo một ấn tượng mạnh mẽ lên cậu bé. Malcolm sẽ cho rằng Asriel đại diện cho sự an toàn cho Lyra. Cậu bé sẽ cố gắng đưa đứa trẻ đến chỗ ông ta.” “Liệu Malcolm có biết phải tìm ông ta ở đâu không?” Papadimitriou hỏi. “Tôi không biết. Tôi đoán là London... nhưng không, tôi không biết.” “Dù sao thì,” Schlesinger nói, “đêm hôm qua tôi đã thoáng thấy Asriel ở Chelsea. Ông ta lại chuẩn bị lên đường đến phương Bắc. Kể cả Malcolm của các vị có tới được đó thì Asriel có thể cũng đi mất rồi.”

“Trừ khi cơn lũ giữ chân anh ta, ” Nugent nói trong lúc đứng dậy. Đột nhiên trông ông trẻ lại, được tiếp thêm sinh lực và đầy quyết tâm. “Được rồi, mọi thứ đã được sáng tỏ. Chúng ta biết mình phải làm gì rồi: Chúng ta phải khởi hành trên dòng lũ và tìm được chúng trước Bonneville. Bud, anh đến đây bằng cách nào?” “Tôi đã thuê một chiếc thuyền cao tốc gắn máy. Tôi đoán là ông chủ vẫn đang ở quanh đây thôi, ông ấy nói sẽ thử kiếm chút việc ở Oxford.” “Tìm ông ta đi, rồi lên đường nào, ” Nugent nói. “George, ông quen biết dân du mục. Hãy tận dụng các mối liên lạc của mình. Tìm vài chiếc thuyền, cho ông và cho tôi. Huấn Quyền cũng sẽ lùng tìm Lyra. Hội TCK có khá nhiều thuyền đi sông, tất cả bọn họ sẽ dồn sức vào chuyện này. Hannah, dẹp mọi việc khác sang một bên rồi dùng Chân Kế để tìm kiếm bọn trẻ đi.” “Làm sao tôi giữ liên lạc được với các vị?” Hannah hỏi. “Cô sẽ không liên lạc được đâu, ” Ngài Nugent đáp. “Dù chúng tôi có thành công hay không thì cô cũng sẽ viết lại lịch sử vào thời điểm thích hợp. Hãy về nhà, giữ bản thân khô ráo và an toàn, rồi để ý đến Chân Kế. Tôi sẽ tìm cách duy trì liên lạc.”

M 18 Quý ngài Sát Nhân alcolm chưa từng nghĩ rằng một con sông, chứ chưa nói đến cả một vùng miền quê, lại có thể biến mất dưới một trận lũ. Thật khó mà tưởng tượng ra nổi lượng nước khổng lồ này từ đâu kéo đến. Vào một khoảng thời gian sau đó trong buổi sáng, cậu vươn tay qua thành xuồng rồi múc một ít nước lên miệng nếm thử, phần nào đoán rằng nó sẽ có vị mặn, như thể kênh Bristol đang tuôn chảy tới London vậy. Nhưng không hề có muối ở trong đó; vị không được ngon cho lắm, nhưng cũng không phải là nước biển. “Nếu chèo đến London, ” Alice nói, “khi con sông vẫn bình thường và không có lũ thì sẽ mất bao lâu?” Đó là lần đầu tiên cô lên tiếng kể từ khi chúng rời khỏi hiệu thuốc trước đó hai giờ đồng hồ. “Chịu. Khoảng sáu mươi dặm, có khi còn hơn, vì con sông uốn lượn quanh co. Nhưng khi đó sẽ là đi xuôi dòng, nên...” “Ừ, thế bao lâu nào?” “Một vài ngày?” Nét mặt của Alice biểu lộ sự chán ghét. “Nhưng lần này thì sẽ nhanh hơn, ” Malcolm nói tiếp, “vì dòng chảy mạnh hơn. Chị xem chúng ta vượt qua những cái cây kia nhanh như thế nào kìa.” Đỉnh của một ngọn đồi nổi bật trên mặt nước, bao quanh là một lùm cây chủ yếu là sồi, những cành cây trơ trụi của chúng trông thật thê lương trên nền trời xám xịt. Nhưng La Belle

Sauvage vẫn đang lao đi vùn vụt, chỉ trong một phút chiếc xuồng đã phóng qua, để lại ngọn đồi ở phía sau. “Nên sẽ không tốn nhiều thời gian đến thế đâu, ” cậu tiếp tục. “Có khi chỉ một ngày thôi.” Alice không nói gì mà chỉ với xuống chỉnh lại lớp chăn cho Lyra. Đứa bé đang nằm giữa hai bàn chân của cô, được quấn dày đến mức tất cả những gì Malcolm có thể thấy được là đỉnh đầu của nó và con bướm Pantalaimon lộng lẫy đang đậu trên mái tóc. “Cô bé ổn chứ?” Cậu hỏi. “Có vẻ vậy.” Asta rất tò mò về Pan. Trước đó nó đã phát hiện ra rằng Pan có thể biến hình trong khi Lyra đang ngủ, dù cho bản thân con linh thú cũng ngủ say. Nó đặt ra giả thuyết rằng khi Pan ở dạng bướm thì có nghĩa là Lyra đang mơ, nhưng Malcolm thì vẫn thấy hồ nghi. Đương nhiên, chẳng ai trong số chúng biết chút xíu gì về chuyện xảy ra khi bản thân mình say ngủ cả; chúng biết rằng Asta có thể ngủ ở dạng một sinh vật này rồi thức dậy trong một dạng khác, nhưng không đứa nào nhớ gì về việc biến đổi cả. Đó là kiểu chuyện mà cậu hẳn đã muốn nói với Alice, nhưng viễn cảnh về sự khinh miệt không đáy của cô đã ngăn cản cậu. “Tớ dám cá đó là một giấc mơ, ” Asta bảo cậu. “Ai kia?” Alice thốt lên đầy gay gắt. Cô bé đang chỉ tay qua vai Malcolm và nhìn vào một khoảng ở phía sau. Cậu quay lại nhìn và thấy, dù chỉ lờ mờ qua lớp không khí xám xịt ẩm ướt, một người đàn ông trong chiếc xuồng hơi đang chèo thật lực về phía chúng. “Không nhìn rõ được, ” Malcolm nói. “Có thể là...” “Đúng thế đấy, ” cô nói. “Con linh thú đó đang ngồi phía trước. Đi nhanh lên.” Malcolm có thể thấy rằng chiếc xuồng hơi là một loại thuyền khá bất tiện, còn lâu mới nhanh nhẹn và dễ dàng lướt qua dòng

nước như La Belle Sauvage. Thế nhưng gã đàn ông lại có cơ bắp của người trưởng thành, và đang quyết liệt vung chèo. Vậy là Malcolm liền vục mái chèo xuống nước để thúc chiếc xuồng tiến về phía trước. Nhưng cậu không thể làm vậy được lâu, vì vai và hai cánh tay cậu, toàn bộ phần thân trên và thắt lưng của cậu, đều đang nhức nhối. “Hắn đang làm gì? Hắn đâu rồi?” Cậu hỏi. “Hắn thụt lùi lại rồi. Không nhìn thấy được - hắn đang ở phía sau ngọn đồi kia - đi tiếp đi!” “Em đang chèo nhanh nhất có thể đây. Nhưng em sẽ sớm phải dừng lại thôi. Hơn nữa...” Sự thay đổi trong chuyển động đã đánh thức Lyra, và cô bé bắt đầu khẽ cất tiếng khóc. Chúng sẽ sớm phải cho nó ăn, và điều đó có nghĩa là neo xuồng lại, nhóm lửa, đun nóng xoong. Và trước đó là tìm một nơi để trốn. Malcolm quan sát xung quanh trong lúc cố gắng chèo đều đặn nhất có thể. Chúng đang ở trong một thung lũng rộng, có lẽ là cách thềm sông rất xa, với một con dốc um tùm cây cối dâng lên khỏi mặt nước ở phía bên trái, còn bên phải là một căn nhà lớn, mang kiến trúc cổ điển và có màu trắng, nằm trên ngực một ngọn đồi xanh nơi còn có nhiều cây hơn nữa. Mỗi bên đều còn cách khá xa, khả năng cao là gã đàn ông trên chiếc xuồng hơi sẽ sớm phát hiện ra chúng trước khi chúng tới được một nơi ẩn náu. “Hướng tới căn nhà đi,” Alice nói. Malcolm cũng nghĩ lựa chọn đó tốt hơn nên cậu liền chèo xuồng hết tốc lực về hướng đó. Khi đến được gần hơn, cậu có thể thấy một cột khói mỏng bốc lên từ một trong những ống khói chính trước khi bị thổi tan đi. “Có người ở đó, ” cậu nói. “Tốt, ” là tất cả những gì cô đáp lại. “Nếu có người xung quanh, ” Asta nhận xét, “hắn sẽ ít có khả năng...”

“Giả sử hắn đã ở đó, và hắn là một trong số họ thì sao?” Malcolm hỏi. “Nhưng vừa nãy hắn đang ở trong con thuyền mà, ” nó nói. “Chẳng phải vậy sao?” “Có thể. Quá xa để thấy được.” Malcolm nhận thấy mình đã mệt mỏi đến mức nào. Cậu không biết mình đã chèo được bao lâu rồi, nhưng khi chèo chậm lại, gần đến ngôi nhà, cậu càng lúc càng cảm thấy đói, rã rời và lạnh. Cậu gần như không giữ nổi đầu ngẩng lên. Trước mặt chúng, một bãi cỏ chạy nghiêng trồi thẳng lên từ nước lũ rồi cứ thế dẫn tới mặt tiền màu trắng của căn nhà, những cột chống và trán tường. Có ai đó đang đi lại phía sau những cây cột, nhưng ánh sáng lại quá ảm đạm để có thể thấy được gì ngoài sự chuyển động. Khói đang bốc lên từ một ống khói đâu đó phía lưng nhà. Malcolm đưa xuồng đến tựa vào nền cỏ của bãi đất. “Rồi, giờ thì chúng ta sẽ làm gì đây?” Alice hỏi. Con dốc chạy thoai thoải, và mép nước vẫn còn cách xa nơi chiếc xuồng có thể với tới vài thước. “Cởi giày và tất ra đi,” Malcolm nói trong lúc kéo ủng ra. “Chúng ta sẽ kéo xuồng lên khỏi mặt nước. Nó sẽ trượt đi trên nền cỏ dễ dàng thôi.” Có tiếng hét từ trong căn nhà. Một người đàn ông bước ra giữa những cây cột rồi ra hiệu cho chúng biến đi. Ông ta lại hét lên, nhưng chúng không thể nghe nổi ông nói cái gì. “Chị nên đi lên và bảo ông ấy rằng chúng ta phải cho một em bé ăn rồi nghỉ ngơi một lúc, ” Malcolm bảo Alice. “Sao lại là chị?” “Vì ông ấy sẽ chú ý đến chị hơn.” Chúng đưa chiếc xuồng ra khỏi mặt nước, sau đó Alice, vẻ đầy hờn dỗi, trèo lên bãi cỏ về phía người đàn ông lại đang hò hét.

Malcolm kéo chiếc xuồng ra xa khỏi mặt nước và vào trong một bụi cây lởm chởm bên rìa bãi cỏ, sau đó ngồi sụp xuống bên cạnh đấy. Cậu nói với Lyra: “Anh đoán là em vừa mới tỉnh dậy đúng không? Em may mắn thật đó. Làm em bé sung sướng biết bao.” Cô bé lại không hề tỏ ra hạnh phúc. Malcolm bế nó ra khỏi xuồng rồi âu yếm ôm trong lòng, phớt lờ thứ mùi thể hiện rằng nó đang cần được thay tã, phớt lờ bầu trời xám xịt nặng nề cùng cơn gió lạnh buốt và gã đàn ông trong chiếc xuồng hơi ở đằng xa, kẻ đã lại một lần nữa xuất hiện trong tầm mắt. Cậu ôm đứa bé tí hon vào ngực rồi ngượng ngùng hôn lên trán nó. “Bọn anh sẽ bảo vệ an toàn cho em,” cậu nói. “Thấy không, Alice đang nói chuyện với người đàn ông ở trên kia. Một lúc nữa thôi bọn anh sẽ đưa em lên đó, nhóm lửa rồi làm nóng sữa. Đương nhiên, nếu mẹ của em mà ở đây... Em chưa bao giờ có một người mẹ đúng không? Em chỉ là được tìm thấy ở đâu đó. Đại chưởng ấn đã tìm thấy em ở dưới một bụi cây, và ông ấy đã nghĩ, ôi chao, mình không thể chăm sóc một em bé được, tốt hơn hết là đem nó đến cho các sơ ở Godstow. Vậy là từ đó trở đi, sơ Fenella là người chăm sóc em. Anh dám chắc em vẫn còn nhớ sơ ấy. Sơ quả là một bà lão đáng yêu, nhỉ? Rồi sau đó cơn lũ kéo tới và bọn anh phải đưa em đi trên chiếc La Belle Sauvage để em được an toàn. Không biết em có nhớ được gì không nhỉ. Có lẽ là không. Anh chẳng thể nhớ được gì về

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 69

Đang tải bình luận...
phần của nó. Ông ta - Bụi Kí 1 | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip