phần lớn cướp bóc dân định cư, thỉnh thoảng có giết chóc những người chống lại. Anh trông đợi tìm thấy Roscoe chứ không ngờ đến hai tên này. Bây giờ mối nguy hiểm đã qua đi, Roscoe bắt đầu thấy có nhiều vấn đề rầy rà phải giải thích. Trong nhiều ngày anh đã quên mất Elmira cùng việc bỏ đi của cô, tuy đó là lý do khiến anh đến Texas. Anh sẽ phải giải thích với July tại sao lại đi cùng với một cô gái trẻ. Hình như nói đến điều kỳ diệu là sự xuất hiện của July thì hay hơn, nhưng July không muốn bàn nhiều đến cái đó. — Tôi không ngờ lại gặp anh nhanh thế này, – Roscoe nói. — Đào viết thư bảo tôi anh lên đường, – July nói. Anh quyết định giải thích như thế cho tới khi nào có một mình với Roscoe. — Anh nói có một cô gái? – July hỏi. — Đúng, Janey. — Gọi cô ta ra đi, – July nói. Roscoe lúng túng gọi nhưng không một tiếng động và không một dấu hiệu đáp lại của Janey. — Về đi, bọn tôi đã trói được chúng rồi, – anh nói, tuy không mấy hy vọng Janey nghe lời. — Chuyện gì với cô ấy thế? – July hỏi. July nghĩ chắc là một chuyện kỳ quặc. Roscoe không bao giờ tán tỉnh đàn bà. Thật vậy, quanh Đồn Smith người ta bàn tán nhiều đến tài tránh né các bà góa của anh. Thế mà không hiểu sao anh lại đi với một cô gái có thể ném đá chính xác hơn nhiều đàn ông bắn súng. — Tôi không có ý nghỉ đêm tại đây đâu, – July nói. – Cô ấy có ngựa không? — Không, nhưng đi chân nhanh lắm, – Roscoe nói. – Ta đi đâu bây giờ? — Đồn Worth. Sê ríp ở đấy nhận được những tên cướp này chắc là mừng.
— Đúng, chó đẻ ạ, nó mừng đấy. – Hutto nói. Roscoe thấy bỏ Janey lại là không tốt nhưng anh chẳng biết phải nên như thế nào. July buộc hai con ngựa của hai tên cướp vào một sợi dây dắt rồi bảo Roscoe đi sát ngay sau chúng. Việc nộp chúng cho pháp luật làm anh phải đi vòng nhưng không có cách nào khác cả. Lúc đi được khoảng một giờ, Roscoe bỗng sợ hết hồn vì thình lình có ai đó nhảy lên ngựa sau lưng anh. Trong lúc kinh hoàng anh ngỡ Jim đã tuột được dây trói nhảy lên bóp cổ hay đâm cho anh một mũi dao. Rồi anh nghe thấy hơi thở hổn hển và biết đó là Janey. — Cháu không theo mãi được nữa, – cô nói, – đi mau quá. Thấy cô gái đột ngột hiện lên đằng sau Roscoe, Joe không nói được câu nào. Nó không tin một cô gái lại ném đá mạnh và trúng như thế được? Họ đi suốt đêm, khi bình nguyên đã mờ mờ sáng thì họ cách Đồn Worth không quá năm dặm. July liếc lại hai tên cướp, ngạc nhiên thấy cô gái ngồi sau lưng Roscoe. Cô trông rất trẻ. Hai chân bé như cẳng chim. Roscoe ngả gục xuống mấu yên ngủ và cô gái cầm dây cương. July xuống ngựa kiểm tra dây trói Hutto và quả là nút buộc đã tuột. — Tôi chắc cô là Janey, – anh nói. – Cô gật. July đưa khẩu súng săn cho cô giữ để trói Hutto lại. Trong lúc đó Roscoe vẫn ngủ gục xuống cổ ngựa mà ngáy tít. Họ đã sắp đến ngoại vi Đồn Worth mà anh vẫn chưa thức dậy, phải tới khi July nộp bọn cướp anh mới tỉnh hẳn. Janey nhớn nhác như muốn trốn khi họ vào thị trấn – rõ ràng quang cảnh xe cộ và người ngựa đông đúc khiến cô hoảng – nhưng cô giữ nổi bình tĩnh. July tìm một tàu ngựa, vì cần cho chúng nghỉ ngơi chốc lát. Người đàn bà coi tàu ngựa tỏ ra tử tế khi mời Joe và Janey một bữa điểm tâm nho nhỏ. Quần áo Roscoe thật sự rách toang, đến độ bà chủ phì cười. Bà bằng lòng vá lại với cái giá năm mươi xen nhưng Roscoe từ chối vì trong khi chờ vá thì anh chẳng có gì mặc. — Thị trấn này lớn đấy, – Roscoe nói. – Tôi nghĩ có thể mua ít áo quần mới. — Không với năm chục xen được đâu, – bà chủ nói. – Con bé chẳng có gì ngoài cái bao tải này, ông phải mua cả cho nó chứ. Janey thấy Đồn Worth rất đẹp. Cô đã hết sợ, đang nhìn quanh thích thú. — Cậu lấy được cô gái này ở đâu đấy? – July hỏi. — Đúng ra là tôi không lấy, – Roscoe nói. – Cô ấy bỏ trốn, rồi theo tôi. – July xem bộ không hài lòng. Roscoe nói chi tiết đầu đuôi ra.
July đưa anh đến quán rượu, mua cho anh một vại bia. Bây giờ có mình Roscoe thôi, anh lại thấy không muốn nhắc đến Elmira. — Ellie ra sao? – Cuối cùng anh vẫn nói. – Đào bảo là đã bỏ đi. — Đúng, Đào nói đúng, – Roscoe nói. – Hoặc nếu không bỏ đi thì là trốn đi. Có lẽ lên một cái tàu chở uýt ki. — Tôi không hiểu vì sao, – July nhẹ nhàng, gần như nói cho mình. Anh không hiểu vì sao. Khi mọi sự vẫn ổn thì cái gì đẩy người đàn bà bỏ trốn? Dĩ nhiên nói không có gì xảy ra là không đúng. Đã có cái gì đó nhưng anh không biết đấy thôi. — Sau khi tôi đi anh có nói chuyện với cô ấy không? – July hỏi. — Không, – Roscoe nhận. July ngồi im đến năm phút. Rồi nói. — Có lẽ anh nên đưa đám trẻ này quay về Arkansas. Tôi đi kiếm Ellie. — Tôi đi với anh, – Roscoe nói. Đã tìm thấy rồi anh không có ý để tuột July nữa. Nếu anh quay về một mình thì còn xảy ra nhiều chuyện tồi tệ hơn lần đi cơ. — Tôi nghĩ liệu có nên trả tiền cho người đàn bà này nhận cô gái ở lại không đây, – July nói. – Anh nên mua một hai bộ quần áo. Mặc thế này mà đi thì thành thằng hề mất. Người đàn bà coi tàu ngựa bằng lòng cho Janey trọ, ba đô la một tháng. July trả hai tháng. Bà ngỏ ý nhận cả Joe, cho nó trọ không mất tiền, miễn nó giúp quanh quẩn ở tàu ngựa. July đã thuận nhưng Joe nom vẻ không vui nên anh mủi lòng, lại để nó đi cùng. Rồi Roscoe ló mặt ra, trong bộ quần áo cứng đến nỗi July phải nghĩ liệu anh có đi được hay không? Roscoe thấy buồn phải để Janey lại. Anh cho cô hai đô la phòng cô cần tiêu pha nhưng Janey chỉ lắc đầu. Khi họ đi, cô vẫn ngồi trên cái chậu tắm. Joe vui mừng thấy Janey không đi. Cô làm nó cảm thấy mình kém cỏi. Nhưng nó không vui được lâu. Đêm hôm đó họ cắm trại ở trên bình nguyên, hai mươi dặm phía bắc Đồn Worth. Buổi sáng lúc Joe mở mắt ra, Janey đang ngồi xổm bên đống lửa trại lạnh ngắt. Cả July cũng không biết cô đến. Khi anh dậy, cô trả lại anh sáu đô la anh đưa cho người đàn bà. July đành cầm lấy. Suốt hôm đó cô gái chạy cùng với họ bằng đôi chân của mình, không hề bị rớt lại xa. 53
Từ lâu, trước khi con tàu uýt ki dừng lại, Elmira đã biết cô sẽ bị rắc rối với Zwey Bự. Hắn không bao giờ lại gần cô, chẳng cả nói, nhưng mỗi lần cô ra khỏi cái khe hõm ở đống hàng ngồi nhìn nước cô lại cảm thấy bị hắn theo dõi. Rồi khi họ chất uýt ki lên các cỗ xe hàng sắp sửa xuyên qua bình nguyên đến Đồn Bent thì con mắt hắn liền theo cô vào cỗ xe nào cô chọn đi. Elmira thấy hình như Zwey Bự thích cô chính là vì cô nhỏ bé. Đàn ông đồ sộ hình như đều thích cô ở cái dáng nhỏ nhắn. Zwey Bự còn to hơn cả tên săn trâu rừng đã khiến cô phải chạy đến với July. Thỉnh thoảng khi mang cái ăn đến cho cô, Fowler lại ngồi chuyện trò một lát. — Nghề chở uýt ki này sắp hết thời rồi, – một buổi tối hắn nói. – Nghề này sống được nhờ người da đỏ. Bây giờ họ đem da đỏ tập trung vào cả những vùng dưới này. Tôi có lẽ phải lên phương bắc. Zwey Bự có giọng nói âm âm. Đôi khi cô nghe được hắn nói với mọi người qua cả tiếng bánh xe chạy. Fowler chu đáo hết mức với Elmira. Hắn bảo đám buôn rượu dành cho cô một chỗ nho nhỏ – một gian xép tí tẹo, bẩn thỉu. Nó ở gần một nhà kho người ta chất thành đống những tấm da trâu rừng. Mùi da trâu thối hơn bất cứ thứ gì ở trên dòng sông. Gian xép đầy bọ chét bay từ đống da trâu rừng ra. Suốt ngày cô gãi. Tuy Đồn Bent chẳng có gì nhiều để xem nhưng nó là một chỗ bận rộn, lúc nào cũng có người ngựa qua lại. Sau một tuần gãi thả sức, Elmira bắt đầu thấy việc đi theo con tàu chở uýt ki là điều rồ dại. Cô bỏ đi nhưng không ngờ lại sa chân vào một nơi tồi tệ đến như Đồn Bent đây. Không có xe khách tới Đồn Bent – chỉ có một lối đi của xe hàng nhưng cũng sớm mất biến vào trong khoảng trống vắng của bình nguyên. Tuy cô không bị phiền nhiễu nhưng người ở Đồn Bent nom rất dữ dằn. “Họ nghĩ cô chẳng đáng để trấn lột,” Fowler nói, nhưng cô không dám chắc là hắn nói đúng. Rồi một hôm Fowler đem đến cho cô một đĩa thức ăn và cứ bần thần nhìn cô, tựa như có điều muốn nói mà không nói được ra. — Zwey Bự muốn lấy chị, – cuối cùng hắn nói, giọng như thú lỗi. — Kìa, tôi có chồng rồi mà. — Nếu hắn muốn lấy cô chỉ ít lâu thì có được không? – Fowler hỏi. — Tại sao ông ấy không tự hỏi? — Nó không là đứa nói năng được.
Elmira thấy cáu. Một người nào đó ném một tấm da trâu rừng mới lột vào trong kho, ở chỗ cô ngồi, cô nghe thấy tiếng ruồi bay vù vù trên tấm da. — Hắn sẽ đưa chị đến Ogallala nếu chị lấy hắn, – Fowler nói. – Chị nên suy nghĩ. Hắn không xấu như những đứa khác đâu. — Sao ông biết? – Chị hỏi. Fowler nhún vai: — Hắn có lẽ là món bở nhất của chị đấy. Tuần sau tôi xuôi sông. Tôi nghĩ Zwey đối với chị rất tử tế. — Tôi không muốn đi Kansas. Tôi đã ở Kansas rồi. Điều làm hỏng tất cả là cô đang có chửa. Một số quán rượu không kén lắm nhưng nếu bạn có chửa thì bao giờ làm việc cũng gay go hơn. Zwey Bự bắt đầu suốt ngày ngồi ngắm cô. Hắn chẳng có ý đánh bạc hay làm gì khác, chỉ ngồi ngắm cô, thế thôi. Một lần mấy người phát hiện ra một đàn nhỏ trâu rừng. Những người thợ săn khác cay cú đuổi theo, hét gọi Zwey Bự, cãi nhau với hắn, nhưng hắn cứ ngồi. Cuối cùng chúng đi mà không có hắn. Hắn ngồi đấy, khẩu súng để ngang đùi, nhìn Elmira. Điều đó, cái quyền lực của cô đối với con người này, bắt đầu làm cho cô thấy ngồ ngộ. Hắn không nói với cô một lời nào, nhưng hắn có thể ngồi đó, cách mấy chục mét, hàng giờ liền. Phải là một cái gì, cái diễn ra trong đầu đàn ông mỗi khi có đàn bà dính vào, thì mới làm cho đàn ông họ xử sự kỳ quặc đến như vậy chứ. Một buổi sáng cô đi ra ngoài gian xép sớm hơn thường lệ. Khi mở cửa, cô suýt nữa thì vồ phải Zwey Bự, hắn đang đứng ngay trước cửa. Cô xuất hiện bất chợt làm cho hắn bối rối đến nỗi ngơ ngác một lúc rồi mới quay đi, thực sự là con cón chạy, cố tạo ra một khoảng cách an toàn giữa hai người. Hắn là người thô kệch, cảnh hắn cố chạy làm cho cô phá lên cười – điều lâu nay ít thấy ở cô. Hắn cắm cổ chạy, cho tới khi rút lui an toàn về chỗ của mình hắn mới sợ hãi ngoái lại, tựa như đang chờ bị xử bắn vì tội đã đứng ở đó. — Bảo ông ấy là tôi đi đây, – cô nói với Fowler. – Tôi mong ông ta không đến nỗi tệ. — Chị hãy tự bảo hắn, – Fowler nói. Sáng sau cô đi đến chỗ Zwey Bự ngồi. Thấy cô đến, hình như trong một thoáng hắn toan ẩn trốn, vẻ sợ hãi trong con mắt. — Tôi sẽ đi, nếu ông có thể đưa tôi tới Ogallala được. Tôi sẽ trả công cho ông xứng đáng. Zwey không nói gì cả. — Ta sẽ đi như thế nào? Tôi không giỏi cưỡi ngựa lắm.
Zwey Bự im lặng khoảng một phút. Elmira sắp sốt ruột thì hắn đưa mu bàn tay lên cọ mồm, tựa như lau cho sạch. — Có thể bằng xe da này, – hắn chỉ vào một thiết bị ọp ẹp cách đó mấy mét. – Có thể bảo thợ rèn đóng chắc chắn lại được, – Zwey Bự tiếp. Bây giờ đã nói với cô rồi mà không bị sét đánh chết, hắn cảm thấy thoải mái hơn một ít. — Ông nói ý là chỉ có tôi với ông đi thôi à? – Elmira hỏi. Câu hỏi làm cho hắn nghĩ quá lâu. Hắn lại rơi vào im lặng, con mắt bàng bạc. — Có thể đem Luke đi, – hắn nói. Luke là gã săn trâu rừng nhỏ bé, nom như con chồn, bàn tay trái chỉ còn hai ngón. Hắn mang theo súc sắc và hễ có ai kêu đánh bạc là hắn gật luôn. Một lần ở trên tàu, Elmira đã hỏi về hắn, Fowler nói một gã đồ tể đã chặt phăng mấy ngón tay Luke bằng con dao pha, chẳng hiểu vì sao. — Bao giờ đi được, – cô hỏi. – Tôi muốn đi khỏi đây. Tôi chán ngửi da thối rồi. — Bảo người thợ rèn đóng cho chắc chắn xe này, – Bự đáp. Hắn đứng lên, nhấc càng xe kéo nó đến hàng lò rèn cách khoảng trăm mét. Sáng sau, cỗ xe ít nhiều được đắp điếm đã nằm ở bên ngoài gian xép của cô. Khi đi ra xem, cô thấy Luke ngồi trên đó, sau một bữa nhậu say. Hắn há hốc mồm, nhe hàng răng đen xì chẳng còn lại mấy cái. Luke không biết Elmira trong chuyến ngược sông lên nhưng khi tỉnh dậy, hắn nhảy phắt khỏi cỗ xe đi thẳng tới trước cô, khuôn mặt chồn cáo nhăn nhở cười. — Zwey Bự và tôi canh ty ngược lên mạn trên. Chị có đánh xe được không? — Tôi nghĩ đi chậm thì được. Tóc của Luke màu đỏ, lởm chởm chĩa ra mọi hướng như những mũi giáo. — Zwey đi mua mấy con lừa. Chúng tôi có hai con ngựa nhưng không để kéo xe hàng. Muốn gì trong khi cô đánh xe thì chúng tôi cũng có thể kiếm được ít da. — Tôi không thích mùi da. Elmira mau chóng nắm được cách đánh lừa. Không khó lắm vì hai con Zwey mua về sẵn sàng đi theo hai người cưỡi ngựa. Chỉ khi họ phóng ngựa đi săn thì chúng mới có vẻ dở chứng. Hết ngày thứ hai, hai người đàn ông vắng mặt, cô đã điều khiển lừa qua một con suối bờ quá cao, quá gồ ghề đến độ cô cảm thấy xe có thể lật nhào. Hôm đó hai người đàn ông giết hai chục con trâu rừng. Elmira phải chờ dưới nắng suốt ngày cho họ lột da. Họ chất những bộ da máu me hôi hám lên xe, điều này không hợp với hai con lừa. Chúng khiếp mùi da chẳng kém gì cô. Zwey Bự rút vào im lặng, nhường mọi trò chuyện lại cho Luke, hắn cứ huyên thiên bất kể có hay không có ai nghe.
Bình nguyên ở xa nom bằng phẳng nhưng đi tới thì lại gồ ghề kinh người. Zwey Bự cho cô một tấm chăn lót lên ghế cứng – nó giữ cô khỏi bị dập xương chứ không làm cho êm được. Một mình giữa vùng đồng cỏ bao la vắng ngắt với hai người đàn ông cô cảm thấy e ngại. Ở các thị trấn buôn bán bò, đàn bà con gái nhiều – nếu một gã đàn ông làm sằng họ có thể hét lên. Ở trên tàu có vẻ cũng không nguy hiểm bằng, vì đám đàn ông còn mải đánh nhau. Nhưng ban đêm, giữa đồng cỏ chỉ trần có ba người và chẳng có cái gì giữ cho người nào bận bịu hết. Zwey Bự ngồi nhìn cô qua ngọn lửa trại, Luke cũng nhìn, trong khi nói. Cô không hiểu liệu Zwey Bự có coi như thế này đã là lấy cô rồi không. Cô lo hắn có thể thình lình đi đến bảo hắn muốn bắt đầu cưới nhau, tuy cho đến nay hắn tỏ ra quá cả thẹn, chả nói năng gì mấy với cô. Cô còn biết hắn mong cô cũng lấy cả Luke nữa song cô không muốn thế. Nhưng khi cô đến cỗ xe có xếp tấm chăn duy nhất lại làm giường thì chẳng đứa nào theo bám. Cô nằm thao thức một lúc lâu, lo sợ, nhưng hai người đàn ông cứ ngồi bên lửa, thỉnh thoảng nhìn về phía cô song không làm một cử chỉ nào quấy rầy. Luke lấy con súc sắc ra và chúng đánh chơi. Elmira đã ngủ nhưng ít giờ sau tiếng sấm rền đánh thức cô dậy. Hai người đàn ông ngủ ở bên đống lửa đã lụi. Cô nhảy xuống chui vào gầm xe. Khi sét đánh, cả đống cỏ chìm ngập trong ánh sáng trắng lóa. Trận mưa giông mau chóng qua đi nhưng cô nằm thức cả đêm ở gầm xe nghe tiếng nước rỏ từ trên xe xuống. Trời rất tối. Cô không hiểu có xảy ra chuyện gì cho hai người đàn ông không. Sáng ra, họ vẫn ở chính cái chỗ họ nằm lăn ra ngủ, ướt như chuột lột. Chẳng ai bàn tán về cơn giông. Elmira cả quyết rằng chúng đã quen đi đường vất vả và tốt hơn cả là cô cũng nên quen dần với nó. 54 Augustus mất nửa ngày đầu tiên tìm dấu chân vì Vịt Biếc đã ranh ma đưa Lorena đi qua đám gia súc cho nên dấu chân ngựa của họ đã bị lẫn vào hàng nghìn dấu chân bò. Đó là một cái mánh hay, một cái mánh ít người dám dùng đến. Đã nhiều năm trôi đi từ ngày Augustus phải lùng tìm vết chân. Anh đi qua vùng suốt buổi sáng, cố nhớ lại người cuối cùng bị anh lùng vết, cốt để cho mình được vững tâm. Anh nhớ hình như người cuối cùng ấy là gã ăn trộm ngựa vụng về tên gọi Webster Witter. Điều anh nhớ nhất về Webster Witter là hắn cao mà hai anh phải treo hắn lên một cành cây thấp. May sao cổ Webster bị gãy ngay khi họ quất con ngựa chạy ra khỏi, nếu không
hắn sẽ đứng khựng đó mà cười giễu họ vì cái cành mesquite oằn xuống một cách tệ hại còn hai chân Webster thì quét lê mặt đất. Ít ra cũng đã mười hai năm và Augustus mau chóng nhận thấy tài nghệ lùng vết của mình đã cùn đến độ vô dụng. Những dấu chân ngựa anh tìm thấy trong ba giờ đầu tiên đều là ngựa của Hat Creek. Anh quyết định quay về gọi Deets, tuy biết Call sẽ không vui. Cuối cùng, khi vòng rộng ra phía Tây Bắc, Augustus đã đi xéo qua vết chân ba con ngựa. Vịt Biếc đã chỉ dùng một mánh duy nhất – đi băng qua đàn bò sống chạy – và chỉ mánh đó thôi. Sau đó vết chân cứ thẳng tắp lên phía Tây Bắc, rành rành đến nỗi Gus mau chóng thấy chẳng cần phải bận tâm nhiều đến chúng làm gì. Nếu có mất thì thường anh lại tìm ra trong vòng nửa dặm. Anh đi căng hết sức, nhưng lại chỉ có một con ngựa và anh không thể làm hại nó. Ở mỗi chỗ uống nước anh cho nó nghỉ năm phút. Anh đi suốt đêm, ngày hôm sau dấu chân vẫn cứ thẳng lên phía Tây Bắc. Anh thấy không vui vì chưa đuổi kịp, Lorena đang nếm mùi một cuốc đi đường gian truân mà cô chưa từng bao giờ tưởng tượng đến. Chắc cô còn phải đối phó với nhiều thứ gay go hơn đi đường và chỉ Augustus biết đây là lỗi của anh. Lẽ ra anh phải đưa cô về trại ngay. Đó là kiểu sơ suất anh thường mắc phải, suốt đời – những cái nguy hiểm lù lù lại không làm cho anh lo lắng. Ngày thứ hai anh gần như không cần dò vết vì đã rõ là Vịt Biếc đi đến Staked Plains, một vùng lớn, nhưng Augustus nghĩ anh biết Vịt Biếc đi đâu: đến một chỗ ở tây bắc và tây hẻm núi Palo Duro – khi bị đuổi hắn thường chạy về đó. Đã một lần anh và Call ngồi ở đầu đằng tây của hẻm núi đồ sộ này, nhìn về phía tây qua những khoảng xa không một giọt nước. Cuối cùng hai người quyết định kết thúc cuộc lùng đuổi ở đây trong khi còn có cơ may sống sót mà trở về. Họ không sợ da đỏ bằng sợ không có nước. Đang giữa mùa hè, bình nguyên nom khô nỏ, chỗ là cỏ thì chỉ một màu nâu giòn tan. Chiều hôm đó, anh băng qua Chạc Sạch Quang của sông Brazos và đi ngang một căn lều làm dở, bỏ hoang, trống hốc. Một gợi nhớ khá mạnh mẽ về quyền uy của da đỏ Comanche – những trận tàn sát đã làm cho nhiều người định cư phải rút chạy. Suốt những năm năm mươi anh và Call đã chứng kiến tuyến ranh giới tiến lên để rồi lại sụp đổ sau đó không lâu. Những con người ngược đèn Trinity và Brazos không phải là những người xa lạ với lam lũ – nhưng lam lũ là một, còn kinh hoàng lại là một việc khác. Đất thì rộng và đất của họ đang chờ cả đấy nhưng đất không loại trừ được cho nỗi sợ – một điều Call không bao giờ hiểu. Anh ngán ngẩm thấy người da trắng bỏ cuộc, rút lui. — Cậu chưa bao giờ kềnh càng trên giường với một đứa đàn bà đang run sợ, – Augustus nói. — Thì họ có thể xa vợ một thời gian chứ sao, – Call đáp. – Khi nào an toàn thì lại đưa vợ đến.
— Đã cất công lấy vợ thì ai còn muốn bỏ vợ lại chứ, hả? – Augustus vạch rõ. – Như thế có nghĩa là tự tay phải làm mọi việc vặt. Ngoài ra, không vợ kề bên thì không có con, mà con là nguồn tuyệt vời của sức lao động không phải trả lương. Rẻ hơn nô lệ là cái chắc. Đêm hôm đó Augustus dừng chân cho ngựa nghỉ, cắm trại không đốt lửa ở một rìa đất con con, ăn một ít thịt bò khô mang theo. Anh đang ở vùng có những cây sồi thẳng tắp mọc thành búi gần với Brazos, từ cái rìa đất anh có thể nhìn xa quá các thung lũng dưới trăng. Anh ngạc nhiên thấy mình đã quên cả cảnh tượng hoang vắng hiện vẫn tồn tại trên cái vùng đất đang trải rộng ra quanh anh. Dẫu sao anh cũng đã sống nhiều năm trong tiếng đàn dương cầm của quán Đậu Khô, tiếng chuông lễ trong ngôi nhà thờ nhỏ ở Bồ Câu Cô Đơn, tiếng Bol quạng chuông báo bữa tối. Thậm chí anh còn ngủ cả trong tiếng Đậu Ve ngáy ran, đều đặn như tiếng tích tắc đồng hồ. Nhưng ở đây không một tiếng động, không gì hết. Các con sói đồng cỏ cũng im lặng, và cả dế, châu chấu, cú… Chỉ có tiếng con ngựa anh gặm cỏ. Ở mọi ngả, từ anh đến các vì sao, chỉ thuần im lặng và hoang vắng. Tuy đi rất căng anh vẫn cảm thấy thanh thản lạ lùng, thanh thản chỉ nhờ có im lặng mà nên. Hôm sau anh tìm thấy xác con ngựa cái của Lorena. Hết ngày hôm đó anh mới đi ra khỏi vùng bụi cây. Đã hai ngày không thấy dấu chân Vịt Biếc nhưng anh không ngại. Anh luôn tin vào linh cảm, và cảm thấy mình biết hắn sẽ dừng lại ở đâu. Có thể hắn thiên về Vách Gạch Mộc, một trong những đồn xưa của Bent. Đồn này, trên sông Canadian, trở thành nơi tụ tập của đám săn trâu rừng, cũng như bất cứ ai đi ngang qua bình nguyên. Đang là mùa xuân, số ít trâu rừng còn sót lại chắc là đang đi lên phương bắc, những người săn trâu rừng chắc sẽ tụ tập ở cái đồn xưa, chuẩn bị cho mùa thu hoạch da cuối cùng. Họ nổi tiếng là không cầu kỳ kén chọn người cùng đi; mặc dù Vịt Biếc và đồng bọn đã lần lượt bắn tỉa làm họ vơi đi nhiều, nhưng nếu hắn lên đó với một phần thưởng như Lorena thì chắc sẽ làm cho họ bỏ qua thù cũ. Cũng lại còn những băng chống đối của da đỏ Sioux và Comanche vẫn chạy nhông trên bình nguyên, coi như đã bị xé lẻ nhưng vẫn còn bền chắc một hai năm nữa và ngay lúc này đây anh đang đi vào vùng đất của họ. Anh không sợ cho mình mà sợ cho Lorena. Vịt Biếc có thể bán cô cho một thủ lĩnh chống đối nào đó hám mùi đàn bà da trắng. Nếu định đổi cô cho một da đỏ thì hắn chắc sẽ phải đưa cô lên xa hơn về phía Tây, qua vùng đất được biết với cái tên Quitaque, rồi lên phía Bắc đến sông Canadian, ở đây người Comanche hàng chục năm nay đã buôn người da trắng bị bắt. Gần đó là Thung Lũng Nước Mắt lừng danh, những người bị bắt rồi trở về được đã nói đến nơi đây với hết nỗi đau thương.
Khi đi vào Quitaque, một vùng đất khô cằn ở đó các hẻm núi đỏ rực lan dài về phía Tây đến Palo Duro, Augustus đã nhìn thấy những con quỷ cát nho nhỏ đang lượn xoáy trôn ốc cất lên từ mặt đất lộ thiên ở đằng xa trước mặt. Trong hơi nóng ban ngày, ảo ảnh với hình những mặt hồ phẳng lặng hiện ra, rõ nét đến độ anh gần như đã bụng bảo dạ là có nước ở trước mặt. Anh quyết định trước tiên đi thẳng tới chỗ qua sông lớn ở trên dòng Canadian. Nếu không có dấu hiệu Vịt Biếc ở đấy anh vẫn có thể theo sông lên tới Vách Gạch Mộc. Anh băng qua Chạc Chó Đồng Cỏ ở Sông Hồng – thật sự đầy chó đồng cỏ – và đi về phía Tây đến rìa Palo Duro. Nhiều lần anh trông thấy những đàn trâu rừng nho nhỏ và hai lần đi qua những thung lũng đầy xương trắng nhởn, những nơi đám săn trâu rừng có thời đã tàn sát hàng trăm nghìn con. May mắn anh đã tìm được một mạch nước phun rồi nghỉ đêm cạnh đó, cho ngựa lấy sức để đi chặng cuối cùng. Muộn ngày hôm sau anh đi vào những đoạn khô cạn của con sông Canadian. Anh đi nhiều dặm về phía Đông, hy vọng bắt được dấu Vịt Biếc. Không gặp. Và anh nghĩ mình đã lầm khi đi quá xa về phía Tây. Chưa kịp ca cẩm về lỗi lầm của mình, Augustus chợt nhìn thấy một bóng người đi ngang qua phía bắc bình nguyên, về phía sông. Thoạt đầu anh nghĩ có lẽ là Vịt Biếc, nhưng nếu thế thì Lorena đâu? Augustus rút súng trường, phòng khi cái bóng quay ra thành thù địch. Anh phi nhanh tới chỉ để phát hiện ra một ông già với chòm râu bạc bẩn thỉu, đẩy một chiếc xe cút kít qua mặt đất phẳng. Chiếc xe chở xương trâu rừng. Và Augustus nhận ra mình biết người này. Tên ông ta là Aus Frank, trước đây sống ở núi, làm nghề bẫy bắt hải ly. Đã có dạo ông ta có một cửa hàng ở Waco nhưng không hiểu sao lại lên cơn điên, đi cướp nhà băng ở ngay cạnh cửa hàng của mình. Lúc đó Call và Augustus ở Waco và tuy Call cảm thấy các chủ nhà băng ngu xuẩn đáng để cho bị cướp, hai người đã buộc phải lùng đuổi. Họ bắt được ngay ông ta. Suốt đường về ông chửi rủa họ và hôm họ rời thị trấn thì ông vượt ngục. Thế mà bây giờ ông lại đang đẩy một chiếc xe cút kít đầy xương trâu rừng qua vùng cao nguyên. Xem vẻ ông ta không có vũ khí nên Augustus cưỡi ngựa thẳng đến, giữ súng ngang yên. — Hế lô Aus, – Anh nói khi đi tới. Ông già liếc nhìn anh nhưng không đáp. Ông cứ đẩy cái xe đầy xương trên mặt đất gồ ghề. — Tôi chắc ông không nhớ tôi, – Augustus nói, buông mình xuống bên ông ta. – Tôi là Đại úy McCrae. Chúng ta đã có dạo bắn nhau cả một buổi chiều, ở mạn trên Brazos ấy.
Ông thì ở trong một vạt cây còn tôi và Đại úy Call thì ở vạt bên cạnh. Chúng ta nã đạn vào các cây sồi rồi chúng tôi quẳng ông vào tù và ông lại chui ra khỏi đó ngay lập tức. — Tôi không thích ông lắm đâu, – Aus Frank nói, vẫn cho cỗ xe lăn đi. – Đem bỏ tôi vào cái nhà tù khốn kiếp. — À, tại ông đi cướp nhà băng. Cướp của láng giềng là không đúng đạo Thiên chúa mà. Giữ mãi hận thù cũng không phải là đạo Thiên chúa đâu. Ông có theo đạo Thiên chúa từ lúc ra đời không? — Không, – Aus Frank nói. – Anh muốn gì? — Một cô gái da trắng. Đẹp đấy. Một tên cướp đưa cô ấy đi. Ông có thể biết hắn. Tên là Vịt Biếc. Aus Frank dừng cỗ xe lại. Ông nhỏ miếng tướng nước quết thuốc lá vào một tổ kiến lửa. Đàn kiến bị phá tổ bỏ chạy tứ tung. Augustus phì cười. Aus Frank luôn luôn độc đáo. — Bây giờ là mánh mới đấy, – Augustus nói. – Nhổ vào kiến. Ngoài chở xương ra, tôi chắc ông chỉ nhổ vào kiến mà thôi. Aus Frank lại đi và Augustus theo, thú vị bởi những sự biến hóa của cuộc đời. Chẳng mấy chốc họ đã xuống thung lũng sông Canadian. Augustus ngạc nhiên thấy một núi xương trâu to tướng cách mép nước sông chừng năm chục mét. Xương được chất cao lắm, anh thấy có vẻ Aus Frank phải dùng đến một cái thang tuy anh không thấy cái nào. Dưới kia một phần tư dặm nữa lại một núi xương khác, cũng lớn như đống này. — À tốt, tôi thấy ông bận đây, – Augustus nói. – Ông bán xương này cho ai? Aus Frank lờ không đáp. Trong khi Augustus đứng xem, ông đẩy xe đến chân núi xương rồi cố hết sức ném những khúc xương lên cao. Trong năm phút, cỗ xe hết sạch. Không một lời, Aus Frank đẩy xe trở lại đồng cỏ. Augustus quyết định nghỉ trong khi ông già làm việc. Trại như hiện có ở đây là trại thô lậu. Aus đã đào cái hang vào trong một bờ đất đỏ ở phía nam sông, đồ đạc của ông chất đầy trước hang. Có một khẩu súng săn trâu rừng, một ít nồi chảo, thế thôi. Chỗ qua sông chính cách một dặm bên dưới, Augustus cưỡi ngựa xuống đó xem xét trước khi cởi yên cương ra cho ngựa. Có vô khối dấu chân ngựa nhưng không phải những dấu chân anh tìm. Anh thấy năm núi xương ở giữa chỗ qua sông và trại của Aus Frank, mỗi nơi có đến hàng tấn. Trở về trại, Augustus nghỉ trong bóng một bờ đất nhỏ. Sau khi tung xong chuyến xương cuối cùng, ông đẩy xe về trại, lật úp xe xuống rồi ngồi lên trên, ông nhìn Augustus lâu hai ba phút không nói gì cả. — Nào, ông có mời tôi ăn tối không? – Augustus hỏi.
— Lẽ ra không nên bắt tôi, – Aus Frank nói. – Tôi không ưa cái nhà băng khốn kiếp ấy đâu. — Ông không ngồi trong tù đến bốn giờ đồng hồ mà, – Augustus nhắc. – Tôi đã thấy ông làm cật lực như thế nào rồi, tôi chắc ông cần nghỉ đấy. Tôi thấy ông cuối cùng đã học tiếng Anh. — Tôi không ưa cái nhà băng khốn kiếp ấy đâu, – ông nhắc lại. — Ta hãy nói chuyện khác đi nào, – Augustus nói. – Ông không bị bắn là may. Cái vạt cây rậm đã cứu ông. — Chúng nó lừa tôi vì tôi không nói thạo tiếng Anh, – Aus Frank nói. — Ông lên mạn sông Canadian này bao lâu rồi? — Năm năm, – Aus nói. – Tôi muốn mở một cửa hàng. — Hay đấy, nhưng ông lên sớm hơn thiên hạ. Họ chưa lên trong mười năm nữa hay hơn đâu. Tôi nghĩ đến lúc đó ông phải có một cái kho vô thiên lủng xương là xương. — Đã có một xe hàng. Bị lấy cắp mất. Da đỏ Apache lấy mất. — Thế ư? Tôi không nghĩ da đỏ Apache lại sống ở quanh đây đâu. — Đằng gần Pecos ấy, – Aus nói. – Tôi bỏ núi đi. Không thích tuyết. — Phải chọn thì tôi ưa tuyết đấy, – Augustus nói. – Nhưng chỗ ông sống đây vắng vẻ quá. Da đỏ có quấy ông không? — Họ để mặc tôi, – Aus nói. – Đứa anh đang tìm ấy ác lắm. Nó đã giết Bob. Đốt lửa bên dưới cho Bob cháy xèo xèo ở trên. Nhưng nó không quấy tôi, – ông nói thêm. – Giết Bob mà để mặc tôi. — Bob nào? — Bob già ấy, ở trên núi cùng với tôi ấy, – Aus nói. — Được, nếu tôi tìm được thì nó chẳng còn sống để thiêu người nữa đâu. — Nó nhanh đấy, Vịt Biếc ấy. Có mấy thằng da đỏ Kiowa với nó. Chúng nó ăn mất con chó của tôi. — Bao nhiêu thằng Kiowa? — Con chó to. Con chó đã giết những hai con sói. — Sống ở cao nguyên thế này thì tôi cá là mùa rét ông có gió thổi mát cho đấy. — Kiowa chúng nó ăn mất con chó của tôi, – Aus nhắc lại. – Chó khôn lắm. — Tại sao Vịt Biếc không giết ông?
— Cười giễu tôi. Cười các đống xương. Nó bảo lúc nào thích thì nó giết. — Nó nhảo quanh với bao nhiêu đứa Kiowa? – Augustus hỏi nữa. Ông già rõ ràng chưa quen có ai để nói chuyện, từng câu của ông cứ bật ra cấm cẳn. — Sáu. — Ai ở mạn đằng Vách Gạch Mộc? – Augustus hỏi. Ông già không trả lời. Bóng tối đã buông xuống. — Không có hải ly ở sông, – Aus Frank nói sau một lát. — Khi còn sẵn hải ly ông đã lên Montana chưa? Augustus đợi trả lời nhưng ông già không đáp. Khi trăng lên, Augustus thấy ông đã ngủ ngồi trên xe cút kít, đầu gục lên hai cánh tay. Augustus đói và mệt. Anh nằm xuống ngay tại chỗ đang ngồi, nghĩ đến cái ăn và ngủ mất. Một tiếng động làm anh tỉnh giấc, rút súng ngắn ra. Trời đã sắp sáng, anh đoán vậy bởi nhìn trăng, nhưng tiếng động này lạ với anh. Anh thận trọng quay người lại và hiểu ngay. Aus Frank dậy giữa đêm nhặt nhạnh một xe xương nữa. Lúc này ông đang tung xương lên. Tiếng động đánh thức Augustus dậy là tiếng xương lăn kêu chan chát. Augustus cho súng vào bao đến xem ông già. — Aus ạ, ông kỳ dị đấy, – anh nói. – Tôi nhận đúng là ông làm cả ngày lẫn đêm. Lẽ ra ông nên canh ty với Woodrow Call. Hai người ngoặc với nhau thì bây giờ ông với hắn đã làm chủ cả thế giới. Aus Frank không đáp. Ông đổ hết xe cút kít, đẩy nó lên bờ dốc, đi ra khỏi con sông. Augustus lấy ngựa cưỡi về phía đông. Trên đường anh thấy Aus Frank đang làm việc dưới trăng, ông ta có khối việc làm vì xương trâu rừng rải khắp bình nguyên. Vẻ như cả một đàn nguyên vẹn đã bị diệt ở đây, xương làm thành một con đường vươn tít mãi vào bình nguyên. — Tôi đến Vách Gạch Mộc giết Vịt Biếc cho ông đây. Cần gì không? Aus Frank dừng lại, tựa như ngẫm nghĩ. — Tôi mong là chúng không giết con chó đi, – ông nói. – Tôi ưa con chó ấy. Bọn Kiowa giết nó chứ không phải bọn Mexico đâu. Sáu thằng Kiowa. — Được, tôi đã có sáu viên đạn đây. Có lẽ tôi sẽ đưa bọn đểu cáng ấy đến chỗ con chó của ông đã đến.
— Bọn Kiowa ấy bắn ngựa của Bob, – Aus nói thêm. – Thế mới bắt được Bob chứ. Chất lửa ở dưới người rồi đốt lên. Cách của bọn chúng đấy. Rồi ông nhấc càng xe cút kít đi về sông Canadian. Ánh mặt trời vừa ló ra, bình minh là giờ anh ưa thích nhưng nó cũng lại là cái giờ Augustus cảm thấy sâu sắc nhất anh đang là một thằng rồ. Một mình đi dọc sông Canadian, dễ bị bọn cướp nhót lấy ngon lành, lại cộng thêm đói bụng nữa, vậy đó là gì nếu không phải là điên? Một loạt những chuyện điên rồ đã đưa anh đến đây: quyết định đột ngột của Call muốn trở thành một nhà buôn gia súc và cả quyết định của bản thân anh, cũng thình lình không kém, cố đi cứu một cô gái mà bản thân cô ta cũng khá là điên mới đi bập vào Jake Spoon. Chẳng cái nào có thể hiểu được nhưng anh cũng phải nhận rằng ở trong các sự điên rồ kia đã có một cái gì đó nó làm cho anh thích. Trong khi mặt trời chiếu sáng ngọn cỏ lên, anh đi về phía đông dọc theo con đường xương trâu rừng. 55 Khỉ John ghét nhất là cô không nói. “Mẹ kiếp, tao cắt lưỡi mày đi nếu như mày không dùng đến nó,” một lần hắn bảo, rồi hắn đánh cô ngã xuống, ngồi lên người cô, con dao to đùng cách mặt cô một đốt ngón tay, cho tới khi Mặt Chó dọa bắn hắn nếu hắn không để cô yên. Lorena mong hắn giết mình. Hắn là đứa tệ hại nhất cô từng biết đến, tệ hại hơn cả Ermoke và bọn da đỏ Kiowa, tuy đám kia cũng đã khá tệ hại. Cô nhắm mắt lại, chờ lưỡi dao đâm xuống nhưng Mặt Chó đã lên cò súng lục và Khỉ John thôi dọa. Hắn vẫn ngồi trên người cô, cãi nhau với Mặt Chó về sự nín lặng của cô. — Nó nói thì mày hơn cái gì? – Mặt Chó hỏi. – Tao cũng có nói chuyện với mày đâu chứ, thằng già còi, mẹ kiếp. — Nó nói được, mẹ kiếp nó, – Khỉ John nói. – Vịt Biếc nói là có qua lại với nó vài câu. — Nó không nói là việc của nó, – Mặt Chó quát. Hắn gầy như thằng bù nhìn nhưng có cặp mắt điên dại, và Khỉ John không bao giờ dám chọc tức hắn quá. — Mẹ kiếp, chúng mình đã mua nó rồi, – Khỉ John nói. – Đưa tất cả da trâu rừng đổi lấy nó chứ ít? Nó phải làm những gì chúng mình bảo chứ. — Mày cũng đã lấy được đáng đồng tiền rồi, – Mặt Chó nói. – Muốn gì thì