Bí Mật Của Những Bí Mật

phần của cái toàn thể, trong hài hoà

phần của cái toàn thể, trong hài hoà

phần của cái toàn thể, trong hài hoà với cái toàn thể. Ánh sáng không trong thân thể một mình, cũng không chỉ ở ngoài thân thể. Sơn và hà và đại lục được nhật và nguyệt chiếu sáng; mọi cái đó là ánh sáng này. Một khi bạn đã thấy nó ở bên trong bạn sẽ nhận ra nó ở mọi nơi: trong mặt trăng, trong mặt trời.... Mọi ánh sáng là như nhau - bên trong và bên ngoài không tạo ra khác biệt. Do đó nó không chỉ bên trong thân thể. Hiểu biết và sáng tỏ, cảm nhận và chứng ngộ, và mọi chuyển động của linh hồn đều giống ánh sáng này.. Chính là cùng ánh sáng này mà bạn thấy trong mặt trăng, và cái bạn thấy bên trong bản thân bạn trong con mắt thứ ba. Một khi bạn đã thấy rằng nó là cùng ánh sáng, bên trong và bên ngoài không còn phân biệt. Cái bên trong là cái bên ngoài, cái bên ngoài là cái bên trong. Đó là lí do tại sao các Thiền sư nói rằng samsara là nirvana; thế giới - chính thế giới này - là chứng ngộ. Chính thân thể này là phật, chính thế gian này là thiên đường. Đó là lí do tại sao khi Phật trở nên chứng ngộ, ông

323 ấy nói, “Không thể nào tưởng được, không thể nào tin được rằng khoảnh khắc ta trở nên chứng ngộ, toàn thể sự tồn tại đã trở nên chứng ngộ cùng ta.” Trong suốt nhiều thế kỉ các thiền nhân Phật giáo đã từng thiền về điều đó, “Ông ấy ngụ ý gì? Ông ấy muốn nói gì - ‘Khoảnh khắc ta trở nên chứng ngộ, toàn thể sự tồn tại trở nên chứng ngộ’ sao? Nhưng làm sao nó có thể vậy được? - bởi vì vẫn có nhiều người không chứng ngộ mà. Ông ấy có thể ngụ ý cái gì?” Bản thân thiền nhân này nghĩ, “Mình còn chưa chứng ngộ, vậy làm sao toàn thể sự tồn tại đã trở thành chứng ngộ được?” Nó đã trở nên được chứng ngộ với Phật vì ông ấy đã thấy phân biệt giữa cái bên trong và cái bên ngoài không là gì ngoài bản ngã - bức màn mỏng nhỏ này của bản ngã. Một khi bức màn đó đã rơi xuống thì không có gì bên trong, không có gì bên ngoài. Cho nên Phật không thể nói, “Ta đã trở nên chứng ngộ.” Ông ấy nói, “Cái toàn thể đã trở nên chứng ngộ.” Mọi cây, và mọi sông, và mọi núi, và mọi người, và mọi con vật, và mọi hành tinh - tất cả đều đã trở nên chứng ngộ, bởi vì bây giờ ông ấy không có căn cước tách rời. Ông ấy không ngụ ý rằng bạn đã trở nên chứng ngộ; ông ấy đơn giản nói, “Ta không thể nói được rằng ta đã trở nên chứng ngộ. Ta đã trong tù túng, chừng nấy ta có thể nói được. Ta đã dốt nát, chừng nấy ta có thể nói được. Nó là khổ, chừng nấy ta có thể nói được. Nhưng bây giờ, ta không còn nữa.” Sự tồn tại là phúc lạc. Sự tồn tại là đầy ánh sáng. Và ánh sáng bên trong và ánh sáng bên ngoài đều là một - không có cái gì bên trong, không có cái gì bên ngoài, mọi phân biệt biến mất. Khi ánh sáng đi vào trong con mắt thứ ba - một con mắt, con mắt duy nhất - mọi phân biệt biến mất: cầu vồng lại trở thành một tia sáng trắng.

324 Mới hôm nọ có một câu hỏi, “Osho ơi, tại sao thầy bảo chúng tôi mặc đồ cam còn thầy mặc đồ trắng?” Nó chỉ là biểu tượng thôi, chỉ để nói cho bạn rằng bạn phải đi tới điểm mà mầu sắc biến mất và một tia sáng trắng còn lại, không có phân biệt nào. Hiểu biết và sáng tỏ, cảm nhận và chứng ngộ, và mọi chuyển động của linh hồn đều giống ánh sáng này; do đó, nó không chỉ là cái gì đó bên ngoài thân thể. Nó không là bên ngoài không là bên trong; nó là mọi nơi - bên trong nữa, bên ngoài nữa. Và nó là cùng ánh sáng đó - cùng ánh sáng mà bạn thấy chói sáng lên trên mầu lục và hoa, và nhảy nhót trên hoa sen. Nó là cùng ánh sáng mà trở thành sáng tỏ bên trong - chứng ngộ, cảm nhận, hiểu biết. Và nhớ lấy, thầy nói hiểu biết, không là tri thức. Thầy nói sáng tỏ, không là câu trả lời. Người ta đơn giản trở thành sáng tỏ tới mức câu hỏi biến mất, không phải là bạn đạt tới câu trả lời nào đó đâu; duy nhất là bạn sáng tỏ tới mức lẫn lộn không còn đó nữa, có vậy thôi. Nó là việc thiếu vắng câu hỏi chứ không hiện diện câu trả lời, do đó nó được gọi là hiểu biết, không là tri thức. Mới hôm nọ, Aniruddha cũng hỏi, “Khác biệt là gì giữa tri thức của chúng tôi và tri thức của thầy? Tôi không thấy khác biệt nào,” anh ấy nói. Khác biệt không phải là trong tri thức. Anh ấy phải đã từng nghĩ rằng tôi biết nhiều hơn anh ấy biết. Chính điều ngược lại mới là hoàn cảnh: tôi không biết nhiều hơn bạn biết; thực ra, bạn biết và tôi không có tri thức. Tôi chỉ có sáng tỏ - sáng tỏ, hiểu biết - không phải tri thức. Ở đây

325 có nhiều người biết nhiều hơn tôi - và đó là vấn đề của họ - và họ sẽ phải vứt bỏ tri thức đó. Tôi không biết một điều nào, nhưng chỉ có sáng tỏ.... Khi bạn hỏi tôi một câu hỏi, không phải là tôi có câu trả lời cho nó đâu, nhưng tôi chỉ hội tụ sự sáng tỏ của tôi vào nó, cố hiểu, và bất kì đáp ứng nào tới từ sự sáng tỏ tôi đều cho bạn. Nó không phải là tri thức. Nó chỉ là năng lực để thấy. Tri thức làm cho mọi người mù quáng. Mắt họ trở thành đầy tri thức họ không thể thấy được. Ngay cả trước khi bạn hỏi câu hỏi họ có câu trả lời được làm sẵn ở đó rồi. Họ sẵn sàng trả lời nó. Họ không lắng nghe câu hỏi của bạn, họ không lắng nghe người hỏi, họ không lắng nghe bản thể người đó. Họ không nhìn vào trong người đó để xem người đó ngụ ý gì; họ có câu trả lời làm sẵn. Họ vội vàng trả lời bạn - và họ phải chứng minh câu trả lời đó bằng các luận cứ và kinh sách, và họ phải cho mọi loại hỗ trợ cho nó. Tôi chỉ có một loại hiểu biết, cách nhìn, năng lực để thấy. Đó là lí do tại sao thầy nói: Hiểu biết và sáng tỏ, cảm nhận và chứng ngộ… Nó không phải là tri thức, nó chỉ là bầu trời hoàn toàn không mây bên trong. Quang hoa của thiên và địa trút đầy hàng nghìn không gian. Nhưng cũng quang hoa của riêng thân thể đi qua thiên và bao phủ địa.

326 Nó là quang hoa, toàn thể sự tồn tại này. Đây là kinh nghiệm của nhà huyền môn... rằng sự tồn tại được làm từ không cái gì khác ngoài ánh sáng - nó toàn là ánh sáng, ánh sáng là cấu thành cơ sở của sự tồn tại. Và vật lí học hiện đại đồng ý với điều đó. Họ gọi nó là điện. ‘Ánh sáng’ là một từ có tính thơ ca quá nhiều cho họ, họ phải kéo lê nó trên đất - nó trở thành ‘điện’. Nhưng điều họ nói đích xác là một. Vật chất đã biến mất khỏi vật lí hiện đại, vật chất không còn nữa. Và cốt lõi sâu nhất của vật chất không là gì ngoài điện, điện tử, hạt điện nhảy múa, hạt năng lượng nhảy múa, không vật chất trong chúng, không trọng lượng. Điều này đã từng được kinh nghiệm bởi các nhà huyền môn trong nhiều thế kỉ, không ngoại lệ nào; dù nhà huyền môn được sinh ra ở Ấn Độ hay ở Trung Quốc hay ở Tây Tạng cũng không tạo ra khác biệt gì. Điều này đã từng là kinh nghiệm nền tảng nhất của mọi nhà huyền môn: rằng sự tồn tại được làm ra từ ánh sáng và không gì khác. Bí mật của Hoa Vàng nói, “Ánh sáng này, hoa của ánh sáng này, những cánh hoa ánh sáng này trút khắp các không gian bên ngoài và bên trong nữa.” Do đó, ngay khi ánh sáng luân chuyển, thiên và địa, sơn và hà, tất cả đều luân chuyển cùng nó đồng thời. Cùng một điều mà Phật đã nói trong những lời khác. Khoảnh khắc bạn thấy ánh sáng luân chuyển trong bạn, bạn sẽ có khả năng thấy việc hừng lên của ánh sáng khắp nơi. Sao chuyển, và núi và sông - tất cả sẽ không là gì ngoài dòng ánh sáng, điệu vũ vô cùng của năng lượng ánh sáng.

327 Tập trung vào mầm hoa của thân người phía trên trong mắt, đó là chìa khoá lớn của thân thể người. Người thiếu kinh nghiệm, chú ý! Nếu trong một ngày ông không thực hành thiền, ánh sáng này chảy ra, ai biết đi đâu? Nếu ông chỉ thiền trong một phần tư giờ, nhờ nó ông có thể thoát khỏi mười nghìn niên kỉ và hàng nghìn việc sinh. Mọi pháp đều chấm dứt trong tĩnh lặng. Phép thần kì diệu này không thể lường được. Thầy Lữ tử nói chỉ mười lăm phút trong hai mươi bốn giờ sẽ có tác dụng. Nếu bạn có thể ngồi im lặng trong mười lăm phút, tập trung vào con mắt thứ ba, điều đó sẽ là đủ để làm thay đổi toàn thể tương lai của bạn. Bạn sẽ không cần được sinh ra vào trong thân thể lần nữa, bạn sẽ không cần bị ném vào trong thế giới lần nữa. Bạn đã học xong bài học rồi, bạn đã trở nên xứng đáng với việc di chuyển không có thân thể và không có giới hạn của thân thể. Linh hồn bạn sẽ tự do, không dính líu, không bị tù túng nào, và thế thì sẽ không có chết, không có sinh. Bạn sẽ là việc nở hoa vĩnh hằng của ánh sáng trong sự tồn tại này. Chỉ mười lăm phút thôi sao? Vâng, chỉ mười lăm phút có thể làm ra phép màu này. Nhưng mọi người thậm chí không sẵn sàng để ra mười lăm phút... để tĩnh lặng, để im lặng. Tôi đã nghe.... Khi Ignatius Loyola nghe tin tức rằng một người không có thiện cảm được bầu làm giáo hoàng, ông ấy được hỏi ông ấy sẽ làm gì nếu giáo hoàng mới của nhà

328 thờ sẽ ra lệnh giải tán Hội Jesus, công việc mà Loyola đã đầu tư cả đời mình vào. Ông ấy đáp, “Mười lăm phút trong cầu nguyện và tất cả sẽ như cũ.” Một lời đáp có ý nghĩa vô cùng. Một giáo hoàng không có thiện cảm đã lên nắm quyền và có mọi khả năng rằng toàn thể công việc của Loyola sẽ bị giải tán. Ông ấy đã tạo ra một hội nhỏ các nhà huyền môn. Công việc là bí truyền, và người Ki tô giáo bao giờ cũng chống lại công việc bí truyền, bao giờ cũng sợ các nhà huyền môn bởi vì đây là những người nguy hiểm: họ đem chân lí cho thế giới. Và một khi họ đem chân lí tới cho thế giới, mọi người không còn quan tâm tới nghi lễ, những nghi lễ bất lực. Vậy thì ai chăm nom tới nhà thờ? Cho nên Ki tô giáo đã nhất quán phá huỷ mọi trường phái huyền môn để cho không ai có thể đi ra ngoài nhà thờ, để cho không ai có thể có cánh cửa khác đạt tới Thượng đế, để cho mọi người đều phải tới qua linh mục. Bất kì khi nào ham muốn tìm và kiếm Thượng đế nảy sinh, không phương án nào còn được bỏ lại. Bởi vì ý tưởng ngu xuẩn này, Ki tô giáo đã phá huỷ tôn giáo trên toàn thế giới, bởi vì có các kiểu người khác nhau và họ cần các kiểu trường phái khác nhau và họ cần các kiểu kĩ thuật khác nhau. Và những người thực sự chân thành trong tìm kiếm của họ đều phải tìm ra nhóm bí truyền. Họ không thể trở thành một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 83

Đang tải bình luận...