phần của trưởng thành, nó giúp cho bạn. Đàn bà hay đàn ông bên ngoài trở thành tấm gương; họ phản xạ bạn, họ giúp bạn thấy bạn là ai. Yêu là rất bộc lộ. Nhưng chung cuộc người ta phải đi tới nhìn vào bên trong bản thân mình, không nhìn vào gương. Ngay cả gương cũng phải bị loại bỏ. Người ta phải một mình. Và sự thuần khiết của tính một mình là vô hạn. Và phúc lạc của tính một mình là vĩnh hằng. Bây giờ khoảnh khắc đã tới rồi. Cứ để mối quan tâm tới đàn bà ra đi và đột nhiên bạn sẽ thấy mối quan tâm khác nảy sinh trong bạn - nó gần như đồng thời - quan tâm vào thiền. Và thế thì bạn có thể có món quà cuối cùng mà cuộc sống có thể cho bạn: cái chết có tính thiền - cái chết trong tỏ ngộ, trong samadhi, trong cực lạc - và bạn sẽ biết kinh nghiệm cực thích toàn bộ. Kinh nghiệm đó là đủ; thế thì bạn sẽ không bao giờ quay lại trong cuộc sống, trong thân thể, trong nhà tù này. Ở phương Đông đây đã từng là mục đích của chúng ta - cách không được sinh ra lần nữa - bởi vì toàn thể quá trình này của việc được sinh ra và chết đi lặp đi lặp lại là quá trình chán ngán. Nó là hoàn toàn vô tích sự. Trong phân tích chung cuộc nó chỉ là mơ, và thậm chí không phải là mơ đẹp mà là ác mộng.
140 Gợi ý của tôi cho bạn là: bạn đã sống cuộc sống của bạn, bạn đã thấy vui thú của thân thể, bạn đã nhìn vào trong mối quan hệ và bạn đã học bất kì cái gì đã để được học từ nó, bây giờ đó là lúc để quay vào trong. Câu hỏi 7 Triết học là gì? Tôi không biết, và tôi không nghĩ rằng bất kì ai khác biết được. Triết học là đam mê vô dụng. Tôi dùng lời của Jean-Paul Sartre. Ông ấy nói, “Con người là niềm đam mê vô dụng,” tôi nói con người không phải là niềm đam mê vô dụng - nhưng triết học là vậy. Bạn hỏi tôi, “Triết học là gì?” Không ai đã bao giờ định nghĩa nó, nó vẫn còn mông lung. Không phải là các định nghĩa đã không được nêu cho nó - cả triệu định nghĩa đã được cho - nhưng định nghĩa này vẫn thiếu. Từng triết gia đều cho định nghĩa và các triết gia khác mâu thuẫn với nó. Nó là trò chơi: tận hưởng thể thao của logic. Nó là chặt chẽ logic. Nó giống như cờ vua - một trò chơi rất trí tuệ, rất cuốn hút, nhưng chẳng có kết luận nào trong nó. Nó có tính không kết luận. Trò chơi tiếp tục từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dần dần, dần dần từ trò chơi này hai điều đã nảy sinh: một điều là khoa học, và điều kia là tôn giáo. Khoa học có tính đối thể, tôn giáo có tính chủ thể. Khoa học có tính thí nghiệm, tôn giáo có tính kinh
141 nghiệm. Triết học không là cả hai; nó chỉ treo trong tình trạng lấp lửng giữa hai điều này. Và dần dần, dần dần nó biến mất bởi vì cái có tính đối thể đang được lấy bởi khoa học mọi ngày, và cái có tính chủ thể cũng đã được tôn giáo lấy. Không cái gì còn lại cho triết học. Cho nên bây giờ triết học hiện đại cứ nghĩ về ngôn ngữ - phân tích ngôn ngữ. Các triết gia đang hỏi những câu hỏi ngớ ngẩn nhất vì họ đã đánh mất mọi câu hỏi có nghĩa; hoặc những câu hỏi đó đã được bao quát bởi khoa học hoặc bởi tôn giáo. Triết học đang trở nên ngày một trống rỗng hơn. Họ không thể tìm ra được cho dù câu hỏi riêng của họ bây giờ, cho nên hoặc họ lấy câu hỏi từ khoa học và họ nghĩ về chúng, hoặc họ lấy câu hỏi từ tôn giáo và họ nghĩ về chúng. Câu hỏi của họ được vay mượn. Triết học là hiện tượng sắp chết. Sẽ không còn là điều ngạc nhiên rằng một ngày nào đó bạn đột nhiên đi tới biết rằng triết học đã chết. Nó đang trên giường chết. Bạn có thể đi tới bất kì đại học nào và bạn có thể thấy: triết học trên giường chết. Nhưng tại sao bạn đã hỏi câu hỏi này? Điều đó liên quan nhiều hơn, quan trọng hơn để nghĩ tới. Tôi không dạy triết học ở đây. Điều tôi đang nói chẳng liên quan gì tới triết học. Nó tuyệt đối là thực nghiệm và kinh nghiệm. Nỗ lực của tôi là để tạo ra tôn giáo khoa học - tâm lí của chư phật. Cho nên tôi đang cho bạn thực nghiệm và tôi đang cho bạn khả năng để kinh nghiệm cái gì đs mà bạn chưa kinh nghiệm qua. Đây là phòng thí nghiệm, là cơ xưởng. Chúng ta được uốn theo làm cái gì đó - tôi ngụ ý công việc ở đây! Triết học không phải là mối quan tâm chút nào. Tôi rất chống triết học và tôi né tránh triết học bởi vì nó đang chơi với cái bóng, ý nghĩ, suy đoán. Và bạn có
142 thể cứ chơi vô hạn, đến vô cùng, đến phát ngán; chẳng có tận cùng cho nó. Lời này tạo ra lời khác, lí thuyết này tạo ra lí thuyết khác, và bạn có thể tiếp diễn, tiếp diễn mãi. Trong năm nghìn năm nhiều triết học đã tồn tại trên thế giới, và chẳng với mục đích chút nào. Nhưng có những người có thái độ triết học. Và nếu bạn là một trong số họ, xin bỏ nó đi; bằng không bạn và năng lượng của bạn sẽ bị mất hút trong sa mạc. Tôi sẽ kể cho bạn về bốn giai đoạn của triết học trong bốn câu chuyện. Giai đoạn thứ nhất của triết học, câu chuyện thứ nhất.... Một trong những chuyện tôi ưa thích là chuyện về một cậu bé và một cô bé ở New England nơi đi xe trượt tuyết là phổ biến trong mùa đông lạnh giá. Trong khi đi xe trượt vào một chiều chủ nhật, được bọc trong chăn, cô bé xích gần lại cậu bé và nói, “Johnny, em lạnh.” Johnny nhìn qua cô bé và nói, “Anh cũng lạnh đây này, Jane. Sao không chui vào trong chăn?” Thế là Jane kéo chăn lại gần hơn, nhưng ngay lúc đó cô ta thậm chí lại gần Johnny hơn và nói, “Tay em vẫn lạnh.” Anh ta chẳng chú ý gì mấy tới cô ta và chẳng mấy chốc cô ta huých khuỷu tay vào anh ta và nói, “Johnny, anh có nghe em không? Tay em lạnh... và hơn nữa, chẳng ai yêu em.” Lần này anh ta nhìn qua cô bé và nói, “Jane, nhớ rằng Thượng đế yêu em, và em bao giờ cũng có thể ngồi lên tay em để giữ cho chúng ấm.”
143 Đây là giai đoạn thứ nhất của việc có tính triết học. Giai đoạn thứ hai, câu chuyện thứ hai: Một nhóm nghiên cứu gồm các triết gia đã từng gặp gỡ hàng năm để nghiên cứu về Talmud. Một thành viên của nhóm có thói quen nguy hại nhấm nháp chút rượu mạnh trong cuộc gặp. Một đêm ông ấy uống chỉ nhiều hơn chút ít so với bình thường và trở nên hoàn toàn ngà ngà say. Bạn đồng hành của ông ấy quyết định dạy cho ông ấy một bài học. Trong khi ông ấy ở trong trạng thái say ngất ngây, họ đem ông ấy ra nghĩa địa và để ông ấy nằm sấp trong các mộ chí. Sau một chốc triết gia ngồi dậy. Ông ấy nhìn quanh, phát hoảng và thất kinh. Thế rồi ông ấy bắt đầu suy luận, “Mình có sống không? Hay mình chết? Nếu mình sống, mình có thể làm gì ở đây trong nghĩa địa, trên những nấm mồ này? Và nếu mình chết, thế thì sao mình cảm thấy rằng mình phải đi ra nhà vệ sinh ngay lập tức?” Đây là giai đoạn thứ hai của triết học. Và giai đoạn thứ ba, câu chuyện thứ ba: Giáo sư Steinberg đã ăn trưa trong cùng nhà hàng Phía Đông Thấp trong hai mươi năm. Mọi ngày ông ấy rời văn phòng vào buổi trưa, đi tới nhà hàng và đặt một bát súp gà - không bao giờ thay đổi. Nhưng một hôm giáo sư gọi người phục vụ lại sau khi nhận bát súp. “Dạ thưa giáo sư?” người phục vụ hỏi. “Anh phục vụ, nếm thử súp xem.”
144 “Ông ngụ ý gì, nếm súp à? Trong hai mươi năm ông đã từng ăn cùng súp gà ở đây, mọi ngày, dạ? Nó đã có gì khác biệt không?” Vị giáo sư bỏ qua lời bình luận của người phục vụ. “Xin mời nếm món súp này,” ông ấy lặp lại. “Thưa giáo sư, có vấn đề gì với ông vậy? Tôi biết súp gà có vị như thế nào chứ.” “Nếm súp đi,” vị giáo sư yêu cầu. “Thôi được, thôi được, tôi nếm. Thìa đâu?” “Aha!” vị giáo sư kêu lên. Đây là giai đoạn thứ ba. Và giai đoạn thứ tư, câu chuyện thứ tư: Một người đàn bà đi tới một nhà tâm lí triết học để điều trị chứng ảo tưởng của mình rằng người bà ấy bị phủ đầy lông chim. Sau vài phiên triết gia nói với bà ấy, “Tôi cảm thấy rằng chúng ta đã đi tới gốc rễ của vấn đề này qua thảo luận và phân tích của chúng ta, và bây giờ nó ở đằng sau chúng ta. Bà nghĩ gì, bà Smith?” “Ồ,” bà Smith nói, “tôi nghĩ chúng ta đã có vài phiên kì diệu và tôi có cảm thấy rằng vấn đề đã được chăm nom tới. Nhưng,” bà ấy nói thêm, “điều duy nhất làm bận tâm tôi bây giờ là điều tôi sẽ làm với những chiếc lông đó.” Bà ấy giơ tay ra tới vai và bắt đầu phẩy phẩy, và nhà tâm lí, triết gia, đột nhiên nhảy lùi lại. “Bây giờ dừng lại một phút đi bà Smith. Đừng phẩy những cái lông đó lên tôi.”
145 Đây là giai đoạn thứ tư: dần dần, dần dần, triết học trở thành một loại tính điên khùng, nó dẫn bạn vào thần kinh vì triết học là hiện tượng tâm trí. Khoa học đã lấy thân thể, tâm trí đã lấy linh hồn, chỉ tâm trí được bỏ lại cho triết học. Và tâm trí là tính điên tiềm năng. Nếu bạn cứ đi quá nhiều trong tâm trí, bạn sẽ đi dần dần, dần dần hướng tới điên khùng. Rất hiếm khí tìm ra một triết gia lành mạnh. Và điều ngược lại cũng đúng: rất hiếm khi tìm ra người điên mà không là triết gia. Tôi không dạy triết học ở đây bởi vì tôi đang dạy vô trí. Và nếu bạn trở thành vô trí, mọi triết học biến mất: Ki tô giáo, Hindu, Mô ha mét giáo, Phật giáo - mọi triết học biến mất; người theo Hegel, Kant, Russel - tất cả triết học biến mất. Nếu tâm trí biến mất, triết lí có thể tồn tại ở đâu? Nó có thể phát triển ở đâu? Tâm trí là mảnh đất gây giống của triết học. Để tâm trí biến mất đi. Và cái đẹp là, khi không có tâm trí và không có ai để triết lí hoá và không có gì để triết lí hoá, người ta đi tới biết. Triết học là nỗ lực của người mù. Người ta nói: Triết học là người mù trong phòng tối trong đêm tối, tìm con mèo đen không có đó.... Đủ cho hôm nay.
146
147