Chúng Tôi Đấu Với Các Bạn

6

6

6

Nếu không có một cuộc chiến, họ sẽ khơi mào

Thanh niên mười tám tuổi trong rừng cởi ba lô đặt xuống cỏ, rồi trèo lên một cái cây. Mùa hạ đã bắt đầu làm cho mái tóc dài sáng lên và làn da quanh hình xăm con gấu sẫm lại. Tên nó là Benjamin, nhưng chỉ có mẹ và các chị gái gọi thằng bé như thế, những người khác đều gọi nó là Benji. Cái tên đó hiếm khi gắn với những kỷ niệm thơ ấu tích cực - từ hồi mẫu giáo, người ta đã nói rằng cậu bé rồi sẽ vào tù hoặc ra nghĩa trang. Khúc côn cầu vừa là sự cứu rỗi, lại vừa là sự đọa đày của Benji, vì tất cả những tính xấu ngoài sân băng cũng chính là điều làm cho nó được ngưỡng mộ trên sân. Kevin là ngôi sao, Benji là người bảo vệ. Như hai anh em. Mỗi khi một cư dân Beartown nói rằng “Tôi đi xem đánh nhau nhưng hóa ra nó lại là một trận khúc côn cầu,” họ luôn ám chỉ Benji.

Thế nên cả thị trấn bị sốc khi Kevin bị tố hiếp dâm, và cũng gần sốc tương đương khi Benji chọn đứng về phía Maya Andersson, chống lại người anh em của mình. Benji Ovich đã quyết định ở lại Beartown thay vì chuyển tới câu lạc bộ khúc côn cầu Hed. Benji đã làm điều đúng đắn. Để đổi lấy điều gì? Những tin nhắn chế giễu nặc danh liên tiếp bay tới, bảo rằng câu lạc bộ giờ đây đã chết. Rằng thằng bé đã chọn sai. Nó đã mất tất cả. Vài tháng trước nó còn thi đấu bên cạnh người bạn thân, tại một trong những đội bóng xuất sắc nhất cả nước. Giờ đây nó ngồi một mình trên cái cây này, hút cần phê lòi óc, chuẩn bị cho những ai nghi ngờ thấy rằng họ đã đúng: “Sớm muộn rồi thằng bé đó cũng sẽ làm hại bản thân hoặc người khác.”

Mỗi khi Mira nhìn những tấm ảnh của Peter, Maya và Leo trên bàn làm việc, chị lại cảm thấy vô cùng xấu hổ trước việc chỉ ở cơ quan chị mới hình dung họ là một gia đình bình thường một cách dễ dàng hơn. Rằng bốn người họ không phải đang cháy ra tro trong lòng, rằng ngôi nhà của họ không rơi vào yên lặng bấy lâu nay vì họ không còn gì để nói.

Maya đã yêu cầu gia đình mình ngừng nhắc đến vụ cưỡng hiếp. Hồi đầu hè, khi cả nhà đang ngồi bên bàn ăn sáng, con bé đã tuyên bố gọn lỏn: “Con muốn lật sang trang mới.” Peter và Mira cố mỉm cười gật đầu, nhưng đôi mắt họ khoan thủng bốn cái lỗ trên ván sàn. Bạn phải ủng hộ, bạn không thể nắm lấy vai con gái mình và thét lên rằng chúng ta cần nói về chuyện đó, rằng chính bố mẹ mới là người cảm thấy lo sợ, bị bỏ rơi và... ích kỷ. Bởi vì họ là thế mà, phải không? Ích kỷ.

Mira biết nhiều người không hiểu làm thế nào chị có thể tiếp tục đi làm và Peter tiếp tục quản lý câu lạc bộ, nhưng thật ra có những lúc, đó là điều duy nhất họ đủ sức quan tâm đến. Khi mọi thứ khác sụp đổ, bạn ném mình vào thứ duy nhất có thể kiểm soát được, nơi duy nhất mà bạn biết mình đang làm gì. Mọi thứ khác khiến bạn đau đớn quá mức. Thế nên bạn đến cơ quan và giấu mình tại đó, giống như những người leo núi đào lỗ trốn trong tuyết khi cơn bão ập tới.

Mira không ngây thơ, chị là một người mẹ, chị đã cố để nhìn ra một hướng đi phía trước. Kevin đã bỏ đi, chuyên gia tâm lý nói rằng Maya đã có tiến bộ trong điều trị hậu sang chấn, nên có lẽ mọi thứ vẫn có thể ổn thỏa. Đó là điều chị tự dặn lòng. Peter đã đi gặp hội đồng vùng, câu lạc bộ sẽ có tiền, mọi thứ sẽ được giải quyết êm xuôi.

Nhưng giờ đây chị vừa gác máy sau cuộc gọi từ một dịch vụ chuyển nhà khác. Chị đọc tin nhắn vừa nhận. Nó là của một nhà báo. “Chúng tôi đang cố gắng liên lạc với chồng chị để xin bình luận về việc giải thể câu lạc bộ khúc côn cầu Beartown.” Tin nhắn kế tiếp đến từ một người hàng xóm: “Gia đình cô sắp chuyển đi à?” kèm theo ảnh chụp màn hình từ một trang web của một công ty bất động sản, cho thấy ngôi nhà mà gia đình chị đang ở đã bị rao bán. Những tấm ảnh được chụp mới đây. Ai đó đã vào sân nhà chị sáng nay.

Mira gọi cho Peter, nhưng anh không nghe máy. Chị không biết chuyện gì sắp xảy ra. Nếu câu lạc bộ sụp đổ, lỗi thực sự của ai sẽ không còn quan trọng, vì mọi người trong thị trấn đã bắt đầu tìm con dê tế thần. Sẽ là lỗi của Peter. Lỗi của Maya. Tay giám đốc kỹ thuật. Đứa con gái hư hỏng.

Chị lại gọi cho anh. Hết lần này đến lần khác. Lần cuối cùng chị thử, điện thoại thậm chí còn thông báo không kết nối được. Nữ đồng nghiệp bật ngửa khi Mira giáng nắm đấm xuống bàn làm việc bằng hết sức bình sinh. Chị nghe thấy những ngón tay của mình kêu răng rắc, nhưng vẫn tiếp tục đấm với tất cả sức mạnh mà một trăm phụ nữ bên trong chị huy động được.

BÙM. BÙM. BÙM-BÙM-BÙM.

Benji co người lại, khói xì ra từ hai lỗ mũi. Người ta nói thuốc đưa ta lên tận mây xanh, nhưng với nó thì đó là mặt biển: không phải bay, mà là trôi. Thuốc giữ cho nó nổi bồng bềnh dù chẳng cần nỗ lực gì, trong khi những lúc khác nó có cảm giác như mình luôn phải bơi để sống sót.

Hồi còn bé, Benji luôn thích mùa hè, khi tán lá xanh cho phép bọn con trai ẩn nấp trên đó mà không bị nhìn thấy từ dưới mặt đất. Nó luôn có nhiều thứ cần trốn tránh, cũng giống như bất kỳ người khác biệt nào tại phòng thay đồ, nơi chúng ta được dạy cần phải làm một tập thể thống nhất, một đội, để giành chiến thắng. Benji đã trở thành thứ mà họ cần: người man rợ. Đáng sợ đến nỗi có lần, khi nó đang bị chấn thương, huấn luyện viên vẫn để nó ngồi ở băng ghế dự bị. Benji đã không ra sân một phút nào, nhưng đội đối phương vẫn chẳng dám đụng tới một cọng lông chân của Kevin.

Benji đã tự dạy mình một phần của sự cứng rắn đó: nó leo cây theo cách mà huấn luyện viên từng vừa cười vừa bảo rằng nó đã biến mình thành “nửa xe tăng, nửa khỉ” và khi đốn củi ở trại chó của chị gái, nó đấm cho chồng củi ngay ngắn lại để luyện các đốt ngón tay. Nhưng một phần sự cứng rắn đã tồn tại sẵn bên trong Benji, không thể được tiêm nhiễm vào hay đuổi ra, và điều đó khiến nó khó đoán. Hồi còn bé, vào mùa đông nọ, bọn con trai đã gọi Benji là “xe kéo”, vì nó không được bố mẹ lái xe chở đi tập, mà tự đạp xe đạp, kéo theo túi dụng cụ khúc côn cầu phía sau trên một cái máng trượt. Biệt danh đó tồn tại được vài tháng, cho đến khi một thằng nhóc đi quá xa và Benji vào phòng thay đồ, phang máng trượt của mình vào nạn nhân làm gãy luôn hai cái răng. Sau vụ đó, chẳng còn mấy biệt danh tồn tại.

Lúc này Benji ngồi yên trên cây, nhưng trong lòng nó mọi thứ đang rối bời. Việc có bạn thân đối với một đứa trẻ giống như nắng hạn gặp mưa: đứa bé muốn lúc nào cũng được ở bên bạn, và khi bạn đi khỏi, nó cảm thấy như bị cắt chân cắt tay. Kevin và Benji xuất thân từ hai khu vực quá khác biệt của thị trấn, đến nỗi chúng dường như là hai loài sinh vật khác nhau, nhưng mặt băng đã là nơi cho cả hai tung hoành. Kevin có tài năng, còn Benji có vũ lực. Phải mất cả thập kỷ để mọi người nhận ra Benji cũng có một chút tài năng và Kevin bạo lực hơn họ tưởng rất nhiều.

Người ta có thể tha thứ cho bạn thân của mình đến mức nào? Làm sao lường trước được kia chứ? Vào một đêm trong mùa xuân vừa rồi, Kevin đã run rẩy đứng giữa khu rừng cách không xa nơi này, cầu xin Benji tha thứ cho mình. Benji đã quay lưng bỏ đi. Hai đứa chưa hề nói chuyện lại với nhau.

Vào buổi sáng Kevin đi khỏi thị trấn ba tuần trước, Benji đã ngồi trên đúng cái cây này, và đập ót vào thân cây, càng lúc càng mạnh.

Bùm. Bùm. Bùm.

Nó vừa lâng lâng vì thuốc, vừa nặng trĩu thù hận. Tai nó nghe thấy những giọng nói và thoạt đầu không rõ liệu mình có đang tưởng tượng ra hay không. Thế rồi nó trông thấy bọn họ. Nó nhìn rõ qua những cái cây khi họ tiến đến gần. Cơ bắp nó sắt lại.

Nó sắp làm đau một ai đó.

Nếu bạn muốn biết vì sao người ta sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì tình yêu, bạn bên bắt đầu với câu hỏi họ đã xiêu lòng như thế nào. Đôi khi chúng ta chẳng cần gì để bắt đầu yêu, ngoài thời gian. Trong thâm tâm, mọi người trưởng thành đều biết rằng khúc côn cầu chỉ là trò chơi nhập vai, nó là một trò chơi được sáng chế ra, nhưng khi bạn mới năm tuổi đầu thì trái tim bạn khá nhỏ. Thế là bạn yêu nó với tất cả trái tim mình ngay lập tức.

Mẹ của Peter Andersson bị bệnh, bố anh thì uống nhiều đến mức quát tháo như thể con trai mình không có lỗ tai, và đánh đập anh như kẻ thù. Peter lớn lên với một cái đầu đầy những giọng nói thì thầm rằng anh chẳng được tích sự gì, và lần đầu tiên chúng im bặt là khi anh xỏ chân vào đôi giày trượt băng. Bạn không thể trao cho một cậu bé những thứ nó tìm thấy trong lớp khúc côn cầu để rồi tước đoạt hết mà không để lại hậu quả. Mùa hè đến, sân băng đóng cửa, cậu bé năm tuổi Peter Andersson lội bộ đến nhà huấn luyện viên đội A và đập cửa để hỏi “Bao giờ thì khúc côn cầu bắt đầu chơi ạ?”

Ông Sune, vị huấn luyện viên của đội A, đã mỉm cười đáp: “Mùa thu này.” Lúc đó ông đã là một ông già với vòng bụng to đến nỗi chỉ có thể nói chuyện lòng vòng. “Còn bao lâu ạ?” “Đến mùa thu ấy á?” “Cháu không biết tính thời gian.” “Vài tháng nữa.” “Cháu có thể chờ ở đây được không?” “Chờ đến mùa thu sao?” “Vậy tức là lâu ạ?” Và đó là khởi đầu của một tình bạn trọn đời.

Sune không bao giờ hỏi về những vết bầm tím, cậu bé năm tuổi cũng không bao giờ thổ lộ về chúng, nhưng mọi trận đòn nhận lãnh ở nhà đều hiện rõ trong đôi mắt cậu khi lần đầu tiên cậu đánh một trái bóng dẹt trong mảnh vườn nhỏ của vị huấn luyện viên. Sune biết khúc côn cầu không thể thay đổi cuộc đời của một đứa trẻ, nhưng có thể trao cho nó một thứ khác. Một lối ra, và đi lên.

Sune đã dạy cho Peter biết thế nào là một câu lạc bộ. Đó không phải là một thứ để bạn đổ lỗi, cũng không phải thứ để bạn đòi hỏi này nọ. “Bởi vì nó là chúng ta, Peter ạ, câu lạc bộ khúc côn cầu trên băng Beartown chính là chúng ta. Những điều tốt đẹp lẫn tệ hại nhất mà nó đạt được đều cho thấy những mặt tốt đẹp và tệ hại nhất của chúng ta.” Ông đã dạy Peter cả những điều khác, chẳng hạn như luôn đứng vững lúc thắng cũng như lúc thua, và những cầu thủ tài năng nhất có trách nhiệm nâng đỡ cầu thủ yếu nhất bởi “ai được nhận nhiều cũng sẽ được kỳ vọng nhiều.”

Buổi tối đầu tiên đó, Sune dẫn cậu bé năm tuổi quay về nhà. Hai người dừng lại khi còn cách nhà Peter một đoạn. Vị huấn luyện viên nói nếu hôm sau cậu đến nhà ông thì họ sẽ tiếp tục tập đánh bóng. “Hứa nhé?” Cậu bé hỏi. Sune chìa tay ra và nói: “Xin hứa. Và bé cũng phải giữ lời hứa của mình đấy nhé?” Cậu bé nắm lấy tay Sune và gật đầu. Sau đó, ông ngồi xuống một băng ghế và dạy cậu cách xem đồng hồ, để cậu có thể đếm từng phút cho đến ngày hôm sau.

Đôi khi, hầu như chẳng cần gì để bắt đầu yêu một thứ gì đó, ngoài thời gian. Cậu bé Peter Andersson năm tuổi đã mơ thấy cùng một điều hàng đêm trong vài năm: âm thanh của một trái bóng dẹt rời khỏi cây gậy và bay vào tường nhà.

Bùm.

Mẹ của Benji Ovich gần như không bao giờ nhắc đến bố nó, nhưng trong những dịp ngoại lệ hiếm hoi, bà luôn nhắm mắt và nói khẽ rằng: “Một số người cứ như thế đó. Nếu không có một cuộc chiến, họ sẽ khơi mào.”

Benji từng được bảo rằng nó giống bố, dù nó không hiểu vì sao. Có lẽ bên trong hơn là bên ngoài. Nó biết bố đã chịu nhiều đau đớn, nhiều đến mức một hôm ông không thể chịu đựng thêm được nữa. Những người thợ săn ở vùng này không bao giờ dùng chữ “tự sát”. Họ chỉ nói “Alain lấy khẩu súng của mình và đi vào rừng”. Benji luôn tự hỏi liệu ông có hoạch định chuyện đó từ trước, hay chỉ đột ngột làm luôn. Nó vẫn hay có cùng một câu hỏi khi thấy hình ảnh của những người cô đơn làm chuyện kinh khủng đó trên bản tin: Tại sao lại là ngày hôm nay? Sao không phải là một ngày khác? Chuyện này có suy tính hay chỉ cứ thế xảy ra?

Benji biết sự đau buồn và giận dữ có thể lập trình lại bộ não giống như các hóa chất và ma túy. Có lẽ trong đầu một số người đã luôn có một quả bom hẹn giờ chực chờ phát nổ. Có lẽ mẹ nó đã đúng, một số người chỉ chực chờ châm ngòi cuộc chiến.

Từ trên cây, Benji trông thấy Maya và Ana đi qua khu rừng, tiến về phía mình. Nó sẽ không bao giờ có thể giải thích được chuyện gì đã diễn ra trong đầu, chỉ biết là giống như một bản năng được kích hoạt. Một thứ gì đó bị tắt đi, thứ khác được bật lên. Benji trèo xuống đất, nhấc ba lô lên, rồi cứ thế vừa cầm ba lô vừa bắt đầu di chuyển giữa những cái cây.

Theo chân hai cô gái.

Maya và Ana đi lang thang trong rừng, càng lúc càng chậm lại. Hai đứa giữ im lặng với nhau. Dù sao thì chúng đã biết mọi điều đứa kia đang muốn nói. Chúng luôn biết Beartown không phải là một nơi dễ dàng để trưởng thành, nếu bạn khác biệt, và một trong những điều tệ hại nhất của việc trở thành người lớn là bắt đầu nhận ra có lẽ chẳng nơi nào dễ dàng cả. Những kẻ khốn nạn tồn tại ở khắp mọi nơi.

Hai cô gái chưa bao giờ có nhiều điểm chung, nàng công chúa và đứa trẻ hoang dã, nhạc công và thợ săn. Lần đầu chúng gặp nhau là khi Ana kéo Maya lên khỏi một cái lỗ trên băng, hồi hai đứa còn bé. Lúc ấy Maya chỉ vừa mới dọn về Beartown, trong khi Ana chưa từng có người bạn nào, thế nên có thể nói chúng đã cứu vớt đời nhau. Ana từng trêu Maya vì không thể đi lại khẽ khàng trong rừng, bảo rằng trông Maya giống như một con nai sừng tấm mang giày cao gót. Maya thì trêu rằng Ana trở nên như thế là vì mẹ của nó đã lang chạ với một con sóc.

Maya ngừng nói câu đó khi mẹ của Ana dọn đi nơi khác. Đổi lại Ana ngưng trêu chọc Maya chuyện cô bé bị phụ thuộc vào sóng wifi. Trong vài năm trời hai đứa ngang bằng với nhau, nhưng rồi tuổi dậy thì đã khiến cán cân lệch đi. Khi cả hai lên trung học, kiến thức về sinh tồn trong rừng của Ana chẳng còn chút giá trị nào, trong khi Maya lại biết làm sao để sống sót giữa các hành lang trường học. Nhưng mùa hè này thì sao? Giờ đây chúng không còn an toàn ở bất kỳ nơi đâu.

Ana đi đằng trước, Maya bước theo sau, mắt nhìn vào mái tóc của cô bạn. Nó luôn thấy Ana vừa là người mạnh mẽ nhất vừa là người yếu đuối nhất mà mình biết. Bố của Ana uống rượu trở lại, đó không phải là lỗi của ai cả, chỉ đơn giản là vậy thôi. Maya ước gì mình có thể xua tan nỗi đau của Ana, nhưng nó chẳng thể làm gì hơn, cũng giống như Ana không thế xóa bỏ vụ cưỡng hiếp cho bạn mình. Cả hai đang rơi vào những vực thẳm khác nhau. Maya gặp ác mộng, và Ana có lý do riêng để không thể ngủ. Ana đi ngủ với lũ chó vào những buổi tối bố về muộn rồi quậy phá trong nhà bếp như một con quái vật đầy ứ nỗi buồn và những điều không nói. Những con chó nằm thành một vòng tròn bảo vệ xung quanh Ana mà không cần con bé yêu cầu. Những sinh vật đáng yêu. Bố chưa bao giờ giơ tay đánh con gái mình dù chỉ một lần. Nhưng khi bố đã uống rượu, con bé vẫn thấy sợ. Đàn ông không ý thức được trọng lượng của chính mình, không hiểu được sự kinh hoàng mà họ có thể gây ra cho ai đó chỉ bằng cách loạng choạng bước qua một cái cửa. Họ là những cơn cuồng phong băng qua rừng chồi khi say xỉn đi từ bàn bếp sang các phòng khác mà không ý thức được mình đang dẫm phải cái gì. Sáng hôm sau họ quên sạch, những vỏ chai rượu rỗng đã được dẹp, những chiếc ly đã được rửa, và ngôi nhà hoàn toàn yên tĩnh. Không ai nói gì. Họ không bao giờ có thể nhìn thấy sự hủy hoại mà họ để lại cho con cái mình.

Ana dừng bước và đưa mắt nhìn quanh. Maya nhìn bạn, mỉm cười yếu ớt. “Chết tiệt, mình yêu cậu quá đi mất,” con bé nghĩ thầm, và Ana biết. Thế nên nó hỏi:

– Buộc phải mổ để mang cái mõm lợn hay mổ để gắn một cái đít lợn?

Maya cười vang. Đây là trò chơi của hai đứa từ hồi chúng còn nhỏ. Chọn cái này hay cái kia.

– Mõm. Cái đuôi quăn sẽ gây cộm khi mình ngồi chơi guitar.

– Cậu ngốc lắm!

– Ngốc á? Cậu có nghe được những gì thoát ra khỏi miệng cậu không đấy?

Ana khịt mũi, đưa mắt nhìn qua những cái cây.

– Thôi được, hỏi câu này vậy: Bất hạnh và sống trăm tuổi hay hạnh phúc rồi chết chỉ sau một năm?

Maya im lặng suy nghĩ. Nó không kịp trả lời vì Ana đã quay ngoắt lại, nhìn vào đám cây cối. Đáng lẽ con bé phải nhận thấy sớm hơn, nhưng Ana chỉ quen với việc theo dấu và săn thú, bị theo dõi thì không.

Một âm thanh khô khốc vang lên - tiếng cành cây bị gãy dưới sức nặng. Hai đứa đang ở xa thị trấn, đây là một nơi nguy hiểm nếu đụng độ với thú hoang.

Nhưng những cái cành kia không phải bị gãy do một con thú.

Sân băng Beartown đã đóng cửa và tắt đèn khi Peter đến nơi. Anh không bật đèn lên. Trên tường có những tờ giấy ngả vàng, và anh đã biết chúng viết gì mà không cần phải đọc. Những dòng chữ nhỏ thể hiện tiếng nói lớn: “Tập thể trước cá nhân;” “Lùi một bước, tiến ba bước;” “Ước mơ - Chiến đấu - Chiến thắng!” Và ngay gần cửa ra vào là nét chữ của chính anh: “Chúng ta đứng vững khi chiến thắng, đứng vững khi thất bại, chúng ta đứng vững bất chấp tất cả!”

Những người có đầu óc có thể cho rằng những câu khẩu hiệu đó rất ngớ ngẩn, nhưng bạn không trở thành người giỏi nhất trong thể thao chỉ nhờ đầu óc. Bạn phải là một người mơ mộng. Hồi Peter còn học tiểu học một thầy giáo đã hỏi các học sinh điều chúng muốn làm khi lớn lên. Câu trả lời của Peter là “Một cầu thủ chơi ở giải nhà nghề NHL.” Anh vẫn còn nhớ cả lớp đã cười mình như thế nào, và anh đã dành cả đời để chứng minh bọn họ đã sai. Những kẻ có đầu óc cho rằng một cậu bé nhỏ xíu ở thị trấn Beartown hẻo lánh không thể nào thi đấu ở trình độ giỏi nhất thế giới, nhưng đầu óc của những người mơ mộng vận hành theo cách khác.

Vấn đề duy nhất là chuyện đó không bao giờ chấm dứt, bạn không bao giờ chứng tỏ đủ, những kẻ cười cợt chỉ nới rộng biên độ giới hạn mà thôi. Trong phòng thay đồ có một chiếc đồng hồ treo tường đã chết, nhưng chẳng ai buồn thay pin. Cần nhiều thời gian để học yêu thứ gì đó, nhưng mất ít thời gian hơn hẳn để xóa bỏ nó: chỉ một khoảnh khắc là đủ. Thể thao rất nghiệt ngã: một ngôi sao lớn có thể hết thời chỉ trong mười giây đi từ sân băng vào phòng thay đồ, một câu lạc bộ đã sống sót hơn nửa thế kỷ có thể bị sụp đổ chỉ sau vài phút họp hành ở hội đồng vùng. Peter tự hỏi liệu bây giờ họ có phá bỏ sân băng để xây cái khách sạn kiêm trung tâm hội nghị hay một thứ vớ vẩn nào đó mà những người có tiền và quyền đang mơ đến. Họ chẳng bao giờ yêu bất cứ cái gì, họ chỉ chiếm hữu các thứ. Đối với họ, đây chỉ là những vách tường và trần nhà, không hơn.

Anh đi lên khán đài, dừng lại ở đoạn hành lang hẹp bên ngoài các phòng làm việc ở tầng trên. Bao nhiêu năm cuộc đời của anh đã diễn ra trong tòa nhà này? Bây giờ chúng có giá trị bao nhiêu? Nhiều khung ảnh treo trên tường ghi lại những khoảnh khắc vĩ đại nhất của câu lạc bộ: thời điểm thành lập năm 1951, mùa giải tuyệt vời hai mươi năm trước khi đội A đứng thứ hai toàn quốc, và lúc đội trẻ giành được huy chương bạc vào mùa xuân vừa rồi. Nhiều tấm ảnh trong số đó chụp Peter.

Trong cơn tức giận, anh gạt phăng tất cả khỏi bức tường. Anh bắt đầu từ một đầu của hành lang và hất từng khung hình khỏi móc. Kính vỡ văng khắp mặt sàn, nhưng Peter đã bước ra khỏi chỗ đó. Đèn của sân băng vẫn tắt khi anh đóng sầm cửa ra vào.

Người lạ ngồi trong bóng tối trên khán đài, quan sát Peter bỏ đi. Khi anh khởi động ô tô của mình trong bãi đậu xe, người lạ đi lên khu vực văn phòng và xem xét vụ phá hoại. Có những tấm hình cũ của Peter dưới các mảnh kính vỡ, nhưng cũng có những hình ảnh mới hơn của đội trẻ. Hai cầu thủ xuất hiện trong phần lớn các tấm ảnh. Người lạ lấy ủng gạt mảnh thủy tinh ra và cúi xuống một bức ảnh đã cũ của chính những cậu bé đó, rất lâu trước khi chúng trở thành ngôi sao của cả thị trấn. Một lễ trao giải khi chúng có lẽ mới mười, mười một tuổi. Hai đứa nắm tay nhau như anh em, trên lưng áo có in số và cái họ của chúng: 9 - ERDAHL và 16 - OVICH.

Người bạn thân nhất, môn thể thao yêu thích và một đội bóng mình đã cống hiến cả cuộc đời, liệu một thanh niên có khả năng làm gì nếu bị tước đoạt tất cả những điều đó cùng một lượt? Người lạ mặt cẩn thận vẽ một vòng tròn vào tập giấy của mình, xung quanh cái tên “Benjamin Ovich”, sau đó đi trở xuống khán đài và ra khỏi sân băng. Châm một điếu xì gà mới. Trời ấm và không có gió, nhưng người lạ vẫn khum tay che ngọn lửa, như thể một cơn bão đang thổi tới.

Tim Ana và Maya đập thình thịch khi hai đứa quay lại và thấy Benji bước đi giữa đám cây cối. Mới đây từng là một cậu bé yêu quý câu lạc bộ và người bạn thân của mình, giờ Benji đã là một thanh niên với đồng tử trũng sâu. Một tay siết chặt nắm đấm, tay kia cầm búa.

Cứ hỏi bất kỳ ai ở Beartown, họ sẽ cho bạn biết chàng trai này luôn là một quả bom nổ chậm như thế nào.

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 12

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!