hồi lâu, Calvin ăn hết nguyên cái bánh. Trong phòng thú tội nó nói, “Thưa cha, Mẹ con sai đem biếu cha một cái bánh sô cô la, nhưng con đã ăn hết trong khi đợi rồi.” “Sao con lại làm thế?” thầy tu hỏi. “Con chẳng có gì hơn để mà chơi.” “Thế sao con không chơi với chính mình?”
Đừng Quá Lành Mạnh 213 Thầy tu không quan tâm tới điều bạn làm; ông ta có mối lợi cá nhân - cái bánh sô cô la của mình. Còn bạn thì có thể cút xuống địa ngục! Thế thì bạn có thể làm cái gì cũng được, nhưng cái bánh sô cô la đâu? Họ tạo ra mặc cảm, rồi họ lại tha thứ cho bạn vì danh Chúa. Họ làm cho bạn thành kẻ tội lỗi rồi họ nói, “Bây giờ hãy đến với Chúa, Ngài là đấng cứu rỗi.” Chẳng có ai ở đó mà cứu bạn cả vì ngay từ đầu bạn có phạm vào tội gì đâu. Bạn không cần phải được cứu rỗi. Đây là thông điệp của Phật: Bạn đã ở đó rồi! Bạn đã được cứu vớt rồi! Vị cứu tinh không cần tới, bạn không phạm tội. Không khổ, Sariputra, không tập, không diệt, và không đạo. Không sở đắc, cũng không có không sở đắc. Trường hợp đó đã xảy ra; đó chính là thiên tính của bạn. Tôi không quan tâm tới bất kỳ xã hội lý tưởng nào. Xin hãy vứt bỏ cái ước mơ đó; nó đã tạo ra những cơn ác mộng lớn trên thế giới. Hãy nhớ, chẳng có gì có thể xảy ra về mặt chính trị cả. Chính trị đã chết. Bạn có bầu cho phe nào cũng được, phe tả hay phe hữu, hãy làm việc đó nhưng đừng ảo tưởng. Cần phải từ bỏ cái ý tưởng rằng một hệ thống nào đó sẽ là một cứu tinh. Không hệ thống nào có thể là cứu tinh cả - chủ nghĩa cộng sản, phát xít, chủ nghĩa của Gandhi. Không xã hội nào có thể cứu bạn được, và không xã hội nào có thể là một xã hội lý tưởng. Và không có cứu tinh - Chúa, Krishna hay Rama. Bạn phải vứt bỏ cái nhảm nhí mà bạn vẫn mang trong mình về tội lỗi và bạn là kẻ tội lỗi. Hãy trút toàn bộ năng lượng vào việc nhảy múa, hoan lạc. Và thế thì bạn là lý tưởng rồi, tại đây và ngay bây giờ. Bạn không cần phải trở thành lý tưởng.
214 Bát Nhã Tâm Kinh Ý thức hệ, như được biết, đã mất sức mạnh rồi. Thực ra, nó đã không có thật ngay từ lúc đầu. Và sức mạnh để thuyết phục cũng đã lỗi thời rồi. Và chẳng mấy người có đầu óc còn tin là con người có thể hoạch định nữa, và rằng khoa học xã hội có thể kiến tạo một xã hội hài hòa và không tưởng mới. Chúng ta đang sống trong thời đại tự do hoàn toàn. Chúng ta đã trưởng thành. Con người không còn ngây thơ nữa, nó đã chín chắn hơn. Chúng ta đang sống trong thời kì của Socrates, bởi vì mọi người đang hỏi những câu quan trọng về cuộc sống. Đừng mơ tưởng, đừng thèm muốn một lý tưởng, một ý tưởng, một sự hoàn hảo nào đó trong tương lai. Hãy vứt bỏ mọi lý tưởng và sống ngay tại đây và ngay bây giờ. Cộng đồng của tôi không phải là một xã hội lý tưởng. Cộng đồng của tôi sẽ là cộng đồng ở đây và bây giờ.
7 Chân Không Viên Mãn Do đó, này Xá Lợi Phất, chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, dựa vào trí huệ bát nhã, tâm không có chướng ngại. Vì không có chướng ngại nên không sợ hãi, xa lìa lầm tưởng, đạt tới Niết Bàn. Hết thảy chư Phật trong ba đời đều dựa vào trí huệ bát nhã mà chứng đắc giác ngộ vô thượng viên toàn.
216 Bát Nhã Tâm Kinh Thiền là gì? - bởi vì toàn bộ Tâm Kinh này là nói về cái cốt lõi thâm sâu nhất của thiền. Chúng ta hãy bàn về điều ấy. Trước hết: thiền không phải là tập trung. Tập trung hợp bởi một chủ thể đang tập trung và một đối tượng được tập trung vào. Đó là nhị nguyên. Thiền không có người bên trong và không cái bên ngoài. Đó không phải là tập trung. Không có sự phân chia giữa trong và ngoài. Cái bên trong nối tiếp cái bên ngoài, và cái ngoài thông với cái bên trong. Sự phân ranh giới, sự chia cắt không còn nữa. Cái trong là cái ngoài, cái ngoài là cái trong; nó là tâm thức bất nhị. Tập trung là tâm thức nhị nguyên: đó là lý do tại sao tập trung đưa đến mệt mỏi; đó là lý do tại sao khi tập trung, bạn cảm thấy kiệt sức. Và bạn không thể tập trung được trong hai mươi bốn tiếng, bạn sẽ phải lấy ngày nghỉ để dưỡng sức. Tập trung không bao giờ trở thành bản tính của bạn được. Thiền thì không mệt mỏi, không làm bạn kiệt sức. Thiền có thể ‘làm’ trong hai mươi bốn tiếng - ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Nó có thể kéo dài mãi mãi. Nó chính là sự thảnh thơi. Tập trung là một hành động, một hành động có ý chí. Thiền không cần đến ý chí; đó là một trạng thái không hành động. Nó là sự thư giãn. Bạn chỉ cần buông trôi vào bản thể mình, và bản thể đó chính là bản thể của đại ngã. Tập trung cần phải có một kế hoạch, một sự phóng chiếu, một ý tưởng. Mục đích của tập trung là kết luận: bạn đang làm điều gì đó. Tập trung có gốc từ quá khứ. Thiền không tìm đến một kết luận nào hết. Bạn không làm bất cứ gì đặc biệt, bạn chỉ hiện hữu. Nó không có quá khứ; nó không bị quá khứ làm vẩn đục. Nó không có tương lai, nó không bị tương lai làm hoen ố. Điều ấy Lão Tử đã gọi là vi vô vi, hành động nhưng không hành động. Đó là điều các thiền sư đã từng nói: ngồi im lặng không
Chân Không Viên Mãn 217 làm gì hết, mùa xuân tới và cỏ tự nó mọc lên.357 Hãy để ý từ, ‘tự nó’ – không phải làm gì cả. Bạn không kéo cho cỏ mọc lên; mùa xuân tới và cỏ tự mọc lên. Trạng thái đó - khi bạn cho phép cuộc sống diễn ra theo ý riêng của nó, khi bạn không muốn điều khiển nó, khi bạn không muốn đưa ra bất kỳ sự kiểm soát nào, khi bạn không thao túng, khi bạn không áp đặt bất kỳ kỷ luật nào cho nó - trạng thái tự phát thuần khiết, không kỷ luật đó chính là thiền. Thiền là trong hiện tại, hiện tại toàn vẹn. Thiền là trực tiếp. Bạn không thể thiền được, nhưng bạn có thể trong trạng thái thiền. Bạn không thể nằm trong tập trung được, nhưng bạn có thể tập trung. Tập trung là của con người; thiền là thiêng liêng. Tập trung có một trung tâm bên trong bạn; từ trung tâm đó nó hướng ra. Bạn có cái ta khi tập trung. Thực ra, người tập trung thật nhiều sẽ có cái ta rất mạnh. Người đó càng ngày càng trở nên mạnh hơn, người đó mỗi ngày mỗi nhiều ý chí hơn. Người ấy trông có vẻ tự chủ hơn, ít phân tán hơn. Thiền nhân không trở thành mạnh mẽ: người ấy trở thành im lặng, người ấy trở thành an bình. Sức mạnh được tạo ra từ xung khắc; tất cả các sức mạnh đều có do sự cọ xát. Từ cọ xát sinh ra điện. Bạn có thể tạo ra điện từ nước: khi nước sông đổ từ núi xuống thì có sự cọ xát giữa sông và mô tơ, và sự cọ xát sinh ra năng lượng. Đó là lý do tại sao những người tìm kiếm sức mạnh bao giờ cũng tranh đấu. Tranh đấu tạo ra năng lượng. Bao giờ cũng là vì cọ xát mà năng lượng được tạo ra, sức mạnh được tạo ra. Thế giới cứ phải khổ mãi vì chiến tranh bởi vì thế giới bị khống chế bởi ý tưởng về sức mạnh. Bạn không thể mạnh mà không tranh đấu. Thiền đem tới an bình. An bình có sức mạnh riêng của nó, nhưng đó lại là một hiện tượng khác hẳn. Sức mạnh được tạo ra từ sự cọ xát là bạo hành, hung hăng, nam tính. 357 Đây là một trong nhưng công án rất nổi tiếng của người Nhật.
218 Bát Nhã Tâm Kinh Sức mạnh - tôi phải dùng từ này bởi vì không có từ nào khác - sức mạnh bắt nguồn từ an bình, là nữ tính. Nó có ân sủng của nó. Nó là sức mạnh thụ động, nó tiếp nhận, nó cởi mở. Nó không bắt nguồn từ cọ xát; đó là lý do tại sao nó không bạo hành. Phật có sức mạnh, mạnh mẽ trong sự an bình của Ngài, trong im lặng của Ngài. Ngài có sức mạnh mẽ của một bông hồng, Ngài không mạnh mẽ như bom nguyên tử. Ngài mạnh mẽ như nụ cười của trẻ thơ... rất mảnh mai, rất mong manh; Ngài không mạnh như lưỡi kiếm. Ngài mạnh mẽ, như ngọn đèn dầu nhỏ, ngọn lửa nhỏ cháy sáng trong đêm tối. Đó là sức mạnh của một chiều kích hoàn toàn khác. Sức mạnh này là cái chúng ta gọi là sức mạnh thiêng liêng. Nó không bắt nguồn từ cọ xát. Tập trung là sự cọ xát: bạn tranh đấu với tâm trí mình. Bạn cố gắng hội tụ tâm trí theo một chiều hướng nào đó, hướng tới một ý tưởng nào đó, hướng về một vật nào đó. Bạn ép buộc tâm trí, bạn kéo nó trở lại mãi. Nó cố vùng vẫy, nó tuột đi, nó đi lạc lối, nó nghĩ đến cả ngàn sự việc, và bạn đem nó trở về, bạn bó buộc nó. Bạn tự tranh đấu. Sức mạnh được tạo ra theo cách đó; sức mạnh đó cũng hại như bất kỳ sức mạnh nào khác, sức mạnh đó cũng nguy hiểm như bất kỳ sức mạnh nào khác. Sức mạnh đó sẽ được dùng để làm hại người khác, bởi vì sức mạnh có từ cọ xát là bạo hành. Những gì bắt nguồn từ bạo hành sẽ là bạo hành; nó mang tính hủy diệt. Sức mạnh tới từ an bình, không cọ xát, không tranh đấu, không thao túng, là sức mạnh của hoa hồng, sức mạnh của ngọn đèn nhỏ, sức mạnh của nụ cười trẻ thơ, sức mạnh của phụ nữ than khóc, sức mạnh trong những giọt nước mắt, trong những giọt sương mai. Nó bao la nhưng không nặng nề; nó vô cùng nhưng không bạo hành. Tập trung sẽ làm cho bạn thành người có ý chí. Thiền sẽ làm cho bạn thành trống không.
Chân Không Viên Mãn 219 Đó là điều Phật đang nói cho Xá Lợi Phất. Prajnaparamita358 có nghĩa đích xác là ‘thiền, trí huệ của bờ bên kia’. Bạn không thể đem nó tới, nhưng bạn có thể mở cửa cho nó. Bạn không cần làm bất kỳ điều gì để đem nó vào trong thế giới - bạn không thể làm được; nó nằm ngoài tầm tay của bạn. Bạn phải tan biến đi để cho nó tới. Tâm trí phải ngưng lại để nó xuất hiện. Tập trung là nỗ lực của tâm trí; thiền là trạng thái tâm không. Thiền là nhận biết thuần khiết, thiền không có động cơ nào hết. Thiền là một cây lớn mọc ra mà không có bất cứ một hạt mầm nào: đó là phép màu của thiền, rất ảo diệu, rất bí ẩn. Tập trung có hạt mầm trong nó: bạn tập trung với một mục đích nào đó, có động cơ, có lý do thúc đẩy. Thiền không có động cơ. Thế thì thiền làm gì nếu không có động cơ? Thiền chỉ xuất hiện khi bạn đã quan sát mọi động cơ và thấy chúng đều thiếu sót, khi bạn đã thử mọi động cơ và thấy chúng đều giả dối. Bạn thấy rằng động cơ chẳng dẫn đến đâu cả, rằng bạn cứ đi vòng vòng; bạn vẫn dậm chân tại chỗ. Động cơ tiếp tục kéo bạn đi, lôi bạn đi, làm cho bạn như điên như khùng; nó tạo ra ham muốn mới, nhưng chẳng đạt được gì cả, vẫn trắng tay như bao giờ. Khi điều này đã được thấy rõ, khi bạn đã nhìn vào cuộc sống mình và thấy rằng mọi động cơ đều thất bại... Không động cơ nào thành công cả. Không động cơ nào ban ân huệ cho bất kỳ ai. Động cơ chỉ hứa hẹn; hàng hóa chẳng được giao bao giờ. Khi một động cơ thất bại, động cơ khác tới và lại hứa hẹn với bạn... và bạn lại bị lừa nữa. Cứ bị động cơ lừa đi lừa lại mãi, rồi một hôm bỗng nhiên bạn khôn ra - bỗng nhiên bạn thấu suốt tất cả, và qua sự thấu suốt đó thiền bắt đầu xuất hiện. Thiền không có nguyên nhân nào hết; nó không có động cơ nào cả. Nếu bạn thiền về cái gì đó, bạn đang tập trung, không 358 Phiên âm là Bát Nhã Ba La Mật Đa.
220 Bát Nhã Tâm Kinh phải thiền. Thế thì bạn vẫn nằm trong thế giới - tâm trí bạn vẫn đang quan tâm tới những đồ rẻ mạt, tầm phào. Thế thì bạn vẫn còn phàm tục. Cho dù bạn thiền để hợp nhất với Thượng Đế, bạn vẫn là phàm nhân. Cho dù bạn thiền để đạt tới niết bàn, bạn vẫn là phàm nhân - bởi vì thiền không có mục đích. Thiền là cái nhìn thấu suốt rằng mọi mục đích đều giả tạo. Thiền là nhận thức rằng ham muốn chẳng dẫn đến đâu cả. Thấy được như vậy... Và điều này không phải là niềm tin rằng bạn có thể nhận được từ tôi, hay từ Phật, hay từ Chúa Giê Su. Đây không phải là tri thức; bạn sẽ phải thể nghiệm như vậy. Bạn có thể thể nghiệm ngay bây giờ! Bạn đã từng sống, đã thấy nhiều động cơ, đã từng bị rối loạn, đã nghĩ về những gì phải làm, cái gì không làm, và bạn đã làm nhiều thứ. Mà những cái đó dẫn bạn tới đâu? Hãy nhìn cho rõ! Tôi không nói là bạn phải đồng ý với tôi, không nói hãy tin vào tôi. Tôi chỉ giúp cho bạn nhận ra một sự kiện mà bạn đã từng quên lãng. Đây không phải là một lý thuyết, mà là một phát biểu đơn giản về một sự kiện rất đơn giản. Có thể bởi vì nó quá đơn giản nên bạn cứ tiếp tục mãi mà không để ý. Tâm trí bao giờ cũng quan tâm tới những cái phức tạp, và chỉ những cái phức tạp mới cần phải làm gì đó. Bạn không thể làm gì với một hiện tượng đơn giản. Bạn không để ý đến cái đơn giản. Cái đơn giản bị lãng quên, bị bỏ qua. Cái đơn giản quá hiển nhiên đến đỗi bạn chẳng bao giờ nhìn vào nó. Bạn chỉ tìm kiếm cái phức tạp - cái phức tạp tự nó là một thách thức. Sự phức tạp của một hiện tượng, của một vấn đề, của một tình huống tạo cho bạn một sự thách thức. Thách đố đó tạo ra năng lượng, sự cọ xát, sự xung khắc vì bạn phải giải quyết vấn đề này, bạn phải chứng minh rằng bạn có thể giải quyết vấn đề này. Khi bị thách đố, bạn được kích động vì đó là cơ hội để chứng minh điều gì đó. Nhưng điều tôi đang nói lại là một sự kiện đơn giản, nó không phải là một vấn đề. Nó không thách thức bạn, nhưng nó có mặt ở đấy. Bạn có thể nhìn thẳng vào nó, có thể né tránh nó. Mà nó cũng
Chân Không Viên Mãn 221 chẳng cần được để ý; nó quá đơn giản. Bạn cũng không thể gọi nó là một tiếng nói tĩnh lặng, nhỏ bé bên trong bạn; nó cũng không thì thào. Nó hiện diện ở đó - bạn có thể nhận ra nó, có thể không. Hãy nhìn nó! Và khi nói, “Hãy nhìn nó,” tôi muốn nói hãy thấy nó ngay bây giờ, ngay lập tức, không cần phải đợi. Và hãy nhanh chóng khi tôi nói, “Hãy thấy nó!” Hãy thấy nó, nhưng phải nhanh mới được bởi vì nếu bạn bắt đầu nghĩ, nếu bạn không nhanh chóng, ngay lập tức, ngay trong thời điểm đó, tâm trí sẽ chen vào, và rồi nó sẽ suy tư, sẽ đem ý tưởng vào, sẽ đem định kiến tới. Và bạn lại đi vào trạng thái triết lý - nhiều ý nghĩ. Thế thì bạn phải chọn giữa phải và trái; bạn lại bắt đầu suy xét. Bạn bỏ lỡ khoảnh khắc hiện thực. Khoảnh khắc hiện thực là ngay bây giờ. Chỉ cần nhìn, và đó là thiền - cái nhìn đó là thiền.359 Chỉ cần nhìn được sự kiện của sự việc, của trạng thái nào đó là thiền. Thiền không có động cơ, do đó thiền không có trung tâm. Và bởi vì không có động cơ và không trung tâm, thiền không đưa đến cái ta. Khi trong trạng thái thiền, bạn không vận hành từ một trung tâm, bạn hành động từ chân không. Đáp ứng từ chân không chính là tất cả ý nghĩa của thiền. Tâm trí tập trung: nó hành động từ quá khứ. Thiền hành động trong hiện tại, từ hiện tại. Nó là sự đáp ứng thuần khiết cho hiện tại, nó không phải là phản ứng. Nó không hành động vì một kết luận, nó hành động vì thấy được cái hiện thực. Hãy quan sát cuộc sống của mình: có sự khác biệt rõ ràng khi bạn hành động từ kết luận. Khi thấy một người, bạn cảm thấy bị hấp dẫn - một người đẹp, trông rất bảnh trai, rất hồn nhiên. Mắt người đó thật đẹp, phong độ lả lướt. Nhưng rồi người đó tự giới thiệu mình và nói, “Tôi là người Do Thái” - còn bạn là người đạo Chúa. Một cái 359 Chỉ cần nhìn thấy là đủ. Vì vậy tất cả các thánh nhân của Áo Nghĩa Thư đều được gọi là người biết nhìn (rishi).
222 Bát Nhã Tâm Kinh gì đó lập tức loé lên và có một khoảng cách: bây giờ người đó không còn hồn nhiên nữa, người đó không còn đẹp nữa. Bạn có một ý tưởng nào đó về người Do Thái. Hay người đó theo đạo Chúa còn bạn là người Do Thái; bạn có ý tưởng nào đó về người đạo Chúa – những gì Ki Tô Giáo đã làm với người Do Thái trong quá khứ, những gì người đạo Chúa khác đã làm cho người Do Thái, cách thức họ đã tra tấn người Do Thái qua các thời đại... mà người ấy lại theo đạo Chúa - và một cái gì đó lập tức thay đổi. Đó là hành động từ kết luận, từ định kiến, không nhìn vào cá nhân con người này - bởi vì người này có thể không phải là người Do Thái như bạn nghĩ. Bởi vì mỗi người Do Thái có cái độc đáo riêng, mỗi người Hindu cũng có cái độc đáo riêng, mỗi người Hồi giáo cũng vậy. Bạn không thể hành động từ định kiến. Bạn không thể hành động bằng việc phân loại mọi người. Bạn không thể chia vơ đũa cả nắm; không ai có thể bị xếp loại. Bạn có thể bị lừa bởi hàng trăm người cộng sản, và khi bạn gặp người cộng sản thứ một trăm lẻ một, đừng tin vào cái phân loại mà bạn đã có sẵn trong đầu: rằng người cộng sản lừa dối - hay định kiến gì khác. Người này có thể thuộc loại người khác bởi vì không người nào giống người nào cả. Bất kỳ khi nào bạn hành động từ kết luận, đấy là tâm trí. Khi bạn nhìn vào hiện tại và không cho phép bất kỳ ý tưởng nào cản trở thực tại, cản trở sự kiện, khi bạn chỉ nhìn vào dữ kiện và hành động từ cái nhìn đó, đấy là thiền. Thiền không phải là cái gì đó bạn làm lúc buổi sáng rồi quên bẵng đi; thiền là cái phải gắn liền liên tục trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống bạn. Bước đi, ngủ, ngồi, nói, nghe - nó phải là một loại khí hậu trong đời bạn. Một người thảnh thơi an trú trong nó. Một người luôn luôn bỏ lại quá khứ sau lưng an trú trong thiền. Đừng bao giờ hành động từ kết luận; những kết luận đó là sự nhiễm trước của bạn, định kiến của bạn, ham muốn của bạn, nỗi
Chân Không Viên Mãn 223 sợ của bạn, và tất cả những căn bệnh khác. Nói một cách ngắn gọn, bạn có cái ta! Bạn hợp bởi những quá khứ của bạn. Bạn là tập hợp của tất cả những kinh nghiệm của bạn về quá khứ. Đừng để cái đã chết làm chủ cái sống, đừng cho phép quá khứ ảnh hưởng tới hiện tại, đừng cho phép cái chết chế ngự cuộc sống bạn - đó chính là ý nghĩa của thiền. Nói ngắn gọn, trong thiền, cái ta không hiện hữu. Cái chết không kiểm soát cái sống. Thiền là một loại kinh nghiệm sẽ cho bạn một phẩm chất hoàn toàn mới để sống đời mình. Bạn sẽ không sống như một người Hindu, một người Hồi giáo, người Ấn hay người Đức; bạn sống hoàn toàn có ý thức. Khi bạn sống trong khoảnh khắc này và không có gì xen vào, hành động ấy toàn vẹn bởi vì không có sự phân tán - sự phân tán tới từ quá khứ và tương lai. Khi chú ý toàn bộ, hành động của bạn toàn bộ, không có gì sơ sót. Nó giải phóng bạn, nó không bao giờ đóng khung bạn lại, nó không bao giờ làm bạn tù túng. Và đó là mục đích tối thượng của Phật; đó là cái Ngài gọi là niết bàn. ‘Niết bàn’ nghĩa là tự do - hoàn toàn, tuyệt đối, không cản trở. Bạn trở thành một bầu trời rộng mở, không biên giới, vô hạn. Nó luôn luôn hiện diện. Thế thì bạn được bao bọc bởi chân không, cả trong lẫn ngoài. Chân không là sự vận hành của tâm thức trong trạng thái thiền. Và trong chân không đó là phúc lành. Chân không đó tự nó là phúc lành. Bây giờ đến lời kinh. Do đó, này Xá Lợi Phất, chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, dựa vào trí huệ bát nhã, tâm không có chướng ngại. Hãy nhớ, từ ‘do đó’ ấy là một dấu hiệu rằng Phật đang nhìn vào chân không của Xá Lợi Phất - vì Ngài luôn cảm
224 Bát Nhã Tâm Kinh thấy rằng ông ấy đang thảnh thơi, rằng năng lượng của ông ấy không còn rối loạn nữa, rằng ông ấy không suy tư mà đang lắng nghe, rằng ông ấy không suy nghĩ mà đã hợp làm một với Phật, rằng ông ấy hiện diện, rộng mở, tiếp nhận. Từ ‘do đó’ ấy chỉ về sự rộ nở trong bản thể của Xá Lợi Phất. Phật đang thấy những cánh hoa đang mở ra mỗi lúc một nhiều nên Ngài đi thêm một bước nữa, đưa Xá Lợi Phất đi sâu thêm một bước nữa. Xá Lợi Phất đang sẵn sàng tiếp nhận. Từ ‘do đó’ này không phải là logic, cái ‘do đó’ này là hiện thực. Nhìn vào trong Phật, Xá Lợi Phất đang mở ra. Và nhìn vào Xá Lợi Phất, Phật sẵn sàng đưa ông ấy tiến thêm một chút nữa sang cõi bên kia. Mỗi phát biểu lại càng đi sâu hơn và cao hơn. Do đó, này Xá Lợi Phất, chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, dựa vào trí huệ bát nhã, tâm không có chướng ngại. Từng lời một đều phải được thiền - không tập trung, hãy chú ý, nhưng hãy thiền; hãy lắng nghe, hãy nhìn vào, không suy tư, không nghĩ ngợi. Những điều này còn cao hơn ý nghĩ, lớn hơn ý nghĩ. Ý tưởng không có chỗ đứng trong cõi này. Trước hết Ngài nói: ... chính vì không có chứng đắc... Thiền không thể chứng đắc được bởi vì thiền không thể có động cơ. Khi đạt tới cái gì đó, bạn đạt tới qua một động cơ. Khi đạt tới cái gì đó, bao giờ bạn cũng phải làm việc cho tương lai và lập kế hoạch cho tương lai. Bạn không thể đạt được bất kỳ cái gì ngay bây giờ - ngoại trừ thiền. Hãy để tôi nhắc lại: Bạn không thể đạt được bất kỳ cái gì ngay bây giờ - ngoại trừ thiền. Tại sao? Nếu muốn có tiền, bạn không thể đạt được điều đó ngay bây giờ, bạn
Chân Không Viên Mãn 225 sẽ phải làm việc vất vả; hoặc là hợp pháp, hoặc bất hợp pháp - nhưng bạn phải làm mới có tiền. Nếu làm giầu một cách chậm rãi, bạn là một nhà kinh doanh; và có những cách thức nhanh hơn, bạn có thể trở thành chính khách - nhưng bạn sẽ phải làm gì đó. Dù chậm hay nhanh, nhưng vẫn cần thời gian. Thời gian là điều tối cần. Không có thời gian, bạn không thể có tiền. Nếu không có thời gian, ngay trong khoảnh khắc này làm sao bạn đạt tới được? Cho dù bạn có muốn ăn cướp nhà hàng xóm, nếu bạn muốn móc túi người đang ngồi bên cạnh, cũng vẫn cần thời gian. Thời gian là cái phải có. Nếu bạn muốn nổi tiếng, cần phải có thời gian. Nếu bạn muốn có quyền lực chính trị, cũng cần phải có thời gian. Chỉ có thiền mới thể đạt tới ngay bây giờ, chính khoảnh khắc này, ngay tức thì. Tại sao? - bởi vì đấy là thiên tính của bạn. Tại sao? - bởi vì nó đã có sẵn ở đấy rồi. Bạn chưa đòi lại chủ quyền ấy, đúng như vậy; nhưng nó vẫn nằm chờ ở đấy, chưa được đòi lại. Bạn có thể đòi lại ngay bây giờ. Bạn không cần một khoảnh khắc nào cả. ... chính vì không có chứng đắc... Và niết bàn chẳng qua là thiền đã hoàn tất một vòng trọn vẹn. Thượng Đế chẳng qua là cái nụ của thiền đã trở thành hoa. Đây không phải là chứng đắc, đấy là chính thực tại của bạn. Bạn có thể không để ý tới chúng trong nhiều thời đại, quên lãng chúng trong nhiều kiếp, nhưng bạn không thể làm mất chúng; chúng đang ở đấy, ngay bên trong bạn. Ngày nào nhắm mắt lại mà nhìn, bạn sẽ bắt đầu cười to. Và bạn đã tìm kiếm niềm phúc lạc này mà tìm không đúng chỗ. Bạn đã tìm kiếm sự an toàn này, vốn từ chân không, nhưng bạn lại tìm kiếm trong tiền bạc, trong ngân hàng, hoặc là những cái khác. Và nó chẳng bao giờ xảy ra qua những cái đó. Nó không thể xảy ra qua những cái đó được. Không có gì ngoại tại có thể làm cho cuộc sống bạn
226 Bát Nhã Tâm Kinh được an toàn. Bên ngoài bất an; làm sao nó có thể làm cho cuộc sống bạn an toàn được? Chính quyền không thể làm cho cuộc sống của bạn an toàn được bởi vì ngay cả chính phủ cũng bấp bênh - cách mạng có thể tới. Ngân hàng không thể nào làm cho cuộc sống của bạn an toàn được vì ngân hàng có thể phá sản. Chỉ ngân hàng mới có thể phá sản, có gì khác không? Người đàn bà mà bạn yêu không thể làm cho cuộc sống bạn an toàn được vì bà ấy có thể yêu người khác. Người đàn ông bạn yêu không thể làm cuộc sống bạn an toàn được - người ấy có thể chết đi. Tất cả những vấn đề này vẫn còn đó. Cho nên càng an toàn bên ngoài, bạn càng trở nên bất an hơn vì bạn sợ ngân hàng có thể bị phá sản. Nếu không có tài sản, bạn chẳng bận tâm; nó phá sản lúc nào cũng được. Nhưng nếu có tiền ở đó, bạn lo sợ. Thế thì bạn chuốc thêm một điều bất an nữa - vì ngân hàng có thể phá sản. Bây giờ bạn ngủ không yên bởi vì bạn cứ nghĩ mãi về điều gì sắp xảy ra. Nếu bạn đặt sự tin cậy của mình vào cái bên ngoài, nó tạo thêm sự bất ổn. Đó là lý do tại sao người càng giầu có càng bất an hơn. Nhưng mà tôi cũng không khuyến khích nghèo nàn đâu, hãy nhớ. Tôi không nói hãy trở nên nghèo khó. Chẳng có gì thiêng liêng trong cái nghèo hết. Mà tôi cũng không nói nghèo là an toàn; anh ta có cái bất an của mình. Người giầu có cái bất an của người giầu; tất nhiên cái bất an của người giầu phức tạp hơn, còn cái bất an của người nghèo đơn giản - nhưng cả hai vẫn có bất an. Và tôi không nói rằng nghèo là một cái gì đặc biệt lắm, rằng nghèo là một cái gì rất quan trọng và đầy ý nghĩa, rằng bạn có thể khoác lác rằng bạn nghèo. Nghèo chẳng có gì liên quan với tâm linh cả. Mà giầu cũng chẳng có liên quan gì tới tâm linh cả. Đấy là những sự kiện không có quan hệ gì. Người nghèo trông bề ngoài cũng chẳng khác người giầu lắm. Có thể người nghèo chỉ có một chiếc xe bò, còn người giầu có xe Cadillac, nhưng điều đó cũng chẳng thành vấn đề. Xe bò kéo cũng chỉ là cái bên ngoài như Cadillac; cả hai đều trông ra ngoài.
Chân Không Viên Mãn 227 Người giầu có thể có nhiều trương mục, còn kẻ nghèo chỉ có ví tiền nhỏ hay có chút ít tiền tiết kiệm, nhưng điều đó chẳng thành vấn đề - cả hai đều nhìn ra ngoài. An toàn nằm trên đường về nội tâm bởi vì tại đó bạn mới nhận ra rằng chẳng có ai để chết cả, rằng chẳng có ai để đau khổ cả, rằng chẳng có gì có thể xảy ra, rằng ở đó là bầu trời thuần khiết. Mây tới rồi đi, nhưng bầu trời còn lại mãi mãi. Cuộc sống tới rồi đi, hình tướng đến rồi đi, nhưng chân không thì còn lại mãi mãi. Chân không này đã ở sẵn đó rồi. Đó là lý do tại sao Phật lại nói điều đó có thể chứng đắc được chỉ khi bạn hiểu rằng không có gì để chứng đắc cả. Nó có thể chứng đắc được chỉ khi bạn hiểu sự kiện cơ bản: rằng nó đã có ở đó rồi, rằng nó đã chờ sẵn ở đó rồi. Cái chân không đã có sẵn ở đó, không có cách nào để tiến hoá, phát triển. Nó tràn đầy, viên mãn rồi. Do đó nó có thể được đạt tới trong một khoảnh khắc. Phật gọi nó là ‘chân không viên mãn’, bởi vì chân không chỉ có thể tràn đầy nếu nó ở đó. Nếu nó không tràn đầy, nghĩa là cái gì khác không phải chân không cũng đang ở đó; và cái đó sẽ cản trở, sẽ ngăn cản, và nó sẽ tạo ra nhị nguyên, sẽ tạo ra cọ sát, sẽ tạo ra căng thẳng, sẽ tạo ra lo âu. Bạn không thể thoải mái với ‘cái gì khác đó’. Chân không chỉ có khi nó tràn đầy, khi tất cả các chướng ngại đã bị loại bỏ, khi bạn không có bất kỳ cái gì bên trong, khi không có ai ở đó mà quan sát nó. Phật nói: cái chân không này cũng chẳng phải là một kinh nghiệm bởi vì nếu kinh nghiệm, nghĩa là bạn phải ở đó để kinh nghiệm nó. Nó chính là bạn, cho nên bạn không thể kinh nghiệm nó. Bạn chỉ có thể kinh nghiệm những gì không phải là bạn. Kinh nghiệm có nghĩa là nhị nguyên - người quan sát và cái được quan sát, người biết và cái được biết, chủ thể và khách thể, người thấy và vật được thấy. Nhưng nếu chỉ có chân không thì không có ai để thấy, không có ai để được thấy, không có khách thể, cũng không có chủ thể. Cái trống không bất nhị này tràn đầy, viên mãn hoàn
228 Bát Nhã Tâm Kinh toàn. Sự tràn đầy của nó không thể làm đầy hơn nữa, sự viên mãn của nó không thể được tăng thêm nữa. Không có gì có thể lấy ra từ đó bởi vì không có gì ở đó cả, và cũng chẳng có gì có thể thêm vào được bởi vì nó đã viên mãn hoàn toàn. ‘Chân không viên mãn’ không phải là một kinh nghiệm, bởi vì không có người kinh nghiệm trong đó. Do đó, Phật nói: Tâm linh không phải là một kinh nghiệm. Thượng Đế không thể kinh nghiệm được. Những người nói, “Tôi đã kinh nghiệm Thượng Đế,” thì hoặc là không hiểu họ đang nói gì, hoặc họ dùng ngôn ngữ không thích hợp. Bạn không thể kinh nghiệm Thượng Đế được. Kinh nghiệm được như vậy thì bạn không còn nữa. Kinh nghiệm thì có, nhưng người kinh nghiệm thì không - cho nên bạn không thể nào nói nó là kinh nghiệm được. Cho nên khi có người hỏi Phật, “Thầy đã kinh nghiệm Thượng Đế chưa?” Ngài lặng thinh, không nói một lời nào. Ngài đổi đề tài ngay lập tức và nói về vấn đề khác. Bất kỳ khi nào được hỏi như vấy, trong cả đời hoằng pháp của mình, Ngài nhất mực im lặng. Nhiều người nghĩ rằng Ngài chưa kinh nghiệm Thượng Đế; đó là lý do tại sao Ngài thinh lặng. Nhưng Ngài là người duy nhất chẳng nói gì - phủ định hay khẳng định. Và đấy không phải bởi vì Ngài không kinh nghiệm. Ngài đã kinh nghiệm, nhưng điều đó không thể được nói như một kinh nghiệm; đó là lý do tại sao Ngài im lặng. Đó là lý do tại sao Chúa Giê Su cũng im lặng khi Phi-la-tô hỏi, “Chân lý là gì?” J. Krishnamurti nói hoài... và ông ấy phân biệt rất tinh tế giữa kinh nghiệm và tiến trình kinh nghiệm. Đó là sự phân biệt tuyệt vời - ông ấy nói, “Đấy là sự đang kinh nghiệm, không phải kinh nghiệm.” Nó là một tiến trình, không phải là một sự việc. Nó sống động, không chết. Nó vẫn tiếp diễn, không kết thúc. Bạn hòa nhập với Thượng Đế, và đấy là một hiện tượng tiếp diễn không ngừng; nó diễn mãi đến muôn đời; bạn chẳng bao giờ ra khỏi nó. Đấy là sự đang kinh nghiệm, một tiến trình đang diễn tiến
Chân Không Viên Mãn 229 - giống như dòng sông chảy mãi không ngừng; giống như hoa nở, hoa này nối tiếp hoa kia cứ tiếp tục nở mãi. Và chẳng bao giờ có sự chấm dứt cả. Khi một người nói đã kinh nghiệm Thượng Đế thì rõ là ngu xuẩn, rẻ tiền và đần độn. Nói rằng một người đã đạt tới giải thoát, niết bàn, chân lý thì sai hẳn bởi những điều này không thể được coi là thành đạt được. Cho nên Phật nói: Do đó, này Xá Lợi Phất, chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, Khi tâm trí đã tới điểm ngừng và không còn quan tâm tới việc thành đạt nữa, nó đạt tới Phật tính. Khi tâm trí đã ngừng lại hoàn toàn và không còn đi đâu nữa, nó bắt đầu đi vào trong, nó bắt đầu rơi vào trong bản thể riêng của mình, cái vực sâu thăm thẳm đó. Chân không viên mãn đạt được bởi sự không thành đạt. Cho nên bạn đừng trở thành người thành đạt, đừng nghĩ đến thành đạt - rằng bạn đã đạt được cái này, cái nọ, rằng bạn đã vươn tới Thượng Đế. Đấy chỉ là trò chơi; tâm trí lại lừa phỉnh bạn. Tên của trò chơi thay đổi, nhưng trò chơi tinh vi thì vẫn thế. ... chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, dựa vào trí huệ bát nhã... Đây là một phát biểu vô cùng ý nghĩa. Phật nói: ta không nên dựa vào bất kỳ cái gì. Điều này lại mâu thuẫn với Phật giáo công truyền, bởi vì Phật giáo công truyền có tam bảo: Buddham sharanam gachchhami,360 sangam sharanam gachchhami,361 dhammam sharanam gachchhami. 362 Khi đệ tử tới với Phật, người ấy cúi đầu, 360 Quy y Phật 361 Quy y Tăng 362 Quy y Pháp
230 Bát Nhã Tâm Kinh qui phục Ngài và nói, “Con xin qui y Phật” - buddham sharanam gachchhami. “Con qui y vào cộng đồng của Phật” - sangam sharanam gachchhami: “Con qui y vào chân lý mà Phật dạy” - dhammam sharanam gachchhami. Và Phật nói ở đây là người ta không nên dựa vào bất kỳ cái gì - không có qui y, không đâu là chỗ trú ẩn cả. Tâm Kinh này được coi là linh hồn của Phật giáo, và giáo hội của Phật được gọi là thân xác. Tam bảo là để cho tâm trí rất bình thường, đang tìm chỗ trú ẩn nào đó, chỗ chống đỡ nào đó, chỗ hỗ trợ nào đó. Những phát biểu này là để cho căn cơ cao nhất - người đã tới bậc thứ sáu, và đang lơ lửng giữa bậc thứ sáu và thứ bảy, chỉ cần đẩy thêm một chút nữa... Do đó, này Xá Lợi Phất... Tương truyền rằng bài thuyết pháp đầu tiên của Phật, vẫn được gọi là bài Chuyển pháp luân - Dhamma Chakrapravatan Sutra - là bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài, gần thành Varanasi363 - đã tạo ra cái gọi là tôn giáo công truyền, dành cho quần chúng bình dân. Trong bài thuyết pháp đó Ngài tuyên bố, “Hãy tới mà qui y Phật; tới mà qui y Pháp; tới mà qui y Tăng.” Sau hai mươi năm Ngài tuyên bố hệ thống tôn giáo thứ hai này. Ngài mất hai mươi năm để đưa vài người tới khả tính cao nhất. Điều này được coi là bài giảng quan trọng thứ hai. Bài giảng thứ nhất tại rừng Saranath,364 gần Varanasi, khi Ngài bảo với mọi người, “Hãy lại đây và qui y vào ta. Ta đã chứng ngộ! Hãy lại và qui y vào ta. Ta đã giác ngộ! Hãy lại và chia xẻ cùng ta. Ta đã đạt đạo! 363 Vanarasi, cũng được gọi là Kashi, là một thánh địa quan trọng nhất của Ấn độ giáo. 364 Saranath, cách Bồ Đề Đạo Tràng khoảng 150 cây số, là nơi có rất nhiều pháp môn huyền bí.
Chân Không Viên Mãn 231 Hãy lại và theo ta.” Đó là nói cho tâm trí bình thường; dĩ nhiên là vậy. Phật không thể tung ra Tâm Kinh; quần chúng sẽ không thể nào hiểu nổi. Thế rồi Ngài trong hai mươi năm huấn luyện đệ tử. Nay Xá Lợi Phất đang tới rất gần. Bởi vì sự gần gũi đó, Ngài nói: Do đó, này Xá Lợi Phất... Bây giờ tôi có thể nói điều đó cho bạn. Tôi có thể nói cho bạn rằng hãy dựa vào trí huệ bát nhã... Chỉ một điều mà người ta phải dựa vào, và đó là sự tỉnh thức, sự cảnh giác. Chỉ một điều mà người ta phải dựa vào, đó là cội nguồn nội tâm của riêng mình, bản thể mình. Mọi thứ khác đều phải bị loại bỏ, mọi nương tựa. Qua việc không dựa vào bất cứ gì ngoài sự hoàn hảo của thiền, điều người ta phải làm là không dựa vào bất kỳ cái gì, thế tục hay linh thiêng, mà phải buông bỏ tất cả để cho chân không được tự do bay nhảy, không bị cản trở bởi thái độ thuận hay nghịch. Chấm dứt dựa vào bất kỳ cái gì, không tìm kiếm chỗ trú ẩn hay hỗ trợ ở đâu cả. Đó mới là từ bỏ thực. Cái ta tách biệt của chúng ta là một thực tại giả mạo; nó có thể tự duy trì bằng cách tìm nương tựa, hay ủng hộ để mà ngả vào hay dựa vào. Tìm trú ẩn nơi tam bảo là điều kiện quan trọng nhất của Phật giáo công truyền - trú ẩn vào Phật, trú ẩn vào Tăng, trú ẩn vào Pháp. Tại đây Phật bác bỏ điều đó. Điều này không mâu thuẫn. Ngài chỉ nói cái bạn có thể hiểu được. Trong giáo huấn của tôi bạn sẽ tìm ra hằng hà vô số mâu thuẫn bởi vì chúng đã được nói cho nhiều người khác nhau. Bạn càng trưởng thành, tôi lại càng đưa ra những tuyên cáo khác bởi vì lời của tôi là sự đáp ứng lại cho bạn.365 Tôi không nói với bức tường. 365 Cuộc đời hoằng pháp của Osho có thể được chia làm hai giai đoạn. Hai chục năm đầu Ngài giảng về tất cả các thánh hiền đông tây kim cổ;
232 Bát Nhã Tâm Kinh Tôi đang nói với bạn, và tôi chỉ có thể nói cái mà bạn có thể hiểu được. Tâm thức bạn càng cao hơn, tâm thức bạn càng sâu hơn, tôi sẽ nói những điều càng áo diệu hơn. Những phát biểu khác nhau này, theo lẽ tự nhiên, sẽ rất mâu thuẫn. Nếu cứ theo logic thông thường, bạn sẽ chẳng tìm thấy gì cả. Bạn không thể tìm ra bất kỳ sự nhất quán nào trong các phát biểu của Phật. Đó là lý do tại sao sau ngày Phật chết, Phật giáo đã bị chia thành ba mươi sáu tông phái. Đúng ngày Ngài chết, các đệ tử đã bị phân chia thành ba mươi sáu tông phái. Điều gì đã xảy ra? Bởi vì Ngài đã nói với biết bao nhiêu người khác nhau, bởi vì tâm thức và hiểu biết khác nhau của họ. Thế rồi họ đều bắt đầu cãi vã và tranh đấu. Họ nói, “Điều này Phật đã nói cho tôi!” Bạn cứ thử nghĩ mà xem: Phật nói với năm đệ tử đầu, “Ta đã chứng ngộ - hãy đến và ta sẽ đưa các ông đến đó”... Nếu năm đệ tử đầu tiên này gặp Xá Lợi Phất và Xá Lợi Phất nói, “Điều ấy đạt tới qua sự không thành đạt; người tuyên bố rằng mình đã chứng ngộ là sai bởi vì điều đó không thể nào đạt được” - thì những đệ tử đầu tiên này sẽ nói gì? Họ sẽ nói, “Ông nói gì vậy? Chúng tôi là những đệ tử kỳ cựu nhất, cao niên nhất, và đây là lời đầu tiên mà Phật đã nói cho chúng tôi: ‘Ta đã chứng ngộ!’ Thực ra, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ theo Ngài nếu Ngài không tuyên bố như vậy. Bởi vì Ngài đã tuyên bố như vậy nên chúng tôi theo. Động cơ của chúng tôi thật rõ ràng: rằng Ngài đã chứng ngộ mà chúng tôi cũng muốn chứng ngộ; đó là lý do tại sao chúng tôi đã theo Ngài. Và Ngài đã nói với chúng tôi, ‘Ta là chỗ trú ẩn của các ông. Hãy đến mà nương vào ta. Hãy để ta là chỗ trú ẩn của các ông.’ Và ông đang nói gì nhảm nhí vậy? Nhất định Phật không thể nói như vậy. Có lẽ ông hiểu lầm chăng? Cái gì đó sai lầm. Hay ông đã bịa ra đấy?” mục đích là để thu hút đệ tử. Mười năm năm sau khi các để tử đã trưởng thành thì Ngài nói với họ những điều trước đó không thể nói được. Trong giai đoạn này Ngài đã bị đầu độc.
Chân Không Viên Mãn 233 Bây giờ phát biểu này, Tâm Kinh này, đã được nói riêng cho một cá nhân. Nó đã được nói cho Xá Lợi Phất; nó được nói cho riêng Xá Lợi Phất thôi. Giống như một bức thư. Xá Lợi Phất không có gì để chứng minh hết, bởi vì thời ấy làm gì có máy ghi âm. Ông ấy chỉ có thể nói như vậy; ông ấy có thể thề: “Tôi không hề nói sai sự thật. Phật đã nói với tôi, ‘Hãy dựa vào thiền định của ông. Đừng dựa vào bất cứ gì khác.’” Tâm trí còn dựa vào cái gì khác là cái ta giả mạo, bản ngã. Bản ngã không thể nào tồn tại nếu không có chống đỡ; nó phải được chống đỡ. Cái gì đó phải đỡ cho nó. Một khi tất cả các cột chống đã bị nhổ đi, bản ngã xụp đổ xuống đất và biến mất. Nhưng chỉ khi bản ngã xụp đổ, tâm thức mới phát khởi được; tâm thức ấy là vĩnh cửu, vượt thời gian, bất tử. Tại đây, Phật nói: “Không có chỗ trú ẩn, Xá Lợi Phất. Không có cách nào khác, Xá Lợi Phất. Chẳng có gì hết và không có chỗ nào để đi cả. Ông đã ở đó rồi.” Nếu bạn tới chân không viên mãn này mà không được chuẩn bị, nó sẽ làm cho bạn kinh sợ. Nếu bạn bị ném vào... Chẳng hạn, đôi khi có người đến đây với tình yêu và kính trọng sâu sắc và nói, “Osho, tại sao thầy không đẩy con mạnh thêm chút nữa?” Nếu bạn chưa sẵn sàng và bạn bị đẩy vào thì cũng chẳng ơn ích gì. Điều đó có thể cản trở tiến bộ của bạn trong nhiều kiếp sắp tới. Một khi đi vào chân không mà không được chuẩn bị, bạn sẽ bị choáng váng, hoảng sợ, sợ hãi tới chết đến mức, trong ít nhất vài kiếp nữa, bạn chẳng bao giờ dám bén mảng tới khi có người nói về chân không, nói về Thượng Đế. Bạn sẽ tránh né. Nỗi sợ đó sẽ trở thành một hạt mầm ăn sâu vào bạn. Không, bạn không thể nào bị thúc đẩy mà không được chuẩn bị. Bạn chỉ có thể được thúc đẩy dần dần, theo cùng tỉ lệ như bạn đã chuẩn bị.
234 Bát Nhã Tâm Kinh Bạn đã bao giờ nghe lời phát biểu nổi tiếng của Soren Kierkegaard, triết gia Đan mạch, người lập ra thuyết hiện sinh chưa? Ông ấy nói, “Con người run rẩy, thường xuyên run rẩy.” Tại sao? - bởi vì cái chết đang chờ. Tại sao? - bởi vì nỗi sợ rằng, “Ngày nào đó mình sẽ không còn nữa.” Ông ấy chỉ đúng đối với tâm trí bình thường - mọi người đều run rẩy. Vấn đề bao giờ cũng là, “Hiện hữu hay không hiện hữu.” Thần chết bao giờ cũng tòn ten ở đó. Bạn không thể tưởng tượng được sự biến mất vào chân không – đau lắm, kinh khủng lắm. Và nếu nhìn sâu vào bên trong, bạn sẽ thấy toàn thân run rẩy với ý tưởng về việc trở thành hư không. Bạn muốn hiện hữu, bạn muốn tồn tại, bạn muốn còn mãi. Bạn muốn kéo dài mãi mãi. Đó là lý do tại sao nhiều người chẳng biết gì về bản thể của mình mà cứ tiếp tục tin rằng linh hồn là bất tử - tin không phải bởi vì họ biết mà vì sợ. Bởi vì sự run rẩy đó mà họ phải tin linh hồn bất tử. Đó là một loại ước muốn tự đáp ứng. Cho nên bạn luôn luôn bị hấp dẫn mỗi khi có thằng ngốc nào nói về sự bất tử của linh hồn. Bạn sẽ bị mắc vào. Không phải là bạn đã hiểu người đó nói gì - chính hắn có thể cũng chẳng hiểu - nhưng điều ấy sẽ rất hấp dẫn. Tại Ấn Độ mọi người tin vào sự bất tử của linh hồn, và bạn không thể nào tìm ra ở đâu có người hèn nhát hơn nữa. Trong hàng ngàn năm họ vẫn còn là nô lệ, nô lệ cho cả những nước rất nhỏ. Bất kỳ ai đã tới Ấn Độ, đều chinh phục Ấn Độ mà chẳng mấy khó khăn. Họ bị chinh phục quá dễ dàng. Và đấy là những người tin là linh hồn bất tử. Thực ra, dân tộc nào tin là linh hồn bất tử thì không thể nào bị chinh phục được bởi vì không ai sợ chết cả. Làm sao bạn chinh phục một người không sợ chết được? Họ thà chết tất cả chứ không chịu bị khuất phục; không người nào có thể chinh phục họ được. Nhưng đã nhiều ngàn năm rồi mà Ấn Độ vẫn còn bị nô lệ. Rất dễ dàng; nó vẫn còn là nô lệ.
Chân Không Viên Mãn 235 Anh quốc là một nước rất nhỏ - có vài quận ở Ấn Độ còn lớn hơn. Anh có thể cai trị quốc gia to lớn này một cách dễ dàng, chẳng mấy khó khăn. Tại sao? ... Và những người này lại tin rằng linh hồn bất tử! Nhưng niềm tin không phải là kinh nghiệm của họ; họ tin vì sợ. Thế thì chỉ có một giải thích. Đây là những người hèn nhát, sợ sệt, sợ chết - do đó họ bám lấy ý tưởng rằng linh hồn bất tử. Không phải là họ biết, không phải là họ đã kinh nghiệm; họ chưa bao giờ kinh nghiệm những điều như vậy, họ chỉ kinh nghiệm cái chết bao quanh. Vì cái chết mà họ mới sợ đến thế. Cho nên một mặt họ tin là linh hồn bất tử; mặt khác, bất kỳ ai cũng có thể hành hạ họ, và họ sẵn sàng phục tùng, qùy gối. Chính vì sợ mà con người tin vào sự bất tử. Chính vì sợ mà con người tin vào Thượng Đế. Nó bắt nguồn từ sự run rẩy. Soren Kierkegaard nói rất đúng về tâm trí bình thường. Một triết gia hiện sinh khác, Jean-Paul Sartre, nói: “Con người bị kết án phải được tự do.”366 Tại sao lại ‘bị kết án’? Tại sao lại dùng từ xấu xí ‘bị kết án’ này? Tự do mà bị kết án ư? Đúng đấy, với tâm trí thông thường nó là vậy bởi vì tự do nghĩa là nguy hiểm. Tự do nghĩa là bạn không thể nào dựa vào bất kỳ cái gì, phải dựa vào chính mình. Tự do nghĩa là tất cả những cái chống đỡ đều đã bị lấy đi hết, mọi nương tựa đều biến mất. Tự do tự nền tảng chính là chân không. Bạn chỉ tự do khi bạn là cái không. Hãy nghe Sartre nói: “Khi được tự do con người trở nên thống khổ.” Thống khổ ư? Vì tự do? Đúng đấy, nếu bạn không sẵn sàng, nếu bạn không được chuẩn bị trước thì nó là thống khổ. Không ai muốn được tự do cả, bất kể những gì họ nói. Không ai muốn tự do cả. Họ chỉ muốn là nô lệ bởi vì khi bị nô lệ, trách nhiệm có thể được trút lên người khác. Bạn không bị trách nhiệm gì cả vì bạn chỉ là 366 Man is condemned to be free. Một trong những câu rất nổi tiếng của Sartre.
236 Bát Nhã Tâm Kinh một nô lệ: bạn có thể làm gì hơn? Bạn chỉ thừa hành mệnh lệnh. Nhưng khi được tự do, bạn lại sợ. Trách nhiệm nảy sinh. Bạn cảm thấy trách nhiệm trong mỗi hành động; nếu bạn làm điều này, kết quả có thể xảy ra như thế này; hay nếu bạn làm việc khác, hậu qủa khác có thể xảy ra. Thế thì bạn phải chọn lựa, và chọn lựa tạo ra lo sợ. Và JeanPaul Sartre rất đúng với tâm trí bình thường: tự do tạo ra thống khổ. Ông ấy nói, “Con người bị kết án phải được tự do,” bởi vì tự do tạo ra khiếp đảm. Tự do rất khiếp đảm. Chẳng có gì bảo đảm để tôi không lầm lỗi khi được tự do. Chẳng có giá trị nào mà tôi có thể lấy để làm nơi trú ẩn được. Tôi phải tự tạo ra những giá trị ấy. Tôi phải đặt ra ý nghĩa của chính bản thân mình, của vũ trụ mình, chỉ một mình tôi thôi, không thể bào chữa được và không vịn vào cớ nào cả. Tôi là người vén bức màn tự do của tôi. Và bạn phải hành động. Tự do của tôi là sự mở màn liên tục về bản thể tôi. Bạn cũng vậy. Cái độc đáo của mỗi chúng ta nằm trong sự kiện là mỗi chúng ta thực hiện điều này theo cách riêng của mình. Nhưng Sartre nghĩ tự do tạo ra thống khổ, và tự do là một loại bị kết án, một sự nguyền rủa. Và Kierkegaard nói, “Con người là sự run rẩy thường xuyên.” Còn Phật lại muốn bạn đi vào trong tự do này, vào trong chân không này. Dĩ nhiên, bạn phải được chuẩn bị trước. Xá Lợi Phất đã sẵn sàng. Do đó, này Xá Lợi Phất, chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, dựa vào trí huệ bát nhã, tâm không có chướng ngại. Vì không có chướng ngại nên không sợ hãi, Xa lìa lầm tưởng, đạt tới Niết Bàn.
Chân Không Viên Mãn 237 Ngài đã vượt qua sự sợ hãi... và Ngài không run rẩy trong chân không này. Điều này gần như không thể làm được đối với tâm trí thông thường: làm sao mà không run rẩy khi bạn đang biến mất? Khi đang tan biến trong miền đất lạ, làm sao bạn không hoảng sợ chứ? Làm sao bạn không tìm đường chạy trốn chứ? Làm sao bạn không đi tìm sự chống đỡ và ủng hộ để bạn có thể có lại cái cảm giác về bản ngã, về cái ta? Đó là lý do tại sao Phật đã phải đợi hai mươi năm. Hơn thế nữa, Ngài đã tỏ lộ chân lý này cho Xá Lợi Phất trong một đối thoại cá nhân, không phải trước đám đông. Và nếu có người không tin vào Xá Lợi Phất, họ cũng đúng - bởi vì Phật đã nói khác hẳn với họ. Và với tôi bạn cũng phải nhớ như vậy! Hãy nhớ điều này: những phát biểu của tôi nhiều khi mâu thuẫn nhau bởi vì chúng được nói cho nhiều người khác nhau; chúng được nhắm vào các tâm thức khác nhau. Và bạn càng trưởng thành hơn, tôi sẽ càng mâu thuẫn hơn; tôi sẽ càng phải bác bỏ những điều tôi đã nói từ trước - bởi vì điều đó sẽ không còn thích hợp với bạn nữa. Với tâm thức đang trưởng thành của bạn, tôi sẽ phải đáp ứng theo cách khác. Mỗi ngã rẽ trong tâm thức của bạn sẽ là một thay đổi trong phát biểu của tôi. Và khi tôi khuất bóng rồi, đừng tạo ra ba mươi sáu tông phái - bởi vì ba mươi sáu tông phái sẽ không có hiệu quả. Chân không đem lại tự do. Tự do khỏi cái ta là tự do tối thượng. Không có tự do nào cao hơn nữa. Chân không là tự do. Và nó không phải là thống khổ như Jean-Paul Sartre nói, và nó không run rẩy như Kierkegaard nói. Nó là phúc lành, nó là phúc lạc tối thượng. Nó không run rẩy bởi vì không có người để mà run rẩy cả. Thiền chuẩn bị cho bạn điều đó bởi vì khi thiền, hàng ngày bạn thấy bản thân mình càng ít đi. Và càng ít thấy bản thân mình, niềm phúc lạc của bạn cũng tăng dần theo
238 Bát Nhã Tâm Kinh cùng tỉ lệ như vậy, phúc lành của bạn, hạnh phúc của bạn. Dần dần bạn học được phép toán của thế giới nội tâm - rằng cái ta càng lớn thì càng nhiều địa ngục; bạn càng ít đi, thiên đường càng nhiều. Cái ngày bạn không còn nữa, đó là niết bàn; nơi trú ẩn tối thượng đã đạt tới. Bạn đã làm một vòng toàn vẹn, bạn đã trở lại thành đứa trẻ. Không còn cái ta nào nữa. Hãy nhớ điều này, tự do không có nghĩa là tự do của cái ta. Tự do nghĩa là: tự do khỏi cái ta. 367 Với Sartre điều đó có nghĩa ‘tự do của cái ta’.368 Đó là lý do tại sao điều đó lại có cảm giác kết án vì cái ta vẫn còn. Nó được tự do, nhưng nó vẫn còn - và đó là lý do tại sao có nỗi sợ. Nếu tự do là điều mà cái ta biến mất trong đó, và chỉ có tự do mà không có người được tự do, thế thì ai có thể run rẩy, và ai có thể cảm thấy thống khổ, và ai có thể cảm thấy bị kết án? Và thế thì không có vấn đề chọn lựa; tự do đó hành động theo ý riêng của nó. Khi hành động mà không phải chọn lựa thì không có trách nhiệm nào sót lại - bởi vì không có người ở đó để mà cảm thấy có trách nhiệm. Chân không hành động. Vi vô vi - hành động mà không hành động (non-action acts). Nó là sự đáp ứng giữa chân không bên trong và chân không bên ngoài, và không có gì cản trở. chính vì không có chứng đắc mà bồ tát, dựa vào trí huệ bát nhã, tâm không có chướng ngại một mình ... không có chướng ngại. Giờ đây không còn chướng ngại nữa. Và chướng ngại là hàng rào phân đôi bạn với chân không bên ngoài. Đó là 367 Trong tập “The Zen Manifesto”, Osho nói, “Tự do khỏi cái ta,” chính là điều Phật gọi là vô ngã (anatta). 368 Tự do của cái ta – freedom of the self. Tự do khỏi cái ta – freedom from the self.
Chân Không Viên Mãn 239 điều tôi đã nói đêm qua cho Neelamber, tên cũ là Mark mà tôi đã nói hôm qua. Tối hôm qua anh ấy đã thành một đệ tử; anh ấy đã trở thành Neelamber. Neelamber nghĩa là bầu trời xanh. Cái gì phân chia bầu trời bên ngoài và bầu trời bên trong? Tầng lớp ý nghĩ của bạn. Chẳng khác gì quần áo của bạn không cho phép da thịt của bạn tiếp xúc với bầu trời, và sự trần trụi của bạn muốn được bắc cầu với bầu trời. Cái ý nghĩ rằng bạn là người Hindu, cái ý nghĩ rằng bạn là người đạo Chúa, cái ý nghĩ rằng bạn là người cộng sản hay phát xít, tạo ra chia rẽ. Cái ý nghĩ rằng bạn là đẹp hay xấu tạo ra chia rẽ. Cái ý nghĩ rằng bạn thông minh hay đần độn tạo ra chia rẽ. Ý nghĩ nào cũng đều gây chia rẽ. Và bạn có hàng triệu ý nghĩ. Bạn sẽ phải bóc từng lớp một như bóc củ hành, hết lớp nọ tới lớp kia. Khi bóc được một lớp, lớp khác lại lòi ra; bóc lớp ấy nữa, lại có lớp khác. Và dĩ nhiên khi bạn bóc hành, nước mắt trào ra; nó làm cay mắt. Khi bạn trút bỏ gánh nặng trên bản thể mình thì còn đau đớn hơn nhiều. Không giống như cởi quần áo, mà giống như bị lột da vậy. Nhưng nếu bạn cứ bóc mãi; rồi một hôm cả củ hành biến mất và chỉ còn lại chân không trên tay bạn. Chân không đó là phúc lạc. Phật nói: Một vị bồ tát an trú bên ngoài những chướng ngại của ý nghĩ. Ngài ở đây, nhưng hoàn toàn vô danh; Ngài ở đây, nhưng Ngài không có ý tưởng nào; Ngài ở đây, nhưng Ngài không có ý nghĩ. Không phải là Ngài không xử dụng ý nghĩ... Tôi vẫn liên tục dùng ý nghĩ. Tôi đang nói với bạn ngay bây giờ, tôi phải dùng tâm trí và ý nghĩ - nhưng chúng không làm chướng ngại cho tôi. Chúng ở sát cạnh. Khi cần đến thì tôi dùng chúng. Khi tôi không dùng đến, chúng biến mất - bầu trời bên trong của tôi và bầu trời bên ngoài là một. Và ngay lúc tôi đang dùng chúng, tôi vẫn biết rằng chúng không thể phân chia tôi. Chúng là phương tiện, bạn có thể dùng chúng, nhưng bạn không bị chúng chướng ngại bao giờ.
240 Bát Nhã Tâm Kinh ... tâm không có chướng ngại…. Phật nói có ba loại chướng ngại. Loại thứ nhất là karma averna - hành động không hoàn tất. Những hành động không trọn vẹn sẽ chướng ngại bản thể bạn. Mỗi hành động đều muốn được hoàn tất. Mỗi việc đều có một thôi thúc nội tại để được hoàn tất. Một khi bạn để cho hành động nào đó không hoàn tất, nó đều bám lấy bạn: karma averna, nghiệp bao quanh bạn. Loại thứ hai là klesas averna. Tham, sân, si và những thứ đại loại như thế: chúng được gọi là klesas, bất tịnh, dơ bẩn; chúng chướng ngại bạn. Bạn có thấy vậy không? Một người giận dữ, hầu như bao giờ cũng giận dữ - lúc ít, lúc nhiều, nhưng tất cả đều giận dữ. Người ấy sẵn sàng nổi nóng bất kỳ lúc nào. Người ấy sẵn sàng nổi tam bành, bất kể lý do gì. Người ấy sôi sùng sục bên trong. Người ghen tuông cũng thế: hắn cứ tìm những cái để mà ghen. Người vợ ghen sẽ tìm trong túi chồng, trong những bức thư của chồng, trong hồ sơ của chồng để xem có thấy cái gì đáng nghi không. Khi Mulla Nasruddin về tới nhà thì bao giờ cũng có cái cọ, không cái này thì cái khác. Vợ anh ấy là người hay lục lọi đến mức chị ta bao giờ cũng tìm thấy thứ này thứ khác. Số điện thoại nào đó trong sổ của anh ta, và chị ta bắt đầu nghi ngờ. Thấy một sợi tóc trên áo choàng là chị ta mở cuộc điều tra tức khắc - sợi tóc này từ đâu tới? Một hôm chị ta chẳng tìm được gì cả, ngay cả một sợi tóc cũng không có. Mulla đã chuẩn bị trước khi về nhà; thế là chị ta bù lu bù loa. Mulla nói, “Chuyện gì nữa vậy? Đến một sợi tóc em cũng chẳng thể nào tìm thấy trên áo anh cơ mà?” Chị vợ nói, “Thì còn lý do gì nữa! Bây giờ anh lại bồ bịch với cả ni cô nữa!”
Chân Không Viên Mãn 241 Rất khó mà tán tỉnh được ni cô, nhưng đó là tâm trí của người ghen tị. Đó là những chướng ngại. Phật gọi chúng là klesas, bất tịnh. Người ngã mạn bao giờ cũng đi tìm cớ để hoặc khoe khoang, hoặc để cảm thấy bị chạm tự ái. Người keo kiết bao giờ cũng đi tìm cái gì đó để có thể trưng bày tính tham lam của mình, hay là tìm cái gì tiêu cực để mà ăn thua đủ với nó. Mọi người cứ chứng nào tật ấy... và tôi không nói về người khác, tôi đang nói về bạn đấy. Hãy quan sát tâm trí mình, quan sát những gì bạn đang tìm kiếm. Hãy quan sát tâm trí mình trong hai mươi bốn giờ. và bạn sẽ nhận ra tất cả những chướng ngại đó, avernas. Thứ nhất là những hành động không hoàn tất. Thứ hai là những bất tịnh. Và ba là ghaya avernas – những chướng ngại như: đức tin, ý kiến, ý thức hệ, tri thức. Chúng không cho phép bạn biết, không cho bạn có đủ khoảng cách để thấy. Ba chướng ngại này cần phải bị loại bỏ. Khi cả ba chướng ngại này bị loại bỏ, bạn an trú trong chân không. Từ ‘an trú’ cũng cần phải hiểu. Phật nói: Ngài an trú trong chân không. Đấy là chỗ trú ẩn của Ngài, chân không là nhà của Ngài. Ngài an trú trong đó, nó là một chỗ cư ngụ. Ngài yêu nó, Ngài hoàn toàn hòa nhịp với nó. Nó không xa lạ; Ngài không cảm thấy như người bên ngoài. Và Ngài không cảm thấy giống như đang ở trong khách sạn và ngày mai Ngài sẽ phải từ giã. Nó là nơi cư ngụ của Ngài. Khi chướng ngại ý nghĩ đã bị loại bỏ, chân không là nhà của bạn. Bạn hoàn toàn hài hòa với nó. Kierkegaard và Sartre chưa bao giờ ở đó. Họ chỉ suy tư về nó. Họ chỉ nghĩ về nó. Họ nghĩ nó sẽ như thế nào. Đó là lý do tại sao Kierkegaard lại cảm thấy run rẩy. Ông ấy chỉ nghĩ thôi, cũng như bạn nghĩ vậy... Hãy thử tưởng tượng khi bạn chết; bạn sẽ được đặt lên dàn thiêu, và bạn sẽ kết thúc mãi mãi. Sau đó bạn sẽ
242 Bát Nhã Tâm Kinh không thấy những cái cây xinh tươi này, những con người đẹp đẽ này, và bạn sẽ không còn cười nữa, sẽ không yêu nữa, sẽ không thấy các vì sao nữa. Mà trái đất này vẫn xoay vần, và bạn đã thành thiên cổ. Chẳng lẽ bạn không cảm thấy run lẩy bẩy sao? Chẳng lẽ bạn không cảm thấy run sợ sao? Tất cả sẽ tiếp tục. Chim sẽ hót, mặt trời sẽ lên, đại dương sẽ gầm sóng, những con chim ưng sẽ trải rộng đôi cánh, hoa sẽ rộ nở ngát hương thơm, và hương nồng của đất mới… Tất cả sẽ còn đó. Rồi bỗng nhiên một ngày nào đó bạn sẽ không còn nữa, và thân xác bạn sẽ về với cát bụi. Cái thân xác đẹp đẽ này mà bạn đã từng sống với, đã từng chăm sóc chu đáo - nó sẽ ốm yếu và sẽ quấy rầy bạn - rồi một ngày nào đó nó sẽ trở thành vô dụng, để rồi cả người đã từng yêu mến nó, và cũng chính những người ấy, sẽ đem nó lên dàn mà hỏa thiêu. Hãy nghĩ đến cảnh tượng đó. Hãy suy tưởng đến cảnh đó mà run. Kierkegaard có lẽ đã suy tư như vậy. Ông ấy phải là một người rất sợ sệt. Ông ấy là con một phú hào. Sau khi cha chết, Kierkegaard đã thừa hưởng một số tiền, cũng đủ để cho ông ấy chẳng bao giờ phải làm lụng và tiếp tục suy tư. Điều đó thật dễ dàng cho ông ấy - chẳng có gì phải làm cả. Ông ấy có đủ tiền trong ngân hàng. Cứ mỗi đầu tháng ông ấy sẽ ra ngân hàng để rút tiền. Công việc của ông ấy chỉ có bấy nhiêu. Rồi ông ấy sẽ sống và thiền. Thiền theo nghĩa của ông ấy là suy tư, nghiền ngẫm, suy nghĩ. Đó là nghĩa của từ thiền (meditation) dịch từ tiếng Anh. Đấy không phải ý nghĩa của từ dhyana (thiền na) của Ấn độ. Khi có người tới tôi, và tôi bảo họ thiền, họ nói, “Về cái gì?” Từ tiếng Anh có nghĩa là thiền về cái gì đó, vật nào đó. Từ dhyana của Ấn Độ có nghĩa là sống trong nó, không phải suy tư về cái gì đó. Nó là một trạng thái không phải hành động. Cho nên ông ấy suy tư, suy nghĩ, nghiền ngẫm và triết lý. Nghe nói rằng ông ấy yêu một cô gái đẹp, nhưng không thể quyết định được liệu có cưới vợ hay không.
Chân Không Viên Mãn 243 Chỉ cái chuyện yêu đương cũng làm ông ấy run rẩy rồi. Ông ấy suy tính trong ba năm, và cuối cùng quyết định không lấy vợ. Mà ông ấy cũng yêu thật. Trong suốt cuộc đời ông ấy không thể nào quên cô ấy; cả cuộc đời ông ấy cảm thấy khổ sở vì người này. Cả hai người cùng yêu nhau; thế mà ông ấy vẫn quyết định không lấy vợ. Tại sao? Bởi vì chính cái ý tưởng yêu đã làm cho ông ấy run rẩy. Tình yêu cũng là một cái chết. Nếu thực sự yêu ai, bạn chết trong người đó, bạn biến mất trong người đó. Khi bạn làm tình... Tôi phải dùng từ ‘làm’ này - nó không đúng, nhưng không ngôn ngữ nào thực sự là đúng cả. Cho nên hãy nhớ, tôi phải dùng từ với tất cả những giới hạn của nó. Tình yêu không thể làm được. ‘Làm tình’ là cách diễn đạt sai. Nó xảy ra. Nhưng khi nó xảy ra, khi bạn đang trong vòng tay của tình yêu, nỗi sợ nảy sinh bởi vì bạn đang biến mất. Đó là lý do tại sao vô số người, hàng triệu người, chưa bao giờ biết tới tột đỉnh yêu đương - bởi vì tột đỉnh là cái chết. Và Kierkegaard đã yêu cô gái ấy nhiều đến mức ông ấy sợ rằng ông ấy sẽ không còn tự chủ được nữa. Nỗi sợ đó quá nhiều. Ông ấy bỏ hẳn cái ý tưởng ấy. Ông ấy từ chối không lấy vợ. Ông ấy chịu đựng trong suốt cuộc đời, và ông ấy đã chấp nhận. Cũng bởi vì sợ... Ông ấy là một người có khuynh hướng sợ sệt. Ông ấy sống thoải mái, chẳng làm gì cả, chỉ triết lý thôi. Và có một chuyện rất lạ về ngày ông ấy chết. Ông ấy chết khi trở về từ ngân hàng. Đó là ngày đầu tháng; ông ấy từ ngân hàng về, đã rút tiền xong - nhưng đây là món tiền cuối cùng. Ông ấy chết trên đường. Có người nghĩ rằng ông ấy chết vì sợ bởi vì từ đây không còn tiền trong ngân hàng nữa. Ông ấy hoàn toàn mạnh khỏe, không có bệnh gì hết; chẳng có lý do nào để ông ấy phải chết bất thần như thế. Nhưng trở về từ ngân hàng - và viên quản lý đã nói, “Đây là món tiền cuối cùng; tiền của ông đã hết” - ông ấy không thể về được tới nhà. Ông ấy chết giữa đường.
244 Bát Nhã Tâm Kinh Ông ấy không thể nào kinh nghiệm được chân không mà Phật đang nói tới. Ông ấy chắc chỉ nghĩ về nó thôi - do đó mới sợ. Và Jean-Paul Sartre cũng không ở trong không gian của thiền. Ông ấy không phải là thiền nhân; ông ấy cũng là một nhà suy tưởng phương Tây hoàn toàn. Ông ấy chẳng hề biết cách đi vào nội tâm của phương Đông. Do đó tự do có vẻ như bị kết án, có vẻ như một nỗi thống khổ. Chân lý chính là điều ngược lại. Nếu bạn đi vào trong tự do, vào trong chân không thì có phúc lạc. Nếu bạn chết dưới tay của tình yêu thì có satori (ngộ), samadhi (đại định). Phật nói: Bồ tát an trú trong chân không đó, đấy là nhà của Ngài. Đấy không phải là thống khổ, đấy không phải là run rẩy, đấy không phải là bị kết án. Ngài an trú ở đó. Đấy là nơi trú ẩn của Ngài. Vì không có chướng ngại nên không sợ hãi, Xa lìa lầm tưởng, đạt tới Niết Bàn. Phật không nói điều gì khác. Ngài nói: Nếu vào được trạng thái này của chân không, niết bàn là kết quả tự nhiên. Cuối cùng thì nó tự xuất hiện. Bạn không cần lo nghĩ gì cả. Mà bạn cũng không thể làm được gì hơn. Chỉ cần vào được trong chân không này thì nó trưởng thành, trưởng thành mãi, trở nên ngày một rộng lớn hơn, rồi sẽ có ngày nó sẽ trở thành toàn thể con người của bạn. Sau đó là niết bàn - bạn không còn là cá nhân lẻ loi nữa. Bạn đã biến mất vào trong vũ trụ. Có người hỏi Phật, “Khi thầy qua đời và thầy sẽ không bao giờ tái sinh nữa. Vậy điều gì sẽ xảy ra cho thầy?” Ngài nói, “Ta sẽ tan biến vào trong vũ trụ. Nơi nào có vũ trụ, ở đó có ta.” Quả đúng như vậy. Điều đó rất đúng. Nếu tiếp xúc được với vũ trụ, bạn sẽ tiếp xúc được tất cả các vị Phật -
Chân Không Viên Mãn 245 Krishna, Christ, Phật, Mahavira, Zarathustra,369 Lão Tử, Kabir,370 Nanak371 - bạn sẽ tiếp xúc với tất cả các vị Phật. Cái ngày bạn đi vào trong chân không đó, bạn sẽ được tất cả các vị Phật đón chào. Toàn bộ hiện sinh đang theo nhịp đập của Phật giới bởi vì biết bao nhiêu vị Phật đã tan biến trong đó. Họ đã nâng hiện sinh lên nhiều nấc. Bạn thật may mắn, bởi vì trước bạn là biết bao nhiêu Phật đã đi vào hiện sinh. Khi bạn đi vào đó, bạn sẽ không thể nào không được nghênh đón. Hết thảy chư Phật trong ba đời dựa theo trí huệ bát nhã mà chứng đắc giác ngộ vô thượng viên toàn. Chỗ trú ẩn duy nhất là trí huệ bát nhã, sự hoàn hảo của thiền. Trong quá khứ đã như vậy, trong hiện tại cũng đang như vậy, trong tương lai cũng sẽ như vậy. Bất kỳ ai trở thành Phật, đều trở thành Phật qua thiền. Hãy quy y trong thiền. Hãy an trú trong chân không. 369 Zarathustra, cũng gọi là Zoroaster, gốc Ba Tư, là giáo chủ của Bái Hỏa giáo. 370 Kabir, người Ấn, là một đạo sư nổi tiếng của Bạch Y giáo. 371 Guru Nanak, người Ấn, sáng lập đạo Sikhs.
246 Bát Nhã Tâm Kinh
8 Phật Giáo: Đạo Của Trí Tuệ Câu hỏi thứ nhất: Trí năng có thể dẫn đến giác ngộ không? Hay giác ngộ chỉ có thể đạt tới qua qui phục? Giác ngộ bao giờ cũng qua qui phục, nhưng qui phục chỉ đạt được qua trí tuệ. Chỉ đám ngố mới không thể qui phục. Qui phục cần trí tuệ. Hiểu được ý nghĩa của qui phục là đỉnh cao của trí tuệ. Hiểu được rằng bạn không xa cách với hiện sinh thì chỉ có sự thông minh tột đỉnh mới vươn tới được. Không có xung khắc nào giữa trí tuệ và qui phục. Qui phục được vì thông minh, và khi bạn qui phục, trí tuệ cũng phải bị qui phục. Thông qua qui phục mà trí tuệ tự tử. Nhận ra cái vô ích của chính nó, hiểu được cái ngớ ngẩn của chính nó, nhận ra cái khổ não mà nó tạo ra, nó tự biến mất. Nhưng điều đó xảy ra nhờ ở trí tuệ. Và đặc biệt đối với Phật, đạo của Ngài là đạo của trí tuệ. Ý nghĩa của từ Phật là trí tuệ đã thức tỉnh.
248 Bát Nhã Tâm Kinh Trong Tâm Kinh một phần tư những từ được dùng có nghĩa là trí tuệ. Từ Phật có nghĩa là thức tỉnh, bodhi - bồ đề - nghĩa là sự thức tỉnh; sambodhi nghĩa là thức tỉnh hoàn hảo, abhisambuddha nghĩa là thức tỉnh hoàn toàn; bodhisattva, bồ tát, nghĩa là sẵn sàng để trở thành thức tỉnh hoàn toàn. Tất cả đều có chung một gốc, budh, nghĩa là trí tuệ. Từ budhi, trí tuệ, cũng có cùng gốc. Từ gốc budh có nhiều khía cạnh. Không có một ngôn ngữ nào có thể dịch được; nó có nhiều ẩn nghĩa. Nó rất linh động và thi vị. Không ngôn ngữ nào khác có từ giống như từ budh, với nhiều nghĩa như thế. Từ budh có ít nhất năm nghĩa. Nghĩa thứ nhất là thức tỉnh, tự đánh thức chính mình, và đánh thức người khác, tỉnh thức. Hiểu theo nghĩa thường, nó đối lập với ngủ, ngược lại sự điên đảo của mộng tưởng mà từ đó đấng giác ngộ tỉnh dậy, như thể tỉnh dạy từ một giấc mơ. Đó là ý nghĩa thứ nhất của trí tuệ, budh – làm cho bạn thức tỉnh. Bình thường mọi người đều say ngủ. Ngay cả khi bạn nghĩ bạn đang tỉnh, bạn cũng không tỉnh đâu. Bước đi trên đường, bạn hoàn toàn tỉnh thức – đối với tâm trí bạn. Nhưng từ cái nhìn của một vị Phật, bạn đang ngủ say, bởi vì cả ngàn lẻ một giấc mơ và ý nghĩ đang ồn ào trong tâm trí bạn. Ánh sáng nội tâm bạn bị lu mờ rất nhiều. Đấy là một loại ngủ. Phải rồi, mắt bạn mở thao láo, nhưng nhiều người có thể đi trong lúc mơ, trong giấc ngủ, mà mắt vẫn mở. Và Phật nói: Bạn cũng đang đi trong giấc ngủ - với mắt mở. Nhưng con mắt tâm linh thì khép kín. Bạn vẫn chưa biết bạn là ai. Bạn không nhìn vào bản thể của mình. Bạn không tỉnh thức. Một tâm trí đầy rẫy ý tưởng thì không tỉnh thức, không thể tỉnh thức được. Khi nó đã loại bỏ mọi ý nghĩ và suy tư, không còn bị mây che kín - để cho mặt trời chiếu sáng rực rỡ, và bầu trời hoàn toàn trong suốt – đó là tâm trí có trí huệ; đó là tâm trí đã tỉnh thức. Trí tuệ là khả năng an trú được trong hiện tại. Càng bị quá khứ lôi kéo hay bị tương lai thôi thúc, bạn càng ít trí
Đạo Của Trí Tuệ 249 tuệ. Trí tuệ là khả năng hiện hữu ngay tại đây và ngay bây giờ, hiện hữu trong khoảnh khắc này và không nơi nào khác. Thế thì bạn tỉnh thức. Chẳng hạn, bạn đang ngồi trong nhà và nhà bỗng nhiên nhà bốc cháy; bạn đang trong nguy hiểm. Trong khoảnh khắc đó bạn sẽ thức tỉnh hoàn toàn. Trong khoảnh khắc đó bạn sẽ không nghĩ nhiều. Trong khoảnh khắc đó bạn quên hẳn quá khứ. Trong khoảnh khắc đó ký ức tâm lý không còn la hét bên trong - rằng bạn đã yêu một người phụ nữ ba mươi năm trước đây, và chúa ơi, thật là thơ mộng! Hay là mới đây bạn ăn nhà hàng Tàu, và hương vị vẫn còn phảng phất đâu đây, mùi hương thơm cùng mùi bánh nướng ngon lành. Bạn sẽ bỏ rơi những ý nghĩ đó. Không, khi nhà bạn bị cháy, bạn không thể còn những ý nghĩ như thế nữa. Bỗng nhiên bạn sẽ xô về khoảnh khắc này: ngôi nhà đang bốc cháy và cuộc sống của bạn đang nguy hiểm. Bạn sẽ không mơ về tương lai, về điều gì bạn định làm ngày mai. Ngày mai chẳng còn giá trị gì, hôm qua chẳng còn liên quan, ngay cả hôm nay cũng chẳng còn quan trọng nữa! Chỉ có khoảnh khắc này, ngay lúc này. Đó là ý nghĩa thứ nhất của budh, trí tuệ. Và đó một nhận thức lớn. Một người muốn thực sự thức tỉnh, muốn thực sự thành Phật thì phải sống từng khoảnh khắc một cách mãnh liệt như vậy. Còn bạn thì mấy khi phải sống trong nguy hiểm như vậy. Nghĩa thứ nhất là đối lập với ngủ. Và đương nhiên là bạn có thể chỉ thấy được thực tại khi bạn không ngủ. Bạn có thể đối mặt với nó, bạn có thể nhìn thẳng vào mắt của chân lý - hay gọi nó là Thượng Đế - chỉ khi bạn thức tỉnh. Bạn có hiểu sống một cách mãnh liệt, khi toàn thể con người bạn bừng cháy là gì không? Hoàn toàn thức tỉnh thì có trí tuệ. Trí tuệ đó đem lại tự do, đem lại chân lý. Nghĩa thứ hai của budh là nhận ra - trở nên nhận biết về, quen biết với, chú ý tới, để ý tới. Và Phật là một người như vậy, người đã nhận ra cái giả là giả, và có đôi mắt mở to để thấy cái thật là thật. Thấy cái giả là giả là bước đầu
250 Bát Nhã Tâm Kinh để hiểu biết chân lý là gì. Chỉ khi thấy cái giả là giả, bạn mới có thể hiểu chân lý là gì. Bạn không thể tiếp tục sống trong ảo tưởng, không thể tiếp tục sống trong tín ngưỡng của mình, không thể tiếp tục sống trong định kiến của mình nếu bạn muốn biết chân lý. Cái giả phải được nhận ra là giả. Đó là ý nghĩa thứ hai của budh - nhận ra cái giả là giả, cái sai là sai. Chẳng hạn, bạn đã tin vào Thượng Đế; bạn được sinh ra là người đạo Chúa hay Hindu giáo, hay Hồi giáo. Bạn đã được dạy rằng có Thượng Đế, bạn phải kính sợ Ngài - rằng nếu không tin, bạn sẽ đau khổ, rằng bạn sẽ bị trừng phạt, rằng Ngài rất hung dữ, rằng Ngài sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho bạn. Chúa của người Do Thái nói, “Ta là một thiên chúa rất ghen tị. Chỉ được tôn thờ ta mà không được tôn thờ bất kỳ ai khác!” Chúa của người Hồi giáo cũng nói cùng điều đó: “Chỉ có một Chúa, và không có Chúa nào khác; và chỉ có một nhà tiên tri về Chúa - Mohammed - và không có nhà tiên tri nào khác.”387 Sự nhồi sọ này có thể ăn sâu đến mức nó vẫn còn lởn vởn ngay cả khi bạn không còn tin vào Thượng Đế nữa. Mới hôm nọ Mulla Nasruddin còn ở đây, và tôi hỏi anh ta, “Mulla Nasruddin, từ khi anh trở theo cộng sản, anh đã trở thành một đồng chí, thế Allah thì sao?” Anh ta nói, “Làm gì có Allah! - và Mohammed là nhà tiên tri duy nhất.” Sự nhồi sọ có thể ăn sâu đến thế: Mohammed vẫn còn là nhà tiên tri. Bạn đã được điều kiện để tin vào Thượng Đế, và bạn đã tin. Đây là một tín ngưỡng. Dù Thượng Đế có hiện hữu hay không cũng chẳng liên quan gì tới tín ngưỡng 387 Tín đồ Hồi giáo phải tin ba điều: chỉ có một Thượng Đế là Allah; Mohammed là tiên tri cuối cùng; Koran là thánh thư duy nhất.
Đạo Của Trí Tuệ 251 của bạn. Chân lý chẳng liên quan gì với tín ngưỡng của bạn cả. Dù bạn có tin hay không cũng chẳng có gì khác biệt đối với chân lý. Nhưng nếu tin vào Thượng Đế, bạn sẽ thấy - ít nhất cũng nghĩ - rằng bạn thấy Ngài. Nếu bạn không tin vào Thượng Đế, sự không tin đó sẽ ngăn cản không cho bạn biết. Mọi tín ngưỡng đều cản trở, bởi vì chúng trở thành định kiến của bạn, chúng trở thành một chướng ngại - mà Phật gọi là avarnas. Người thông minh không tin bất kỳ điều gì, và cũng không không tin bất kỳ điều gì. Ông ta rộng mở để sẵn sàng chấp nhận mọi kết quả. Nếu Thượng Đế hiện hữu, người đó sẽ nhận ra - nhưng không dựa theo tín ngưỡng của mình; người đó không có tín ngưỡng. Chân lý chỉ xuất hiện với bộ óc thông minh không có tín ngưỡng. Khi đã tin, bạn không chừa một chỗ nào để chân lý tới với bạn. Định kiến của bạn được đặt lên bàn thờ. Bạn không thể thấy những gì đi ngược lại tín ngưỡng của mình; bạn sẽ trở nên sợ hãi, bạn sẽ trở nên lung lay, bạn sẽ run sợ. Bạn đã hy sinh quá nhiều cho tín ngưỡng của mình - quá nhiều cuộc sống, quá nhiều thời gian, quá nhiều cầu nguyện, năm lần mỗi ngày.388 Nếu một người đã dành năm mươi năm cho tín ngưỡng của mình, sao người đó bỗng nhiên có thể chấp nhận là không có Thượng Đế? Một người đã hiến trọn cuộc sống mình cho chủ nghĩa cộng sản, tin rằng không có Thượng Đế, làm sao người đó có thể tìm hiểu rằng Thượng Đế hiện hữu hay không? Người đó sẽ tránh né. Tôi không bàn về việc liệu Thượng Đế hiện hữu hay không. Điều tôi đang nói là cái có liên quan tới bạn, không phải với Thượng Đế. Chỉ cần một tâm trí, một tâm trí thoáng đãng, một trí thông minh không bám vào bất kỳ tín ngưỡng nào. Thế thì bạn giống như một tấm gương: bạn phản chiếu những cái trước mặt, bạn không bóp méo nó. Đó là ý nghĩa thứ hai của budh. 388 Người Hồi phải cầu nguyện mỗi ngầy năm lần.
252 Bát Nhã Tâm Kinh Người thông minh không theo cộng sản, cũng chẳng theo Kitô giáo. Người ấy không tin, cũng chẳng không tin. Điều đó không phải là thiên tính của người ấy. Người ấy nhìn thẳng vào cuộc sống, và bất cứ gì xảy ra người ấy đều sẵn sàng chấp nhận. Không có gì ngăn cản tầm mắt của người ấy; người ấy có cái nhìn thấu suốt. Chỉ số ít những người như vậy mới đạt tới chân lý. Nghĩa thứ ba của gốc budh, trí tuệ, là biết, là hiểu. Phật biết những gì hiện thực. Ngài hiểu cái hiện thực, và qua sự hiểu biết Ngài thoát khỏi mọi ràng buộc – hiểu biết đây nghĩa là thông hiểu, không phải do sự tích lũy tri thức. Phật không phải là người sưu tầm tri thức. Một người có trí tuệ không quan tâm nhiều tới sự kiện và tri thức. Người có trí tuệ quan tâm nhiều tới cách thức để hiểu. Mối quan tâm đích thực, thực sự của người đó là để biết, không phải sưu tầm tri thức. Việc biết 389 đưa đến sự hiểu biết; tri thức chỉ cho bạn cái cảm giác hiểu biết mà không cho bạn hiểu biết thực sự. Tri thức là đồng tiền giả, nó là sự lừa dối. Nó chỉ cho bạn cái cảm giác rằng bạn hiểu, mà bạn lại chẳng biết gì cả. Bạn có thể cứ tích lũy tri thức bao nhiêu cũng được, bạn có thể cứ tích trữ, bạn có thể rất thông thạo. Bạn có thể viết sách, bạn có thể có bằng cấp, bạn có thể có bằng tiến sĩ, thạc sĩ, mà bạn vẫn cứ dốt nát như thường, bạn vẫn cứ ngu đần như ngày nào. Những bằng cấp đó không làm thay đổi bạn; chúng không thể thay đổi bạn được. Thực ra, cái ngu đần của bạn lại còn trở nên mạnh hơn... vì nó có thêm cả bằng cấp nữa! Nó có thể tự chứng minh qua chứng chỉ. Nó không thể chứng minh được qua cuộc sống, nhưng nó có thể chứng minh qua chứng chỉ. Nó không thể chứng minh bằng cách nào khác, nhưng nó sẽ 389 Việc biết, dịch từ từ knowing, một động từ, ám chỉ một tiến trình xảy ra không ngừng. Ngược lại với knowing là knowledge (tri thức), là một hỗn hợp của những cái đã qua và được tích trữ trong ký ức. Knowing thuộc về hiện tại. Còn knowledge thuộc về quá khứ.
Đạo Của Trí Tuệ 253 khoe bằng cấp, chứng chỉ, sự công nhận trong xã hội. Mọi người nghĩ bạn biết, và bạn cũng nghĩ bạn biết. Bạn có thấy điều này không? Những người được coi là biết nhiều đều là những kẻ dốt nát như bất kỳ ai, đôi khi lại còn tệ hơn nữa. Rất hiếm mà tìm ra được người thông minh trong thế giới hàn lâm, rất hiếm. Tôi đã ở trong cái thế giới hàn lâm đó, và tôi nói điều đó qua kinh nghiệm của tôi. Tôi đã từng thấy người nông dân thông minh, tôi chưa thấy các giáo sư thông minh. Tôi đã thấy tiều phu thông minh, tôi chưa từng thấy vị giáo sư thông minh nào. Tại sao? Có gì trục trặc với những người này? Một trục trặc rõ ràng nhất là họ phụ thuộc vào tri thức. Họ không cần trở thành người biết, nhưng họ bám vào tri thức. Họ biết một cách gián tiếp. Biết trực tiếp cần lòng dũng cảm. Chỉ một số nhỏ những người phiêu lưu mới dám biết trực tiếp; những người này không chọn đường cái quan của đám đông mà phạt lối đi nhỏ hẹp trong rừng rậm nơi chưa có một dấu chân. Nguy cơ là họ có thể bị lạc. Cái giá phải trả rất cao.390 Khi bạn có thể biết cách gián tiếp, việc gì phải bận tâm? Bạn chỉ cần ngồi trong sa lông. Bạn có thể tới thư viện, hay tới đại học để thể thu thập sự kiện. Bạn có thể sưu tập một khối sự kiện mà tiêu hoá. Ký ức bạn mỗi ngày một lớn hơn vì tri thức, nhưng trí tuệ của bạn lại không tăng hơn. Nhiều khi bạn không biết nhiều, không thật am tường lắm, bạn lại thông minh. Tôi đã từng nghe... Một người phụ nữ mua một hộp trái cây nhưng không biết cách nào mở được. Vì không biết cách mở nên bà ấy chạy đi tìm sách dạy nấu ăn. Trong lúc bà ấy loay hoay tìm số trang và tham khảo, người làm công đã mở xong. 390 Robert Frost có những câu rất nổi tiếng: Đôi đường chia đôi giữa rừng già Tôi chọn nẻo đường ít người qua Từ độ đó đã nhiều đổi thay
254 Bát Nhã Tâm Kinh Bà ấy hỏi, “Nhưng sao anh biết cách mở?” Người ấy trả lời, “Thưa bà, vì mù chữ nên phải dùng trí của mình.” Đúng đấy, xưa nay vẫn vậy. Đó là lý do tại sao nông dân, người làm vườn, tiều phu lại thông minh hơn; họ có một sự tươi tắn nào đó. Họ không thể đọc được nên phải dùng tâm trí của mình. Người ta phải sống và phải vận dụng tâm trí của mình. Nghĩa thứ ba của budh là biết, theo nghĩa của sự hiểu biết. Phật đã thấy chân như. Ngài hiểu cái hiện thực, và chính nhờ sự hiểu biết đó mà Ngài tìm được giải thoát. Nghĩa là gì vậy? Nghĩa là bạn sợ. Chẳng hạn, những bài nói về Tâm Kinh này làm cho nhiều người cảm thấy sợ. Nhiều người đã viết cho tôi “Osho, thôi đi! Thầy nói về chân không và cái chết làm chúng con sợ quá.” Prageet rất sợ. Vidya rất sợ, và nhiều người nữa. Tại sao? Bạn không muốn hết sợ sao? Nếu muốn hết sợ, bạn sẽ phải hiểu nỗi sợ. Bạn muốn tránh né cái sợ của bạn, sự sợ chết của bạn. Prageet bề ngoài trông có vẻ mạnh mẽ lắm - một Rolfer391 - nhưng sâu bên trong lại rất sợ chết; anh ấy là một trong những người sợ nhất ở đây. Có thể đó là lý do tại sao bề ngoài anh ấy có điêu bộ mạnh mẽ, uy quyền, dọa nạt. Mấy người Rolfer thường là vậy! Tôi có nghe nói rằng gần đây quỷ địa ngục đang cần Rolfer. Chúng muốn dùng Rolfers để tra tấn tội nhân vì lợi ích cho họ, và chúng tra tấn rất kỹ thuật. Nếu sợ hãi bên trong, bạn sẽ phải tạo ra cái vẻ mạnh mẽ bên ngoài, giống như lớp vỏ cứng, để không ai biết rằng bạn đang sợ. Và không phải chỉ có vậy thôi - bạn cũng sẽ không biết rằng bạn đang sợ bởi vì cái vỏ cứng 391 Rolfing một loại trị liệu bằng nắn bóp bắp thịt.
Đạo Của Trí Tuệ 255 đó. Nó sẽ bảo vệ bạn với người khác, nó sẽ bảo vệ bạn để chính bạn cũng không biết nữa. Một người thông minh không lẩn tránh bất kỳ sự kiện nào. Nếu đấy là nỗi sợ, người ấy sẽ đi tìm ra cho bằng được - bởi vì lối ra là sự hiểu biết. Nếu người đó cảm thấy sợ và run rẩy, người đó sẽ gạt mọi thứ sang bên: trước hết nỗi sợ này phải được trải qua. Người đó sẽ xông thẳng vào và cố gắng để hiểu. Người đó sẽ không cố gắng để không sợ; người ấy sẽ không hỏi câu hỏi đó. Người ấy sẽ chỉ hỏi một câu hỏi: “Nỗi sợ này là gì? Nó có thực, nó là một