Babel: Sự cần thiết của bạo lực

Chương hai mươi sáu

Chương hai mươi sáu

Chương hai mươi sáu

Chủ nghĩa thực dân không phải là một cỗ máy biết suy nghĩ hay một cơ thể có lý trí. Nó là bạo lực trần trụi và chỉ chịu đầu hàng khi bị một thế lực lớn hơn chống lại.

• Frantz Fanon,

Những Kẻ Quẫn Cùng Của Thế Gian

, Richard Philcox dịch.

Cánh cửa bí mật nằm bên cạnh hầm rượu vang của Vaults & Garden dẫn xuống một đường hầm bằng đất chật hẹp, chỉ đủ rộng cho họ bò qua. Nó có vẻ dài bất tận. Họ tiến lên, mò mẫm một cách mù quáng trong bóng tối. Robin ước ao có chút ánh sáng, nhưng họ không có nến, củi, lẫn đá lửa; họ chỉ có thể tin lời Anthony và bò, tiếng thở gấp của họ vọng quanh. Cuối cùng, trần đường hầm dốc lên và luồng gió mát mân mê làn da ẩm ướt của họ. Họ lần mò trên bức tường đất cho đến khi tìm thấy một cánh cửa và tay nắm; họ đẩy cửa ra và nhìn thấy căn phòng nhỏ hẹp có trần thấp, được ánh trăng soi rọi từ song sắt nhỏ xíu phía trên.

Họ bước vào, chớp mắt nhìn quanh.

Có người đã ở đây không lâu trước đó. Một ổ bánh mỳ đặt trên mặt bàn, vẫn còn mới đến nỗi sờ vào vẫn còn mềm, một ngọn nến đã cháy quá nửa đặt cạnh bên. Victoire lục ngăn kéo cho tới khi tìm thấy một hộp diêm, rồi châm nến và giơ lên nhìn quanh. “Vậy ra đây là nơi Griffin đã trú ẩn.”

Nơi trú ẩn này quen thuộc đến lạ kỳ, dù phải mất một lúc cậu mới nhận ra lý do. Bố cục của căn phòng - chiếc bàn dưới cửa sổ có chấn song, chiếc giường được kê gọn ở một góc, giá sách gồm hai ngăn được kê sát bức tường đối diện - nó là bản sao căn phòng ở hẻm Magpie. Ngay bên dưới Oxford, Griffin đã gắng tái hiện những ngày tháng sinh viên của anh ấy - dù vô tình hay hữu ý.

“Cậu nghĩ chúng ta có thể an toàn ngủ qua đêm ở đây không?” Robin hỏi. “Ý tớ là... cậu nghĩ...”

“Trông nó không có vẻ đã bị xáo trộn.” Victoire thận trọng ngồi xuống mép giường. “Tớ nghĩ nếu biết đến nơi này, họ đã lục tung nó lên rồi.”

“Tớ cũng nghĩ vậy.” Cậu ngồi xuống cạnh cô. Chỉ đến giờ cậu mới cảm thấy cơn mệt đang thấm dần vào hai chân và ngực. Toàn bộ chất adrenaline khi họ chạy trốn đã lắng xuống, giờ họ đã được an toàn, trốn dưới lòng đất. Cậu muốn nằm xuống và không bao giờ tỉnh dậy.

Victoire cúi xuống thành giường, nơi đang đặt một chiếc thùng có vẻ chứa nước ngọt. Cô đổ nước lên chiếc sơ mi đã nhăn nhúm rồi đưa nó cho Robin. “Cậu lau người đi.”

“Sao cơ?”

“Máu”, cô khẽ nói. “Người cậu đầy máu.”

Cậu ngước lên và nhìn cô kỹ hơn, lần đầu tiên kể từ khi họ trốn thoát. “Người cậu cũng vậy.”

Họ ngồi cạnh nhau và lau người trong im lặng. Khắp người họ bê bết máu và đất bụi; mỗi người dùng một chiếc áo để lau, rồi lại dùng một chiếc khác. Máu của Griffin không chỉ dính đầy tay Robin mà còn cả trên má, sau tai, và sau gáy, khô cứng dưới lớp bụi và đất.

Họ lau mặt cho nhau. Hành động đơn giản rõ ràng này khiến họ cảm thấy dễ chịu; nó cho họ một việc để làm, để bị phân tâm khỏi tất cả những lời nói nặng nề và chưa được nói ra. Họ cảm thấy dễ chịu khi không nói ra những điều ấy. Đằng nào họ cũng không biết phải nói như thế nào; chúng không phải những suy nghĩ rời rạc, riêng lẻ, mà là những đám mây u tối, ngột ngạt. Cả hai đều đang nghĩ đến Ramy, Griffin, Anthony và tất cả những người đã bị cướp mất khỏi thế giới này một cách quá đột ngột, quá tàn bạo. Nhưng họ không thể chạm vào vực sâu của nỗi buồn ấy. Vẫn còn quá sớm để đặt tên cho nó, để định hình và chế ngự nó bằng lời nói, chỉ một lần thử cũng sẽ khiến họ gục ngã. Họ chỉ có thể chùi máu khỏi người và gắng thở.

Cuối cùng, họ ném chiếc giẻ bẩn xuống sàn rồi tựa lưng vào tường, vào nhau. Không khí ẩm ướt giá lạnh, và không có lò sưởi. Họ ngồi sát cạnh nhau, kéo tấm chăn mỏng qua vai. Mất một lúc mới có người lên tiếng.

“Cậu nghĩ chúng ta phải làm gì bây giờ?” Victoire hỏi.

Câu hỏi mới nặng nề làm sao, được thốt lên bởi giọng nói dịu dàng. Họ có thể làm gì bây giờ? Họ đã nhắc đến chuyện sẽ thiêu trụi Babel thành tro, nhưng họ phải thiêu như thế nào? Thư viện Cũ đã bị phá hủy. Các bạn đã chết. Những người can đảm và giỏi giang hơn họ đã chết. Nhưng họ vẫn sống, và trách nhiệm của họ là đảm bảo rằng các bạn đã không hy sinh một cách vô ích.

“Griffin nói cậu sẽ biết phải làm gì”, Robin nói. “Ý anh ấy là gì?”

“Chỉ là chúng ta phải đi tìm đồng minh”, Victoire thì thầm. “Họ có nhiều đồng minh hơn chúng ta nghĩ, và chúng ta sẽ biết sau khi tìm được nơi trú ẩn.”

“Chúng ta đã đến đây rồi.” Robin chỉ tay quanh gian phòng một cách bất lực. “Ở đây có gì đâu.”

Victoire đứng dậy. “Ôi, đừng tỏ ra như vậy mà.”

Họ bắt đầu tìm manh mối trong phòng. Victoire tìm trong tủ, Robin tìm ở bàn. Trong ngăn bàn là những chồng ghi chú và thư từ của Griffin. Cậu giơ chúng lên trước nến, nheo mắt đọc. Cậu cảm thấy đau nhói ở ngực khi nhìn nét chữ viết tay bằng tiếng Anh của Griffin - nó chi chít, nguệch ngoạc hệt như nét chữ của cậu, và của cha họ. Tất cả những lá thư này đã được viết bằng nét chữ đậm, mảnh, và kín mít, cho thấy người viết đã rất hăng say nhưng vẫn cẩn thận, một phiên bản khác của Griffin mà Robin chưa từng biết đến.

Và mạng lưới của Griffin rộng hơn rất nhiều so với cậu hình dung. Cậu thấy những lá thư được gửi đến Boston, New York, Cairo, Singapore. Nhưng tên người nhận luôn được mã hóa, luôn dựa trên những nhân vật trong tiểu thuyết như “ông Pickwick” và “Vua Ahab” hay những cái tên tiếng Anh chung chung như “ông Brown” và “ông Pink” nên chúng không thể nào là thật.

“Hừm.” Victoire đưa mẩu giấy hình vuông lên ngang mắt, cau mày.

“Đó là gì vậy?”

“Một lá thư. Gửi cho cậu.”

“Tớ đọc được chứ?”

Cô ngập ngừng rồi đưa nó cho cậu. Phong thư mỏng và dán kín. Mặt sau ghi tên của cậu,

Robin Swift

, bằng nét chữ đậm nguệch ngoạc của Griffin. Nhưng anh ấy đã viết lá thư này khi nào? Không thể là sau khi Anthony đưa họ đến Hermes; Griffin đã không biết họ ở đâu. Chỉ có thể là sau khi Robin cắt đứt quan hệ với Hermes, sau khi cậu tuyên bố rằng cậu không muốn dính líu gì đến anh ấy nữa.

“Cậu sẽ đọc nó chứ?” Victoire hỏi.

“Tớ... tớ không nghĩ mình có thể.” Cậu trả nó cho cô. Cậu sợ nội dung của lá thư ấy; chỉ cầm nó trên tay cũng đủ khiến cậu thở gấp. Cậu không thể đối mặt với sự phán xét của anh trai. Không phải lúc này. “Cậu giữ nó giùm tớ nhé?”

“Lỡ nó có thông tin hữu ích thì sao?”

“Tớ không nghĩ vậy”, Robin nói. “Tớ nghĩ... nó viết về chuyện khác. Làm ơn đi, Victoire, cậu có thể đọc sau nếu muốn, nhưng ngay lúc này tớ không thể đọc nó.”

Cô ngập ngừng, rồi gấp thư và nhét vào túi áo trong. “Dĩ nhiên rồi.”

Họ tiếp tục lục đồ của Griffin. Ngoài những lá thư, Griffin còn giữ rất nhiều vũ khí - dao, thòng lọng, nhiều thỏi bạc, và ít nhất ba khẩu súng ngắn. Robin không muốn đụng vào chúng; Victoire kiểm tra đống vũ khí, miết tay lên báng súng, chọn một khẩu rồi nhét vào thắt lưng.

“Cậu biết dùng súng sao?” Robin hỏi.

“Biết”, cô đáp, “Anthony đã dạy tớ.”

“Cậu thật là một cô gái kỳ lạ. Luôn khiến người khác phải ngạc nhiên.”

Cô cười khẩy. “Ôi, chẳng qua cậu không chịu để ý mà thôi.”

Không có danh sách liên lạc, không có manh mối về những nơi trú ẩn khác hay những đồng minh khả dĩ. Griffin đã mã hóa mọi thứ, đã tạo nên một mạng lưới vô hình đến nỗi sau khi anh chết nó không bao giờ có thể được tái tạo.

“Cái gì kia?” Victoire chỉ tay hỏi.

Trên nóc giá sách là một chiếc đèn, bị đẩy lùi về phía sau đến nỗi gần như khuất hẳn.

Robin với tay lên chạm vào nó, thầm hy vọng - phải, nó kia rồi, ánh bạc quen thuộc được khảm dưới đáy chiếc đèn.

Đèn hiệu,

Anthony đã thét lên như vậy. Cậu nghĩ đến vết bỏng trên tay Griffin, đến cách anh ấy biết, khi đang cách đó cả nhiều dặm, rằng có chuyện tồi tệ đã xảy ra.

Cậu xoay đèn, nheo mắt đọc. 燎

Liáo

.

Griffin đã tạo ra thỏi bạc này.

Liáo

trong tiếng Quan Thoại có nghĩa là “đốt cháy” hoặc “thắp sáng.” Nó cũng có nghĩa là đèn hiệu. Còn một thỏi bạc khác nhỏ hơn được khảm phía trên.

Bẽacen.

Trông như tiếng Latin, nhưng Robin không thể nhớ ý nghĩa hay nguồn gốc chính xác của nó. Có lẽ là tiếng Đức?

Nhưng cậu có thể đoán chức năng của chiếc đèn này. Đây là cách Hermes liên lạc với nhau. Họ gửi tín hiệu qua ngọn lửa.

“Cậu nghĩ nó hoạt động như thế nào?”

“Có thể tất cả những chiếc đèn đều được liên kết với nhau.” Cậu đưa nó cho cô. “Nhờ vậy mà Griffin đã biết chúng ta gặp nguy hiểm - chắc hẳn anh ấy đã mang theo một chiếc.”

“Nhưng còn ai khác có loại đèn này nữa?” Cô xoay nó trên tay, miết ngón tay lên bấc đèn đã co quắt. “Cậu nghĩ ai ở đầu bên kia?”

“Hy vọng là đồng minh. Theo cậu chúng ta nên nói gì với họ?”

Cô suy nghĩ một lát. “Kêu gọi họ hành động.”

Cậu quay sang nhìn cô. “Chúng ta thực sự sẽ làm chuyện này sao?”

“Tớ không nghĩ còn lựa chọn nào khác.”

“Có một câu thành ngữ tiếng Trung,

sǐ zhū bú pà kāi shuǐ tàng

. Lợn chết không sợ nước sôi.”

Cô mỉm cười yếu ớt với cậu. “Đã làm thì làm tới cùng.”

“Chúng ta coi như đã chết rồi.”

“Nhưng điều đó khiến chúng ta càng trở nên đáng sợ hơn.” Cô đặt đèn xuống giữa hai người. “Chúng ta không còn gì để mất.”

Họ lục trên bàn để tìm giấy và bút, rồi soạn tin nhắn. Lượng dầu trong đèn còn rất ít; bấc đèn đã cháy rụi. Tin nhắn phải rõ ràng và ngắn gọn hết mức. Để người nhận không thể nào thắc mắc về nội dung của nó. Sau khi đã quyết định nội dung, Victoire dùng nến châm đèn. Một tia lửa le lói nhá lên, rồi bất chợt bùng cháy, cho đến khi lửa đã cao hơn một feet, nhảy múa trước mặt họ.

Họ không rõ cơ chế hoạt động của chiếc đèn hiệu này. Robin đã đọc cặp từ tiếng Quan Thoại, nhưng họ chỉ có thể hy vọng rằng cặp từ bí hiểm thứ hai đã được thiết kế để có hiệu quả lâu dài. Họ đã nghĩ ra rất nhiều cách gửi tín hiệu. Họ đứng đọc tin nhắn trước ngọn lửa. Họ vỗ tay theo mã Morse. Họ lặp lại mã, lần này bằng cách đẩy thanh kim loại qua ngọn lửa, để nó bập bùng những dấu chấm và dấu gạch ngang. Cuối cùng, khi dầu sắp cạn, họ ném tờ giấy vào ngọn đèn.

Hiệu quả ngay tức thì. Lửa bùng lên gấp ba lần; lưỡi lửa chồm đến rồi thụt lại quanh tờ giấy, như một sinh vật ma quỷ đang ngấu nghiến ăn những lời họ viết. Tờ giấy không bị cháy, cũng không bị nhàu; nó chỉ biến mất. Một giây sau, dầu cạn, lửa bập bùng tắt, và căn phòng tối om.

“Cậu nghĩ nó có hiệu quả không?” Victoire hỏi.

“Tớ không biết. Tớ thậm chí không biết có ai đang lắng nghe hay không.” Robin đặt đèn xuống. Cậu đã mệt rã rời, tay chân nặng như chì. Cậu không biết họ vừa khơi mào chuyện gì. Một phần cậu không muốn biết, chỉ muốn nằm co ro trong không gian tối tăm lạnh lẽo này rồi biến mất. Cậu biết mình có trách nhiệm phải kết thúc chuyện này, và khi ngày mai tới, cậu sẽ thu gom tất cả sức lực còn sót lại để đối diện với nó. Nhưng giờ, cậu chỉ muốn ngủ thật say. “Rồi chúng ta sẽ biết thôi.”

Khi bình minh ló dạng, họ lẻn qua thị trấn để đến Thư viện Cũ. Hàng chục cảnh sát đang đứng canh - có lẽ họ đang đợi xem có kẻ nào ngu ngốc đến nỗi dám quay lại hay không. Robin và Victoire rón rén bước ra từ cánh rừng ở phía sau khu vườn. Phải, việc này thật ngu ngốc, nhưng họ không thể cưỡng lại sự thôi thúc muốn xem cảnh điêu tàn. Họ hy vọng sẽ có thể lẻn vào trong để lấy vài dụng cụ, nhưng cảnh sát quá đông nên họ đành từ bỏ.

Vì vậy họ chỉ biết đứng nhìn, vì, bất chấp rủi ro, phải có người ghi nhớ sự phản bội này. Phải có người ghi nhớ những mất mát.

Thư viện Cũ đã bị phá hủy hoàn toàn. Toàn bộ nửa sau đã bị thổi bay, như một vết thương hở khổng lồ đang phơi bày mọi thứ bên trong theo cách thật độc địa và nhục nhã. Những kệ sách trống quá nửa. Những cuốn sách chưa bị cháy thành tro đang chất thành từng đống trên những chiếc xe đẩy quanh tòa nhà, đợi để được mang đi, Robin nghĩ vậy, để các học giả của Babel kiểm tra. Cậu nghĩ phần lớn những cuốn sách này sẽ không bao giờ được công khai.

Tất cả những nghiên cứu tuyệt vời độc đáo sẽ bị giấu nhẹm trong kho lưu trữ của hoàng gia vì họ sợ nội dung của chúng có thể sẽ gây ra cảnh náo loạn.

Chỉ khi rón rén tiến lại gần, cậu mới nhìn thấy những thi thể vẫn đang nằm trong đống đổ nát. Cậu nhìn thấy một cánh tay nhợt nhạt, thò ra dưới đống gạch, thấy một chiếc khóa giày vẫn gắn trên một cẳng chân cháy xém. Gần bên hông Thư viện Cũ, cậu nhìn thấy một chỏm tóc màu đen phủ đầy bụi. Cậu ngoảnh mặt đi trước khi nhìn thấy gương mặt bên dưới.

“Bọn chúng đã không thèm dọn dẹp thi thể.” Cậu cảm thấy choáng váng.

Victoire đưa tay che miệng. “Ôi, Chúa ơi.”

“Bọn chúng đã không thèm dọn dẹp thi thể...”

Cậu đứng dậy. Cậu không biết mình muốn làm gì - kéo từng thi thể vào rừng? Đào mộ cho họ ở ngay bên cạnh thư viện? Hay ít nhất cũng phủ một tấm vải lên những đôi mắt đang mở trừng trừng? Cậu chỉ biết rằng bỏ mặc họ nằm trơ trơ ở đó là một việc thật sai trái.

Nhưng Victoire đã kéo cậu quay lại những rặng cây. “Chúng ta không thể, cậu biết chúng ta không thể làm vậy mà...”

“Nhưng họ đang ở đó - Anthony, Vimal, Ramy...”

Bọn chúng đã không thèm mang thi thể đến nhà xác. Thậm chí còn không phủ bạt lên những cái xác. Chỉ để họ nằm đó, nơi họ ngã xuống, máu lênh láng thấm qua những miếng gạch và những cuốn sách, trong lúc chúng thản nhiên bước qua những thi thể để đi khai quật thư viện. Đây có phải là sự trả thù nhỏ nhen của chúng, để trừng phạt cho sự bất tiện mà chúng phải trải qua? Hay chúng chỉ đơn giản là không thèm bận tâm?

Thế giới này phải sụp đổ, cậu nghĩ. Phải có người trả giá cho chuyện này. Phải có người đổ máu. Nhưng Victoire đã kéo họ quay lại con đường mà họ đã đi qua, và cái siết tay mạnh bạo như gọng kìm của cô là thứ duy nhất đang ngăn cậu khỏi nhảy vào gây gổ.

“Ở đây không còn gì cho chúng ta nữa”, cô thì thầm. “Đến lúc rồi, Robin. Chúng ta phải đi thôi.”

* * *

Họ đã chọn một ngày đẹp trời để khơi mào cách mạng.

Đó là ngày đầu tiên của học kỳ mới, và là một trong những ngày hiếm hoi ở Oxford khi thời tiết đẹp đến diệu kỳ; khi hơi ấm hứa hẹn sẽ mang đến nhiều tia nắng và nhiều niềm vui mới, thay vì những cơn mưa dai dẳng và mưa tuyết như học kỳ hai thường mang đến. Trời trong xanh và gió xuân tươi mát. Hôm nay, tất cả mọi người sẽ ở trường - giảng viên, nghiên cứu sinh, và sinh viên - và tiền sảnh sẽ không có khách hàng, vì năm nay Babel sẽ đóng cửa để sắp xếp lại giá sách và tu sửa trong tuần đầu tiên của học kỳ. Sẽ không có bất cứ thường dân nào bị mắc kẹt trong cuộc đọ súng này.

Khó khăn ở chỗ, làm thế nào để đi vào tòa tháp.

Họ không thể thản nhiên đi đến cửa trước và bước vào. Ảnh chân dung của họ đã đăng đầy các mặt báo ở London; hiển nhiên sẽ có vài người biết đến, ngay cả khi Oxford đang che đậy chuyện này. Vẫn có nửa chục cảnh sát đang đứng canh ở cửa. Và giờ, chắc chắn Giáo sư Playfair đã phá hủy các lọ máu định danh của họ.

Nhưng họ vẫn có ba lợi thế: thỏi bạc

explõdere

của Griffin, thỏi bạc vô hình, và việc hàng rào đã được thiết kế để giữ tài liệu bên trong, không thể mang ra ngoài. Đó chỉ là giả thiết, nhưng rất khả dĩ. Theo những gì họ biết, hàng rào chỉ được kích hoạt khi có người bước ra, không phải khi bước vào. Kẻ trộm đã luôn an toàn lẻn vào trong, miễn sao có người mở cửa; chỉ khi họ ra ngoài thì mới gặp rắc rối.

Và nếu họ làm những việc đã đến đây để làm, họ sẽ không rời khỏi tháp suốt một thời gian rất dài.

Victoire thở thật sâu. “Cậu sẵn sàng rồi chứ?”

Không còn lựa chọn nào khác. Họ đã nghĩ suốt đêm mà không thể nghĩ ra được gì. Không còn cách nào khác ngoài việc hành động.

Robin gật đầu.

“

Explõdere

”, cậu thì thầm, rồi ném thỏi bạc qua bãi cỏ.

Không khí bị xé toạc. Robin biết rằng, trên lý thuyết, thỏi bạc này vô hại, nhưng tiếng động vẫn thật khủng khiếp, nghe như tiếng những thành phố đang sụp đổ tan tành, hay những kim tự tháp đang đổ ập. Theo bản năng, cậu muốn chạy trốn, muốn tìm nơi trú ẩn, dù biết đó chỉ là thỏi bạc đang tác động lên tâm trí, cậu vẫn phải dồn hết sức để không vắt chân lên chạy.

“Đi thôi”, Victoire nói, kéo mạnh tay cậu.

Đúng như dự đoán, cảnh sát đã chạy qua bãi cỏ; cửa đóng lại sau lưng đám học giả. Robin và Victoire vội chạy qua vỉa hè, qua huy hiệu của trường, rồi chen vào sau bọn họ. Robin nín thở khi bước qua ngưỡng cửa, nhưng còi báo động đã không vang lên; không có bẫy. Họ đã vào được bên trong; họ đã được an toàn.

Tiền sảnh có vẻ đông hơn thường lệ. Có phải tin nhắn của họ đã được gửi đi? Có phải vài người trong số đó đã đến đây vì tin nhắn của họ? Cậu không biết ai là đồng minh của Hermes, ai không; tất cả những người bắt gặp ánh mắt cậu chỉ tỏ ra hờ hững, chỉ lịch thiệp gật đầu rồi làm việc của họ. Mọi thứ vẫn bình thường đến lố bịch. Không ai biết thế giới đã sụp đổ hay sao?

Bên kia sảnh tròn, Giáo sư Playfair đứng tựa người vào ban công trên tầng hai, trò chuyện với Giáo sư Chakravarti. Chắc hẳn Giáo sư Chakravarti vừa đùa một câu gì đó, vì Giáo sư Playfair đã cười, lắc đầu và nhìn xuống tiền sảnh. Ông ta bắt gặp ánh mắt của Robin. Mắt ông ta trợn tròn.

Robin nhảy lên chiếc bàn ở chính giữa tiền sảnh ngay khi Giáo Sli Playfair chạy xuống cầu thang.

“Nghe đây!” cậu hét lên.

Đám người ồn ào trong tòa tháp vẫn không buồn để ý đến cậu. Victoire trèo lên đứng cạnh cậu, cầm chiếc chuông lễ mà Giáo sư Playfair vẫn thường dùng để công bố kết quả thi. Cô giơ chiếc chuông lên quá đầu và lắc mạnh ba tiếng. Cả tòa tháp im bặt.

“Cảm ơn cậu”, Robin nói. “Rồi. Giờ thì. Tôi có điều này cần nói.” Đầu cậu trống rỗng khi thấy quá nhiều người đang giương mắt nhìn cậu. Trong vài giây, cậu chỉ chớp mắt, im lặng và bồn chồn, cho đến khi lưỡi bắt đầu hoạt động trở lại. Cậu hít thật sâu. “Chúng tôi sẽ phong tỏa tòa tháp.”

Giáo sư Craft lách người qua đám đông để đi đến đầu tiền sảnh. “Trò Swift, trò đang làm chuyện quái quỷ gì vậy?”

“Đợi chút đã”, Giáo sư Harding lên tiếng. “Đáng lẽ trò không được ở đây, Jerome đã nói...”

“Chiến tranh đang diễn ra”, Robin nói nhanh. Cậu nhăn mặt khi những lời ấy được thốt ra; chúng thật vụng về, thiếu thuyết phục. Cậu đã chuẩn bị một bài diễn thuyết, nhưng đột nhiên, cậu chỉ có thể nhớ những điểm chính, và chúng có vẻ thật ngớ ngẩn ngay khi được nói ra thành lời. Khắp tiền sảnh và dọc ban công các tầng trên, cậu nhìn thấy những khuôn mặt đang tỏ vẻ hồ nghi, thích thú, và khó chịu khác nhau. Thậm chí cả Giáo sư Playfair, đang thở hổn hển ngay dưới chân cầu thang, cũng có vẻ bối rối hơn là kích động. Đầu cậu quay cuồng. Cậu muốn nôn.

Hẳn Griffin sẽ biết cách thuyết phục họ. Griffin là người hoạt ngôn, là nhà cách mạng thực sự; anh ấy có thể vẽ nên một bức tranh sống động về sự bành trướng của đế quốc, về tội đồng lõa, nỗi ăn năn, và trách nhiệm, bằng những câu nói cay nghiệt. Nhưng Griffin không ở đây, và việc tốt nhất cậu có thể làm là triệu hồi linh hồn của người anh quá cố.

“Quốc hội đang thảo luận về việc điều động quân sự đến Quảng Châu.” Cậu gắng nói to hơn, để nhiều người phải chú ý đến cậu, việc mà trước đây cậu chưa từng làm. “Dù không có lý do chính đáng, ngoài lòng tham của các công ty thương mại. Họ định dùng vũ lực để uy hiếp người Trung Quốc phải sử dụng nha phiến, và gây nên một sự cố ngoại giao trong chuyến công du của chúng tôi là cái cớ để họ làm điều đó.”

Cuối cùng cậu cũng nói được một điều có lý. Khắp tòa tháp, vẻ mất kiên nhẫn đã chuyển thành vẻ tò mò, hoang mang.

“Quốc hội thì có liên quan gì đến chúng ta?” một nghiên cứu sinh Khoa Luật lên tiếng - tên anh ta là Coalbrook hay Conway, hay gì đó tương tự.

“Đế quốc Anh không thể làm bất cứ điều gì khi không có sự giúp đỡ của chúng ta”, Robin nói. “Chúng ta đang khảm những thỏi bạc tiếp năng lượng cho súng ống và tàu bè của họ. Chúng ta đang mài những con dao cho kẻ thống trị. Chúng ta đang soạn hiệp ước cho họ. Nếu chúng ta ngừng giúp đỡ, Quốc hội sẽ không thể gây chiến với Trung Quốc...”

“Tôi vẫn không hiểu tại sao chúng ta phải quan tâm đến điều đó”, Coalbrook hay Conway nói.

“Vì các giáo sư của chúng ta là người đứng sau chuyện này”, Victoire chen vào. Giọng cô run rẩy, nhưng vẫn lớn hơn và quả quyết hơn Robin. “Họ đang dần hết bạc, cả đất nước này đang dần hết bạc, và vài giảng viên của chúng ta đã nghĩ, cách tốt nhất để giải quyết rắc rối này là bơm nha phiến vào thị trường nước ngoài. Họ sẵn sàng làm mọi việc để thông qua kế hoạch này; họ đã giết những người định tiết lộ tin tức đó. Họ đã giết Anthony Ribben...”

“Anthony Ribben đã chết khi đang đi trên biển”, Giáo sư Craft nói.

“Không”, Victoire nói. “Anh ấy đã ẩn náu, đã nỗ lực ngăn chặn đế chế làm việc này. Họ đã bắn chết anh ấy vào tuần trước. Cả Vimal Srinivasan, Ilse Dejima, và Cathy O’Nell nữa - cứ việc đến Jericho, đến tòa nhà cũ sau rừng ở bên kia cây cầu, rồi mọi người sẽ thấy đống đổ nát, thấy thi thể của họ...”

Tiếng xì xào vang lên. Vimal, Ilse và Cathy đều rất được mọi người yêu mến. Tiếng thì thầm lan rộng; rõ ràng cả trường đã biết đến sự vắng mặt của họ, và không ai biết họ đang ở đâu.

“Chúng điên rồi”, Giáo sư Playfair nói lớn. Ông ta đã lấy lại bình tĩnh, như diễn viên vừa nhớ ra lời thoại của mình. Ông ta chỉ tay một cách khoa trương vào hai người bọn họ, vẻ buộc tội. “Chúng điên rồi, chúng đã bắt tay cùng băng đảng trộm cướp, chúng đáng bị nhốt vào tù...”

Nhưng điều này dường như càng khó chấp nhận hơn cả câu chuyện của Robin. Giọng hào sảng của Giáo sư Playfair, vốn thường rất lôi cuốn, lúc này lại có tác dụng ngược, khiến những lời ông ta nói nghe như một màn kịch. Không ai biết ba người bọn họ đang giở trò gì; khi nhìn từ bên ngoài, ba người bọn họ có vẻ đang diễn kịch.

“Sao trò không nói cho mọi người biết chuyện gì đã xảy ra với Richard Lovell?” Giáo sư Playfair thách thức. “Ông ấy đang ở đâu? Các trò đã làm gì với ông ấy?”

“Richard Lovell là một trong những người đã lên kế hoạch cho cuộc chiến này”, Robin nói lớn. “Ông ấy đã đến Quảng Châu để thu thập tin tức tình báo từ gián điệp của Anh, ông ấy đã trực tiếp liên lạc với Palmerston...”

“Nhưng chuyện đó thật lố bịch”, Giáo sư Craft nói. “Không thể nào là thực, nó...”

“Bọn em có bằng chứng”, Robin nói. Cậu chợt nhớ ra rằng đống giấy tờ ấy hẳn đã bị thiêu trụi hoặc bị tịch thu, nhưng về mặt hùng biện, nó vẫn có hiệu quả. “Bọn em có thư từ, có bằng chứng - ông ấy đã ghi lại tất cả. Ông ấy đã lên kế hoạch suốt nhiều năm. Playfair cũng có phần, cứ hỏi ông ta mà xem...”

“Nó đang nói dối”, Playfair lên tiếng. “Nó chỉ đang nói nhảm thôi, Margaret, thằng nhóc này điên rồi...”

“Nhưng người điên không thể nói năng mạch lạc.” Giáo sư Craft cau mày, hết nhìn Robin lại nhìn Giáo sư Playfair. “Và những lời dối trá thường vì tính vị kỷ. Còn câu chuyện này... nó không có lợi cho bất kỳ ai, nhất là hai trò ấy”, bà nói, chỉ tay vào Robin và Victoire, “và nó mạch lạc.”

“Tôi đảm bảo với cô, Margaret....”

“Thưa giáo sư.” Robin trực tiếp cầu khẩn Giáo sư Craft. “Thưa giáo sư, làm ơn... ông ấy muốn gây chiến, ông ấy đã lên kế hoạch suốt nhiều năm. Hãy kiểm tra văn phòng của ông ấy. Văn phòng của Giáo sư Lovell. Hãy kiểm tra đống giấy tờ của ông ấy, tất cả đều ở đó.”

“Không”, Giáo sư Craft lẩm bẩm đáp. Lông mày nhíu lại. Bà chớp mắt nhìn Robin và Victoire, dường như bà vừa nhận ra một điều gì đó - có lẽ là sự mệt mỏi của họ, hai bờ vai đang trĩu xuống, hoặc nỗi buồn đang rỉ ra từ xương tủy của họ. “Không, ta tin hai trò...” Bà quay người. “Jerome? Anh có biết về việc này không?”

Giáo sư Playfair ngập ngừng trong giây lát, như thể đang cân nhắc có nên tiếp tục giả vờ hay không. Rồi ông ta phì phò nói. “Đừng tỏ ra sửng sốt đến vậy. Các cô đều biết thứ gì đang giúp cho tòa tháp này hoạt động. Các cô đều biết cán cân quyền lực phải được thay đổi, các cô đều biết chúng ta phải làm một việc gì đó để cân bằng sự thâm hụt...”

“Nhưng tuyên chiến với những người vô tội...”

“Đừng vờ như đây là ranh giới cô sẽ không chịu vượt qua”, ông ấy nói. “Các cô đều bằng lòng với tất cả những chuyện khác mà - chẳng phải như Trung Quốc có nhiều thứ để cống hiến cho thế giới, ngoài lượng người tiêu dùng của họ. Vì sao chúng ta không thể...” Playfair ngưng bặt. Dường như ông ta vừa nhận ra sai lầm của mình, rằng ông ta vừa xác nhận câu chuyện của họ.

Đã quá muộn. Bầu không khí đã thay đổi, vẻ hoài nghi đã biến mất. Sự bực bội đã chuyển thành sự giác ngộ dần dần, rằng đây không phải là một trò hề, không phải là một cơn kích động, mà là chuyện có thật.

Thế giới thực rất hiếm khi bước chân vào tòa tháp. Họ không biết phải làm gì với nó.

“Chúng ta đang sử dụng ngôn ngữ của những quốc gia khác để làm giàu cho quốc gia này.” Robin nhìn quanh tháp trong lúc nói. Cậu tự nhắc bản thân nhớ rằng không phải cậu đang gắng thuyết phục Giáo sư Playfair, mà đang thuyết phục những người khác. “Chúng ta đang tiếp nhận quá nhiều kiến thức vốn không phải của chúng ta. Điều tối thiểu chúng ta có thể làm là ngăn chặn việc này diễn ra. Đó là điều duy nhất đúng với luân thường đạo lý.”

“Vậy cậu định làm gì?” Matthew Houndslow hỏi. Anh ta không có ý thù địch; chỉ băn khoăn và bối rối. “Như cậu đã nói, quyền quyết định thuộc về Quốc hội, vậy làm sao...”

“Chúng ta sẽ đình công.”

Phải, giờ cậu đã bình tĩnh hơn; cậu đã chuẩn bị trước cho câu hỏi này. Cậu ngẩng cao đầu, gắng bắt chước giọng thị uy của Griffin và Anthony. “Chúng ta sẽ đóng cửa tháp. Kể từ hôm nay, khách hàng sẽ không được vào trong tòa tháp. Sẽ không ai khảm, bán, hay bảo dưỡng những thỏi bạc nữa. Chúng ta sẽ từ chối cung cấp dịch vụ dịch thuật cho cả nước Anh, cho đến khi họ đầu hàng - và họ sẽ đầu hàng, vì họ cần chúng ta. Họ cần chúng ta hơn bất cứ thứ gì khác. Đó là cách để chúng ta giành chiến thắng.” Cậu ngừng lời. Khắp phòng im ắng. Cậu không biết cậu đã thuyết phục được họ hay chưa, cậu không biết vẻ mặt mà cậu đang nhìn thấy là sự giác ngộ miễn cưỡng hay sự hoài nghi. “Nếu tất cả chúng ta...”

“Nhưng trò sẽ phải phong tỏa tòa tháp.” Giáo sư Playfair cười khẩy một cách độc địa. “Trò sẽ phải chế ngự tất cả chúng ta.”

“Có lẽ vậy”, Victoire nói. “Có lẽ bọn tôi đang làm việc đó.”

Sự ngập ngừng kỳ khôi lan rộng, khi những học giả của Oxford dần nhận ra rằng bất kể chuyện gì sắp xảy ra sau đây cũng sẽ là vấn đề của bạo lực.

“Trò.” Giáo sư Playfair chỉ tay vào cậu sinh viên đang đứng gần cửa. “Đi gọi cảnh sát, dẫn họ vào...”

Cậu ta không hề nhúc nhích. Cậu ta là sinh viên năm hai - Ibrahim, chuyên ngành tiếng Ả Rập, đến từ Ai Cập. Cậu ta có vẻ còn rất trẻ, mặt bầu bĩnh, sinh viên năm hai luôn trẻ như vậy sao? Ibrahim liếc nhìn Robin và Victoire, rồi nhìn Giáo sư Playfair, cau mày nói, “Nhưng, thưa thầy...”

“Đừng”, Giáo sư Craft nói với cậu ta, ngay khi hai gã sinh viên năm ba bất ngờ chạy đến cửa. Một gã xô Ibrahim ngã vào giá sách.

Robin ném thỏi bạc về phía cửa. “

Explõdere

, phát nổ.” Tiếng động kinh hoàng vang lên khắp tiền sảnh; lần này là một tiếng gào rú chói tai. Hai gã năm ba lảo đảo lùi xa khỏi cửa như hai chú thỏ đang hoảng sợ.

Robin rút ra một thỏi bạc khác từ túi áo trước và vung vẩy trên đầu.

“Tôi đã giết Richard Lovell bằng thỏi bạc này.” Cậu không thể tin những lời ấy vừa được thốt ra từ miệng cậu. Đây không phải là cậu; mà là bóng ma của Griffin, người anh trai quả cảm hơn, điên loạn hơn, đang vươn tay từ địa ngục để giật dây điều khiển cậu. “Bất cứ ai dám bước đến gần, bất kỳ ai dám chạy đi tìm viện trợ, tôi sẽ cho người đó vỡ tan tành.”

Mọi người có vẻ vô cùng kinh hãi. Họ tin lời cậu.

Và điều ấy khiến cậu băn khoăn. Mọi chuyện đã diễn ra quá dễ dàng. Cậu đã nghĩ sẽ có người kháng cự, nhưng họ trông có vẻ bị chế ngự hoàn toàn. Thậm chí các giáo sư cũng không hề nhúc nhích; Giáo sư Leblanc và De Vreese co ro trốn dưới bàn, như sợ đại bác sẽ bắn xuống. Cậu có thể bảo họ nhảy điệu jig, hoặc xé từng trang sách, họ cũng sẽ làm theo.

Họ sẽ làm theo vì cậu đã đe dọa bằng bạo lực.

Cậu không thể nhớ vì sao ý nghĩ hành động lại từng khiến cậu sợ. Griffin nói đúng - đấu tranh không phải là trở ngại, mà là việc không thể hình dung nổi rằng đấu tranh là khả dĩ, là việc bản năng muốn bám lấy sự an toàn, bám lấy trạng thái sinh tồn của hiện tại. Nhưng giờ cả thế giới đã hoàn toàn sụp đổ. Mọi cánh cửa đều đang rộng mở. Họ đã vượt ra ngoài thế giới của những ý tưởng, đã tiến vào thế giới của hành động, và đó là điều mà các sinh viên Oxford hoàn toàn không được chuẩn bị.

“Vì Chúa”, Giáo sư Playfair gắt gỏng nói. “Ai đó tóm lấy chúng đi.”

Vài nghiên cứu sinh bước lên phía trước, vẻ đầy do dự. Tất cả đều là người châu Âu, đều là người da trắng. Robin nghiêng đầu. “Ồ, cứ đến đi.”

Những chuyện xảy ra tiếp theo không có chút hào hùng đĩnh đạc, và sẽ không bao giờ được sánh cùng với những trang sử thi về lòng dũng cảm và sự kiên cường. Vì các học giả Oxford đã bị nuông chiều và đùm bọc, họ chỉ là những nhà lý luận bàn giấy, ngồi viết về những trận chiến đẫm máu bằng bàn tay mềm mại và thanh mảnh. Cuộc đánh chiếm Babel chỉ là một trận đụng độ vụng về, ngớ ngẩn giữa trừu tượng và thực tế. Các nghiên cứu sinh tiến đến gần chiếc bàn, ngập ngừng vươn tay. Robin đá họ ra xa. Cậu có cảm giác như đang đá một đám trẻ con, vì họ đang quá sợ để tỏ ra mạnh bạo, và không đủ tuyệt vọng hay tức giận để khiến cậu bị thương. Họ có vẻ không chắc chắn về những việc họ muốn làm - kéo cậu xuống, túm chân cậu, hay chỉ đơn giản đánh nhẹ vào cổ chân - nên những đòn đánh trả của cậu cũng chỉ cho có lệ. Họ đang diễn trò đánh trận giả, tất cả bọn họ, những diễn viên nghiệp dư đã được ra chỉ thị: Hãy vật lộn.

“Victoire!” cậu hét lên.

Một gã trèo lên bàn sau lưng cô. Cô quay ngoắt lại. Hắn do dự một lát, nhìn cô từ đầu đến chân, rồi vung tay đấm. Nhưng hắn đấm như thể chỉ biết tới hành động này trên lý thuyết, như thể chỉ biết những cấu thành của nó - đặt chân xuống, kéo tay ra sau, và vung nắm đấm. Hắn đã tính sai khoảng cách - cú đấm chỉ như một cái vỗ nhẹ vào vai Victoire. Cô tung cú đá bằng chân trái vào người hắn. Hắn gập người, rên rỉ.

“Dừng lại!”

Cuộc ẩu đả kết thúc. Bằng cách nào đó, Giáo sư Playfair đã tìm được một khẩu súng.

“Dừng trò ngớ ngẩn này lại ngay.” Ông ta chĩa súng vào Robin. “Dừng lại ngay lập tức.”

“Cứ việc bắn đi”, Robin thở dài. Cậu không biết sự can đảm ngớ ngẩn này từ đâu đến, nhưng cậu không hề sợ. Chẳng hiểu sao khẩu súng ấy lại có vẻ trừu tượng hơn là thực, viên đạn đó sẽ không thể chạm vào người cậu. “Cứ bắn đi, tôi thách ông đấy.”

Cậu đang đánh cược vào sự hèn nhát của Giáo sư Playfair, vào thực tế rằng ông ta có thể đang cầm súng, nhưng sẽ không nổ súng. Giáo sư Playfair, cũng như mọi học giả khác của Babel, rất ghét để tay bị nhúng chàm. Ông ta có thể thiết kế những chiếc bẫy chết người, nhưng không bao giờ tự vung dao. Và ông ta không biết cần bao nhiêu ý chí hay bao nhiêu hoảng loạn để thực sự ra tay giết người.

Robin không quay lại, không nhìn Victoire đang làm gì. Vì cậu biết. Cậu dang rộng hai tay, mắt dán vào Giáo sư Playfair. “Ông sẽ chọn cách nào đây?”

Mặt Giáo sư Playfair đanh lại. Ngón tay ông ta bắt đầu cử động, và Robin khựng người, ngay khi tiếng súng vang lên.

Giáo sư Playfair lảo đảo ngã về phía sau, máu tươi nhuộm đỏ ngực ông ta. Tiếng la hét vang vọng khắp tòa tháp. Robin nhìn qua vai. Victoire đang hạ khẩu súng của Griffin xuống, những chùm khói cuốn quanh mặt cô, mắt cô đang mở lớn.

“Rồi”, cô thở hắt ra, ngực phập phồng. “Giờ chúng ta đã biết cảm giác đó thế nào rồi đấy.”

Đột nhiên Giáo sư De Vreese chạy qua sảnh. Ông định chộp lấy khẩu súng của Giáo sư Playfair. Robin nhảy xuống bàn, nhưng cậu đang ở quá xa - rồi Giáo sư Chakravarti nhảy bổ vào Giáo sư De Vreese. Họ ngã phịch xuống sàn và bắt đầu vật lộn - một cảnh tượng vụng về, thiếu thanh lịch, hai vị giáo sư trung niên bụng phệ lăn lộn dưới sàn, áo choàng bay phấp phới quanh hông. Robin đứng nhìn trong kinh ngạc, trong lúc Giáo sư Chakravarti giật khẩu súng từ tay Giáo sứ De Vreese và lóng ngóng đè ông ấy xuống.

“Thưa thầy?”

“Thầy đã nhận được tin nhắn của các em”, Giáo sư Chakravarti hổn hển nói. “Làm tốt lắm.”

Giáo sư De Vreese thụi khuỷu tay vào mũi Giáo sư Chakravarti. Ông vội lùi lại. Giáo sư De Vreese vùng khỏi tay ông, và cuộc vật lộn lại bắt đầu.

Robin nhặt súng, chĩa vào Giáo sư De Vreese.

“Đứng dậy”, cậu ra lệnh. “Đặt tay sau đầu.”

“Mày không biết bắn súng”, Giáo sư De Vreese nói, vẻ khinh bỉ.

Robin chĩa súng vào chiếc đèn chùm rồi bóp cò. Đèn nổ tung; mảnh thủy tinh bắn tung tóe khắp sảnh. Như thể cậu vừa bắn vào đám đông; họ la hét và rúm ró. Giáo sư De Vreese quay người bỏ chạy, nhưng mắc vào chân bàn nên ngã sõng soài, mông đập mạnh xuống sàn. Robin lên đạn, như cách Griffin đã dạy, rồi chĩa vào Giáo sư De Vreese.

“Đây không phải là một cuộc hùng biện”, cậu tuyên bố. Toàn thân cậu run rẩy, ngập trong luồng năng lượng hung bạo mà cậu đã cảm thấy vào lần đầu tiên cậu bắn súng. “Đây là một cuộc chiếm đóng. Có ai khác muốn thử nữa không?”

Không ai nhúc nhích. Không ai ho he. Tất cả đang rúm ró, khiếp sợ. Vài người đang khóc; vài người đưa tay che miệng, như thể đó là cách duy nhất để không hét toáng lên. Và tất cả đang nhìn cậu, đợi cậu cho biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Trong giây lát, âm thanh duy nhất trong tòa tháp là tiếng rên rỉ của Giáo sư Playfair.

Cậu nhìn Victoire qua vai. Cảm giác bàng hoàng đang hiện rõ trên gương mặt của cô. Súng buông thõng bên hông. Trong thâm tâm, không ai nghĩ rằng mọi chuyện sẽ xảy ra theo cách này. Suy đoán của họ về ngày hôm nay chỉ là cảnh hỗn loạn hoàn toàn: Một cuộc kháng cự tàn khốc kinh hoàng; một cuộc ẩu đả rất có thể sẽ kết thúc bằng cái chết. Họ đã sẵn sàng hy sinh; không sẵn sàng để chiến thắng.

Nhưng Babel đã bị chiếm đóng quá dễ dàng, hệt như Griffin đã tiên liệu. Và giờ họ phải hành xử như những người chiến thắng.

“Không được mang bất cứ thứ gì ra khỏi Babel”, cậu tuyên bố. “Chúng ta sẽ phong tỏa toàn bộ dụng cụ chế tác. Chúng ta sẽ dừng bảo dưỡng định kỳ cho thành phố. Chúng ta sẽ đợi cỗ máy này ngừng hoạt động, và hy vọng họ sẽ đầu hàng trước chúng ta.” Cậu không biết những lời này từ đâu đến, nhưng chúng nghe có vẻ rất xuôi tai. “Đất nước này sẽ không thể trụ nổi quá một tháng mà không có chúng ta. Chúng ta sẽ đình công cho đến khi họ đầu hàng.”

“Họ sẽ điều quân đến tấn công”, Giáo sư Craft nói.

“Nhưng họ không thể làm vậy”, Victoire nói. “Họ không thể đụng vào chúng ta. Không ai có thể đụng vào chúng ta. Họ rất cần chúng ta.”

Và đó là điểm cốt lõi trong giả thiết về bạo lực của Griffin, là lý do có thể giúp họ chiến thắng. Cuối cùng họ đã tìm ra lời giải đáp. Đó là lý do khiến Griffin và Anthony tự tin đến vậy về cuộc đấu tranh của họ, khiến họ quả quyết rằng các nước thuộc địa có thể chống lại đế chế. Đế chế cần thành quả khai thác. Bạo lực khiến hệ thống bị rung chuyển, vì hệ thống không thể tự ăn thịt chính nó để tồn tại. Đế chế bị trói buộc vì nó không thể san bằng những nơi mà nó đang kiếm lợi. Và cũng như những cánh đồng mía, những thị trấn, và những con người đang bị cưỡng ép lao động, Babel là một tài sản. Nước Anh cần tiếng Trung, tiếng Ả Rập, tiếng Phạn và tất cả ngôn ngữ của những nước thuộc địa để vận hành. Nước Anh không thể gây tổn hại đến Babel mà không gây tổn hại lên chính nó. Và vì vậy, chỉ riêng Babel, một tài sản nổi loạn, cũng có thể khiến cả đế chế này sụp đổ.

“Vậy mày sẽ làm gì?” Giáo sư De Vreese hỏi. “Giữ bọn tao làm con tin cho đến khi đó sao?”

“Tôi hy vọng các thầy sẽ hợp tác cùng chúng tôi”, Robin đáp. “Nếu không chịu, các thầy có thể rời khỏi tháp. Nhưng trước hết, hãy ra lệnh cho cảnh sát giải tán, rồi các thầy có thể lần lượt rời khỏi đây. Không được mang theo bắt cứ thứ gì ra ngoài - chỉ được mang những thứ hiện có trên người.” Cậu ngắt lời. “Và thầy biết chúng tôi sẽ phá hủy ống đựng máu của các thầy.”

Ngay khi cậu dứt lời, một đám đông đã chen chúc tiến về phía cửa. Tim cậu chùng xuống khi đếm số người. Hàng chục người đang bỏ đi - tất cả những người thuộc khoa Cổ điển, khoa ngôn ngữ châu Âu, và gần như toàn bộ giảng viên. Giáo sư Playfair vẫn đang rên rỉ khi được họ khiêng ra ngoài, nằm ê chề trên tay Giáo sư De Vreese và Harding.

Chỉ còn sáu học giả ở lại: Giáo sư Chakravarti, Giáo sư Craft, hai sinh viên - Ibrahim và một cô gái nhỏ nhắn tên Juliana - và hai nghiên cứu sinh tên Yusuf và Meghana, thuộc khoa Luật và khoa Văn. Những đại diện da màu, những đại diện đến từ các nước thuộc địa, ngoại trừ Giáo sư Craft.

Nhưng có thể sẽ có hiệu quả. Họ có thể bỏ qua số đông nếu giữ được quyền kiểm soát tòa tháp. Babel đang sở hữu số lượng công cụ chế tác bạc lớn nhất cả nước: những cuốn bách khoa ngữ pháp, bút khảm, bảng sổ cái cặp từ, và các tài liệu tham khảo. Trên hết, còn có bạc. Giáo sư Playfair và những người khác có thể thiết lập trung tâm dịch thuật thứ cấp ở nơi khác, nhưng ngay cả khi họ có thể dựa vào trí nhớ để tái tạo mọi thứ cần thiết nhằm duy trì ngành chế tác bạc của cả nước, cũng sẽ mất vài tuần, thậm chí là vài tháng, để thu thập đủ nguyên vật liệu nhằm thay thế chức năng của Babel. Khi ấy, cuộc biểu quyết đã được tiến hành, khi ấy, nếu mọi chuyện diễn ra theo kế hoạch, quốc gia này đã sụp đổ.

“Giờ sao đây?” Victoire hỏi nhỏ.

Máu dồn lên não Robin khi cậu nhảy xuống bàn. “Giờ chúng ta sẽ nói cho cả thế giới biết chuyện gì sẽ xảy ra.”

* * *

Đến trưa, Robin và Victoire lên ban công phía Bắc trên tầng tám. Ban công này chủ yếu chỉ dùng để trang trí, dành cho những học giả chưa thấm nhuần khái niệm rằng họ cần phải hít thở khí trời một chút. Chưa ai từng bước ra ban công này, và cửa đã bị gỉ đến nỗi gần như không thể mở được. Robin dồn hết sức đẩy cửa. Khi nó bất ngờ mở ra, cậu ngã nhào tới trước và chênh vênh trên thành lan can trong một giây ngắn ngủi kinh hoàng trước khi lấy lại thăng bằng.

Trông Oxford thật bé nhỏ bên dưới. Như một ngôi nhà búp bê, như mô hình của thế giới thực dành cho những cậu bé chưa một lần thực sự dấn thân vào thế giới. Cậu tự hỏi đây có phải là cách những người như Jardine và Matheson nhìn thế giới hay không - nhỏ bé, dễ bị thao túng. Liệu con người và nơi chốn có di chuyển quanh những đường kẻ mà họ đã vẽ ra hay không. Liệu những thành phố có sụp đổ khi bị họ giẫm đạp hay không.

Bên dưới, bậc tam cấp bằng đá của Babel sáng bừng trong lửa. Những lọ máu của tất cả mọi người trừ tám học giả còn ở lại đã bị ném vào tường, bị đổ dầu đã lấy từ những ngọn đèn không dùng đến, rồi châm lửa. Không cần thiết phải làm vậy; chỉ cần lấy chúng ra khỏi tòa tháp là đã đủ - nhưng Robin và Victoire đã khăng khăng thực hiện nghi lễ này. Họ đã nghiệm ra tầm quan trọng của việc trình diễn từ Giáo sư Playfair, và màn trình diễn rùng rợn này là một lời tuyên bố, một lời cảnh cáo. Lâu đài đã bị đánh chiếm, thầy phủ thủy đã bị đuổi cổ.

“Sẵn sàng chưa?” Victoire đặt một chồng giấy lên lan can. Babel không có máy in nên họ đã dành cả buổi sáng để chép lại hàng trăm tờ truyền đơn. Bản tuyên cáo này đã mượn lý luận xây dựng liên minh của Anthony và triết lý về bạo lực của Griffin. Robin và Victoire đã dung hợp quan điểm của họ thành một bản tuyên ngôn rõ ràng, súc tích - một bên là lời kêu gọi hùng hồn thúc giục mọi người cùng đấu tranh vì công lý, bên kia là lời đe dọa không nhân nhượng dành cho những kẻ phản đối.

Chúng tôi, các sinh viên của Viện Dịch thuật Hoàng gia, yêu cầu Anh quốc phải dừng ngay việc cân nhắc sẽ tiến hành một cuộc chiến phi pháp với Trung Quốc. Vì quyết tâm khơi mào chiến sự và sự đàn áp tàn bạo lên những người đang nỗ lực vạch trần động cơ của chính phủ nên chúng tôi không còn lựa chọn nào khác, để quan điểm của chúng tôi có thể được lắng nghe, ngoài việc ngừng cung cấp tất cả dịch vụ chế tác và dịch thuật của Học viện, cho đến khi yêu cầu của chúng tôi đã được thỏa mãn. Từ hôm nay, chúng tôi tuyên bố sẽ đình công.

Đình công, một từ thật thú vị, Robin nghĩ. Khiến người ta liên tưởng đến những cây búa đang đập mạnh xuống đinh, đến thân người đang nhảy ra chống lại một thế lực không thể nào lay chuyển. Bản thân nó chứa đựng một nghịch lý của khái niệm; rằng thông qua việc án binh bất động và phi bạo lực, người ta có thể chứng minh những hậu quả tàn khốc của việc từ chối đáp ứng những yêu cầu của người mà họ đang lệ thuộc vào.

Ở bên dưới, người dân Oxford vẫn vui vẻ đi lại. Không ai chịu ngước lên nhìn; không ai thấy hai sinh viên đang nhướn người qua lan can cao nhất của thành phố. Họ không thấy bóng dáng của các dịch giả lưu vong ở bất cứ đâu; nếu Playfair đã tìm đến cảnh sát thì có vẻ như họ đã quyết định sẽ chưa vội vàng hành động. Thành phố vẫn yên bình, vẫn không hề hay biết chuyện gì đang diễn ra.

Oxford, chúng tôi kêu gọi mọi người hãy sát cánh cùng chúng tôi. Cuộc đình công này sẽ gây ra nhiều khó khăn to lớn cho thành phố trong những ngày sắp tới. Chúng tôi kêu gọi mọi người hãy dành sự phẫn nộ của mình cho chính quyền đã khiến việc đình công này trở thành giải pháp duy nhất của chúng tôi. Chúng tôi kêu gọi mọi người hãy đứng về phía công lý và lẽ phải.

Rồi tờ truyền đơn giải thích về nguy cơ hiển nhiên của tình trạng bạc ồ ạt chảy vào nền kinh tế nước Anh, không chỉ với Trung Quốc và các nước thuộc địa, mà còn cả giai cấp lao động của Anh. Robin không trông đợi sẽ có người đọc kỹ đến vậy. Cậu không trông đợi thành phố sẽ ủng hộ cuộc đình công của họ; ngược lại, cậu nghĩ rằng sau khi việc chế tác bị ngưng trệ, người dân sẽ quay sang ghét họ.

Nhưng tòa tháp này là bất khả xâm phạm, và sự căm ghét của người dân sẽ không đáng kể gì. Miễn sao họ hiểu nguyên nhân của sự bất tiện này.

“Cậu nghĩ bao lâu nữa thì tin tức này sẽ được truyền đến London?” Victoire hỏi.

“Vài tiếng”, Robin đáp. “Tớ nghĩ nó sẽ được truyền đi trên chuyến tàu đầu tiên đến Paddington.”

Họ đã chọn nơi không tưởng nhất để khơi mào cách mạng. Oxford không phải là trung tâm của những hoạt động, nó là nơi trú ẩn, nó đi chậm hơn phần còn lại của nước Anh suốt cả nhiều thập kỷ về mọi mặt, ngoại trừ học thuật. Học viện được thiết kế như một pháo đài cổ kính, nơi các học giả có thể tưởng tượng rằng họ đang ở bất cứ thời điểm nào thuộc năm thế kỷ vừa qua, nơi những vụ bê bối và những bất ổn hiếm hoi đến mức nếu một con chim cổ đỏ cất tiếng hót khi bài giảng đạo lê thê ở nhà thờ Christ Church sắp kết thúc là sẽ được tờ báo trường đưa tin.

Nhưng dù không phải là trung tâm quyền lực, Oxford cũng đã sản sinh ra những kẻ nắm quyền. Các cựu sinh viên của Oxford đang điều hành đế chế. Có lẽ, ngay lúc này, một kẻ nào đó đang mang tin tức về cuộc đóng chiếm đến Ga Oxford. Sẽ có người nhận ra tầm quan trọng của nó, sẽ thấy rằng đây không phải là trò chơi tầm thường của một đám sinh viên mà là một cuộc khủng hoảng mang tính quốc gia. Sẽ có người thông báo với Nội các và Viện Quý tộc. Rồi Quốc hội sẽ đưa ra hành động tiếp theo.

“Cậu làm đi.” Robin gật đầu với Victoire. Cô nói ngôn ngữ cổ điển tốt hơn cậu. “Hãy để chúng bay đi.”

“

Polemikós

”, cô nói, cầm thỏi bạc trên đống truyền đơn. “Luận chiến.

Discutere

. Tranh luận.”

Cô đẩy đống truyền đơn xuống. Chúng bay đi. Gió đưa chúng bay qua thành phố; qua những ngọn tháp và tháp canh, xuống đường phố, những khoảng sân và những khu vườn; bay xuống ống khói, xuyên qua những chấn song, lẻn vào nhà, qua những ô cửa sổ đang để ngỏ. Chúng bay đến bất cứ ai đang ở gần, bám lấy áo choàng, bay phấp phới trước mặt họ, dính vào cặp táp và túi đeo chéo. Hầu hết mọi người chỉ gạt chúng ra, vẻ bực bội. Nhưng vài người sẽ nhặt chúng, sẽ đọc bản thông cáo đình công, rồi từ từ sẽ nhận ra ý nghĩa của việc này, với Oxford, với London và đế chế. Rồi sẽ không ai có thể phớt lờ họ nữa. Rồi cả thế giới sẽ phải ngước nhìn.

“Cậu ổn chứ?” Robin hỏi.

Victoire đang đứng im như tượng, mắt dán vào những tờ truyền đơn, như thể cô đang ép bản thân biến thành một chú chim để bay đi cùng chúng. “Tại sao tớ lại không ổn?”

“Tớ... cậu biết mà.”

“Thật khôi hài.” Cô không nhìn thẳng vào mắt cậu. “Tớ đang đợi cảm giác đó ập đến, nhưng nó chỉ... nó không hề ập đến. Không như với cậu.”

“Hai chuyện đó không giống nhau.” Cậu gắng lựa lời an ủi, để thay đổi sự thật. “Đó chỉ là hành động tự vệ. Ông ấy có thể đã sống sót, có thể... ý tớ là, nó không phải...”

“Phát súng đó là vì Anthony”, cô nói đanh thép. “Và tớ không muốn nhắc đến nó thêm một lần nào nữa.”

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 34

Đang tải bình luận...