Chương 11
Tiệc đêm
Ván cờ kết thúc khi hậu trắng chiếu hết vua đen. Hai chị em ngẩng đầu xem giờ rồi cùng nhau đứng dậy.
“Anh Chuya, lát nữa gặp.”
“Lát anh qua thăm Cheshire của chúng em nhé?”
Cặp song sinh mở một cánh cửa khác, rời khỏi phòng.
“Cậu dễ gây cảm tình thật đấy!”
Nghe giọng Genji, tôi ngoái lại. Anh đã vào phòng giải trí từ bao giờ, đang ngồi trên chiếc ghế bành da màu đen ở một góc, nở nụ cười bí hiểm giống hệt mèo Cheshire.
“Lâu lắm mới thấy hai đứa vui như vậy.”
“Thật à?”
“Khi biết tin cậu sắp tới, hai đứa cứ háo hức mãi, lôi cả tập thơ của Nakahara Chuya ra đọc lại.”
“Anh nói gì khiến hai đứa mong ngóng à?”
“Đâu có.” Genji nghiêm túc châm thuốc. “Tôi chỉ kể cậu là một sinh viên kiến trúc chăm chỉ, một chàng trai tốt bụng giống Nakahara Chuya, tôi rất quý cậu. Thế thôi.”
Có đáng mừng không nhỉ? Dù sao vẫn hơn bị mọi người trong nhà căm ghét hoặc phớt lờ.
“Chiếc đồng hồ kia hay thật.” Tôi nhìn mặt đồng hồ khảm vào tường. “Cứ điểm giờ là búp bê lại xuất hiện và nổi nhạc à?”
“Ừ. Ba tôi đặt làm lúc xây Nhà Bắc đấy.” Genji nhả khói, ngó theo hướng mắt tôi. “Có một công ty đồng hồ tên là Koga thì phải. Chủ tịch thời ấy có quan hệ làm ăn rất tốt với ba tôi, nên ba tôi đích thân nhờ họ thiết kế chế tác.”
“Tinh xảo thật đấy... Giai điệu trong hộp nhạc là bài gì?”
“
Điệu van màu đỏ
.”
“
Điệu van màu đỏ
á?” Tôi không biết, cũng không hiểu lắm, cái tên chẳng dính dáng gì đến khúc nhạc vừa nghe.
“Cậu không biết là đúng thôi.” Genji nói. “Đấy là bản nhạc mẹ kế tôi sáng tác hồi trẻ. Dì còn viết một bản nhạc nữa tên là
Điệu van màu đen
. Dùng để báo giờ mỗi buổi sáng chiều. Sáng là Đen, chiều là Đỏ. Kì diệu lắm.”
Lúc ở phòng nhạc, Midori Mio nói mẹ mình “biết chơi nhạc cụ”. Hóa ra không chỉ “biết chơi”, cô ấy còn có tài soạn nhạc.
“Thôi, sắp đến giờ rồi.” Genji đứng dậy. “Tôi về phòng thay quần áo, cậu cứ nghỉ bên phòng khách đi.”
“Thay đồ cho bữa tiệc hả?”
“Ừ, cứ coi là thế.”
“Vậy tôi...”
“Cậu thì được rồi, không cần thay đồ.” Genji cười híp mắt. “Ai cũng biết cậu là khách quý của tôi. Cậu không phải lo... Lát gặp nhé. 9 giờ tôi sẽ qua đón cậu.”
“Vâng.”
Genji rời khỏi phòng giải trí theo cánh cửa cặp song sinh vừa đi. Tôi quay sang phòng khách, ngồi xuống sofa. Noguchi đang cầm ly thủy tinh mờ chứa chất lỏng màu trắng, mặt đỏ gay, mắt dán vào ti vi.
“Chuya, làm một ly không? Rượu đặc sản quê tôi mang đến, vị êm, uống thích lắm.”
Tôi lắc đầu trước lời mời đột ngột, “Cháu không giỏi uống rượu.”
“Thế hả? Uống dần sẽ quen. Hồi bằng tuổi cậu, tôi cũng không uống được như bây giờ.”
“Lát nữa bác có tham gia bữa tiệc tổ chức ở Nhà Dahlia không?” Tôi hỏi.
Noguchi lắc nhẹ bàn tay đang cầm ly rượu, “Không. Tôi còn chẳng được mời.”
“Bác cũng như người nhà Urado còn gì?”
“Ừ. Đúng là tôi với Ryushiro là bạn lâu năm, rất tin tưởng nhau. Tuy nhiên...” Noguchi không nói tiếp mà uống cạn ly rượu, rõ ràng không muốn giải đáp thắc mắc của tôi.
Chẳng biết trên ti vi đang chiếu cái gì. Người dẫn chương trình liến thoắng về tình hình quốc tế gần đây. Liên Xô theo đuổi con đường tồn tại hòa bình; Trung Quốc và Liên Xô mỗi ngày một căng thẳng; Tình hình các quốc gia Trung Đông rất đáng lo ngại; Từ giờ ở khu vực Đông Á, Nhật Bản... Ôi chao, trong một thoáng tôi thấy lo lắng, những việc này thực sự đang xảy ra trong thế giới mình sống ư? Cảm giác về thực tại dần dần phai mờ, sự chơi vơi lại bủa vây.
Tôi dứt mắt khỏi màn hình ti vi đang phát ra âm thanh hỗn tạp, nhìn sang Noguchi, “Cháu muốn hỏi về Midori Mio. Bác chứng kiến khoảnh khắc hai đứa chào đời phải không ạ?”
“Ừ.” Noguchi đặt ly rượu xuống bàn, ưỡn bụng bia, ngả người ra sofa rồi khoanh tay, “Gần mười sáu năm rồi. Hai đứa chào đời trong bệnh viện của tôi ở Kumamoto. Ôi chao, đúng ra một bác sĩ không nên nói lời này, nhưng bấy giờ tôi giật cả mình đấy.”
“Bác đỡ đẻ ạ?”
Tôi buột miệng hỏi, làm đôi mắt đằng sau cặp kính đồi mồi mở to.
“Đời nào!? Dĩ nhiên là không. Tôi là bác sĩ ngoại khoa. Đỡ đẻ là trách nhiệm của khoa sản, chẳng qua bác sĩ đỡ đẻ cuống quá, phải nhờ y tá gọi tôi tới... Cho nên tôi nhìn thấy hai đứa còn trước cả cha đẻ chúng nó.”
“Ở Nhật có nhiều ca song sinh dính liền như thế không ạ?”
“Hiếm lắm. Một số ý kiến cho rằng tỉ lệ là 1/100.000, mà bảy phần mười số đó không chết ngay khi sinh thì cũng chẳng sống được bao lâu. Tuy nắm được lý thuyết, đấy vẫn là lần đầu tiên tôi thấy tận mắt. Phát hoảng lên được.” Noguchi im lặng một lúc, lấy hơi rồi chậm rãi vuốt râu. “Thời nào, nước nào cũng có những ca sơ sinh dị tật. Có báo cáo chỉ ra rằng, các ca này có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Nguyên nhân rất phức tạp, liên quan đến các vấn đề nóng như nước thải nhà máy, không khí ô nhiễm, tác dụng phụ của thuốc Tây, năng lượng phóng xạ... Vì vậy, bác sĩ khoa sản thâm niên ít nhiều vẫn gặp các ca dị tật, nhưng hiếm khi gặp ca chữH như hai đứa nhà này.”
“ChữH?” Cách diễn tả quá lạ tai, tôi chưa hiểu lắm.
Noguchi đẩy gọng kính lên, khẽ cười, “Đó là thuật ngữ chuyên ngành, cách gọi khác của ‘song sinh dính liền’. Khi còn trong bụng mẹ, một bộ phận của hai cá thể song sinh kết hợp lại và cùng phát triển. Loại dị tật này được gọi là ‘dị tật cặp cơ thể, có thể phân thành hai loại cặp cơ thể đối xứng và ‘cặp cơ thể không đối xứng’. Cặp cơ thể không đối xứng là cặp song sinh trong đó một cá thể phát triển không đầy đủ gắn liền với cá thể còn lại như kí sinh, rất nhiều trường hợp cá thể đó chỉ phát triển thân trên, hoặc chỉ phát triển từ bụng trở xuống. Trong khi hai chị em nhà này lại là hai cá thể độc lập, thuộc loại cặp cơ thể đối xứng chữH, hoặc chữ X.”
“Ngoài chữH ra, có loại nào nữa không ạ?”
“Có chứ.” Noguchi gật đầu. “Chỉ riêng cặp cơ thể đối xứng đã có nhiều loại khác nhau như chữ Y, rồi chữ Y ngược, còn gọi là dị tật Delphi.”
“Chữ Y là thế nào ạ?”
“Là hai cá thể dính liền bên dưới, tạo thành hình chữ Y. Đầu và thân trên tách rời, có bốn cánh tay nhưng chỉ có hai chân. Chữ Y ngược thì trái lại, hai cá thể chung đầu và thân trên, thân dưới tách rời, có ba hoặc bốn chân.”
Tôi nghe giải thích và hình dung theo, chóng hết cả mặt.
“Ca chữ Y nổi tiếng nhất là hai anh em Giovanni Giacomo sinh ra ở Ý vào nửa sau thế kỉ 19. Ca chữ Y ngược nổi tiếng nhất là Francesco Lentini ba chân, một trong ba có thể dùng thay ghế. Ông ta lưu diễn ở Mỹ trong một gánh xiếc, còn đóng phim và gặt hái thành công vang dội, được gọi là kì tích ba chân hay ông hoàng dị dạng... Cậu nghe bao giờ chưa?”
Chưa hề.
Chừng như nhận ra vẻ bối rối của tôi, Noguchi họ khẽ, “Lạc đề hơi xa. Tóm lại, song sinh dính liền thường để chỉ các ca chữH đối xứng, khi dính liền ở một bộ phận như thắt lưng, lưng hoặc bụng, tạo thành hình chữH... Cậu biết hai anh em Chang Eng không?”
“Chang và Eng ạ? À, họ là...”
“Chang Bunker và Eng Bunker. Cặp song sinh ra đời năm 1814 tại Thái Lan. Hai người dính liền phần xương sườn trong trạng thái mặt đối mặt. Cha của họ là người Trung Quốc, mẹ là con lai Thái-Trung. ‘Chang và Eng’ trong tiếng Trung nghĩa là ‘phải và trái’ đấy.”
“Thế ạ?”
“Hai anh em rất thông minh và giỏi vận động. Sau này họ lưu diễn xiếc khắp châu Âu và châu Mỹ rồi trở nên nổi tiếng. Tên gọi ‘song sinh Xiêm’ bắt nguồn từ đó.”
“Cháu có biết thông tin này.”
Ellery Queen từng viết tiểu thuyết trinh thám với chủ đề cặp song sinh người Xiêm, trong đó có phần về hai anh em Chang Eng. Nhưng tôi đã biết đến họ từ trước, qua
Tuyển tập chuyện lạ có thật
đọc ở thư viện hồi cấp ba.
“Cháu nhớ sau này hai anh em kết hôn riêng, có rất nhiều con nữa.”
“Họ có tổng cộng 22 đứa con. Hai cặp vợ chồng nhà này còn có một giai thoại kì lạ. Nghe nói vợ họ không ưa nhau nên phải ở riêng. Cặp song sinh chạy qua chạy lại giữa hai nhà ba ngày một lần. Họ sống đến khoảng sáu mươi tuổi. Chang Bunker qua đời trước vì viêm phổi, bốn tiếng sau Eng Bunker cũng ra đi.”
“Bác sĩ có khác, nắm bắt tường tận ghê.”
“Quá khen! Mười sáu năm trước, sau khi tận mắt trông thấy cặp song sinh nhà này, tôi mới bắt đầu tìm hiểu thông tin liên quan.” Noguchi ngồi thẳng dậy, với lấy cái ly trên bàn, rót rượu nhấp một ngụm rồi nói to hơn, “Thế nên, điều rõ ràng nhất bây giờ chính là... sao nhỉ... trường hợp của hai chị em Midori Mio rất hiếm, tương tự hai anh em Chang Eng.”
“Tương tự? Sao lại nói vậy ạ?”
“Sức khỏe hai đứa rất tốt. Trừ việc dính liền một phần thắt lưng ra, các chức năng khác đều bình thường. Cùng là chữH, nhưng tùy mức độ và vị trí dính liền, có nhiều ca hết sức bi kịch, phổ biến là thai chết lưu hoặc chết non sau khi sinh không lâu, cặp nào chiến đấu để sống tiếp được thì hầu hết đều mắc nhiều bệnh tật. Hai đứa nhà này dính liền một phần, nhưng không gây quá nhiều trở ngại cho chức năng cơ thể, cũng không có nhiều bộ phận chung. Đã thế còn xinh xắn, sánh ngang chị em Hilton nổi tiếng thế giới...”
Noguchi càng nói càng cao giọng, vầng trán bóng loáng hồng hào đỏ ửng lên, miệng sùi bọt mép, thậm chí mắt ươn ướt. Rõ ràng là đang hưng phấn. Noguchi say mê cặp song sinh đến thế ư? Tuy hơi ngạc nhiên, tôi vẫn tán thành.
“Đúng là đẹp thật.”
“Hai đứa đón nhận sự thật mình sinh ra và lớn lên trong hình hài ấy một cách rất tự nhiên. Nói sao nhỉ, chính vì thế chúng nó mới.”
“Nhưng, bác sĩ à.” Tôi lấy thuốc lá trong túi áo. “Cháu vẫn băn khoăn một điều là, hai đứa sẽ cứ thế mãi, giống hai anh em Chang Eng a?"
Bàn tay cầm ly rượu khựng lại, Noguchi nheo mắt nhìn tôi rồi hỏi, “Ý cậu là có làm phẫu thuật tách ra được không chứ gì?"
Tôi gật đầu.
Noguchi hừ mũi rồi mím môi, mất một lúc mới cất tiếng, “Xét về mặt y học và kĩ thuật thì không phải là bất khả.”
“Nghĩa là...”
“Có thể mổ tách được.” Noguchi nói, giọng trầm lắng như mặt nước không gợn sóng. Cơn hưng phấn đã qua, gương mặt u uất. “Theo chỗ tôi biết thì vấn đề không nằm ở cơ thể, mà ở tinh thần của hai đứa...”
Điệu van màu đỏ
vang lên từ hộp nhạc trong phòng giải trí, báo hiệu 9 giờ tối, tức giờ nhập tiệc. Sao Genji chưa tới nhỉ? Tôi đang băn khoăn thì cánh cửa bên Tây mở ra. Không phải Genji mà là dì quản gia Tsuruko, “Cậu Chuya, mời cậu đi theo tôi.”
“À vâng”
Tôi vội dập điếu thuốc trong tay rồi đứng dậy. Noguchi lặng lẽ nhìn tôi.
“Genji đâu ạ?” Tôi hỏi.
Tsuruko đã quay gót ra hành lang, nghe vậy dừng bước, trả lời mà không ngoái đầu, “Cậu Genji đến trước, nhờ tôi dẫn đường cho cậu.”
“... Thế à.”
Trông Tsuruko rất ung dung, khác hẳn bộ dạng hoảng hốt lúc Hiruyama sống dở chết dở được khiêng vào nhà. Dì ưỡn ngực, lặng lẽ dẫn tôi băng qua hành lang. Tôi đã định thừa cơ dò hỏi đôi câu, nhưng chắc là không được rồi.
Chúng tôi đi đến hành lang phụ cánh Tây của ngôi nhà chữ U. Ở đây cũng đặt tượng đồng gần giống bức tôi nhìn thấy trước phòng nhạc, chỉ khác là mấy con rắn quấn quanh người phụ nữ ở trần. Từ đây rẽ phải, đi thẳng là đến cửa sau nơi tôi và Genji đã đi qua khi quay lại từ cổng Bắc. Tsuruko rẽ trái ở đây.
Bên phải hành lang có cửa đôi. Qua cửa là sảnh lớn giống Nhà Đông. Trong sảnh cũng có cầu thang dẫn lên tầng hai, trong cùng là một cửa đôi khác dẫn ra lối đi sang Nhà Tây.
Tsuruko qua sảnh, đến cánh cửa trong cùng rồi nói, “Mời cậu đi bên này.”
Tôi lặng lẽ theo sau, hình ảnh đen ngòm của Nhà Tây lúc ban ngày lại hiện lên trong đầu. Qua cửa là hành lang bằng đá, thiết kế giống đường hầm như lối đi giữa Nhà Đông và Nhà Bắc. Tường, trần và sàn đều lát đá đen.
Sắp đặt chân vào hành lang ấy, tôi buột miệng kêu “Ôi chao”. Hành lang trải mãi đi. Cửa đơn màu đen lờ mờ trong bóng tối đằng xa, nhưng khoảng cách dài hơn tôi tưởng nhiều. Cảm giác phải đến mấy chục mét. Hai nhà xa nhau đến thế ư? Hơi lạ! Tuy nhiên khi thực sự bước vào, tôi mới biết mình nhầm.
Hành lang này cố tình xây theo kiểu gây ảo giác. Đầu tiên, so với cửa đôi lúc nãy thì cửa đơn ở cuối hành lang nhỏ hơn một cỡ về cả chiều cao lẫn chiều rộng, nghĩa là được thiết kế nhỏ đi. Hơn nữa, hành lang có hình dạng trước rộng sau hẹp. Độ cao của tường, độ rộng của trần và sàn đều giảm dần. Cửa sổ lấy sáng trên tường càng đi càng nhỏ. Khoảng cách giữa các cửa sổ cũng thế. Tóm lại, thiết kế đặc biệt này gây ảo giác về khoảng cách, từ Nhà Bắc nhìn sang Nhà Tây sẽ có cảm giác xa nhau gấp nhiều lần so với thực tế. Thời kì Baroque (thế kỉ 17), rất nhiều kiến trúc sử dụng thủ pháp tạo ảo giác. Ngay cả ở trà thất Nhật Bản, kiến trúc sư cũng áp dụng cách này cho lối đi để làm người ta nhầm lẫn về không gian.
Hành lang bằng đá, chứng tỏ được làm cùng lúc xây lại Nhà Bắc. Có lẽ thủ pháp gây ảo giác cũng là đề xuất của kiến trúc sư Nakamura. Hay vốn dĩ lối đi giữa Nhà Bắc và Nhà Tây được thiết kế công phu như vậy, về sau chỉ tái hiện cảnh xưa. Phong cách kiến trúc này có ý nghĩa gì nhỉ? Nếu buộc phải giải thích, chắc là muốn làm nổi bật cảm giác tách biệt chăng?
Nhà Tây nằm phía trong, theo nghĩa nào đó là trung tâm và trái tim của dinh thự. Để nhấn mạnh sự tách biệt của trung tâm, nên mới đặt ra sự nhầm lẫn về thị giác...
Ám Hắc Quán vốn dĩ đã cách biệt với thế giới bình thường của con người. Không đơn thuần về vị trí địa lý, mà tất cả mọi thứ đều khác xa nhận thức xã hội: kiến trúc như quái thú, nội thất đen sì, con người sống ở đây thì...
Trong dinh thự, Nhà Tây (Nhà Dahlia) nằm cô lập phía trong. Phóng đại một chút thì, Nhà Tây là “dị giới” với những lý lẽ và luật lệ khác xa thế giới bình thường. Muốn bước vào dị giới, phải trải qua nghi thức là đi qua đường hầm gây ảo giác khoảng cách.
Theo sau Tsuruko, tôi vừa suy nghĩ miên man vừa đi trong không gian hẹp dần. Cửa đơn cuối hành lang cũng thấp và hẹp hơn cửa thông thường. Đi qua đây, cửa đôi màu đen với kích thước bình thường hiện ra trước mắt tôi, khung cửa gắn lanh tô này hình như là lối vào Nhà Tây khi xưa. Qua cửa là sảnh lớn có cầu thang, trần thông với tầng hai. Nơi này yên tĩnh hơn Nhà Bắc, thoang thoảng mùi bụi và đồ gỗ cũ. Ánh sáng yếu hơn, đâu đâu cũng tối tăm, chỗ đậm chỗ nhạt.
Nơi này tối là do hệ thống chiếu sáng. Nguồn sáng ở đây không phải đèn điện, mà là nến... Giá trên tường cắm mấy ngọn nến đang cháy. Không phải phòng này không mắc điện, trần nhà có treo đèn chùm. Có điều họ không muốn bật đèn, mà chiếu sáng bằng nến. Chắc bởi đêm nay là Đêm Dahlia.
“Cậu đi cẩn thận.” Tsuruko bước tới cầu thang giữa sảnh. “Tiệc tổ chức trên tầng hai.”
Theo chân Tsuruko, tôi lên cầu thang rộng trải thảm đen. Đi đến chiếu nghỉ, cầu thang rẽ sang trái và dẫn thẳng lên hành lang tầng hai. Hành lang cũng chiếu sáng bằng nến. Hễ nhìn thấy bóng mình lay động dưới ánh nến là tôi sinh ra sợ hãi. Tiếng sấm ì ầm vang lên, tôi không nóng lắm nhưng lòng bàn tay toát đầy mồ hôi.
“Ở bên này.” Tsuruko dừng chân, mở một cánh cửa trên hành lang, ngoảnh lại bảo tôi. “Mời vào.”
Y lời, tôi từ từ đi vào. Phòng tối tăm, không có một ai.
“Đây là phòng chờ. Tiệc tổ chức bên kia...” Dứt lời, Tsuruko chỉ về cửa đổi bên trái và đi đến, vặn nhẹ tay nắm cửa, thông báo, “Tôi dẫn cậu Chuya đến rồi ạ.”
“Mời cậu ấy vào.” Tiếng đáp lập tức vang lên. Giọng Ryushiro thì phải?
Tsuruko lùi lại, chìa tay, “Mời cậu.”
“Cảm ơn dì.” Tôi bước tới cửa phòng tiệc. Lúc sắp chạm bàn tay mướt mồ hôi vào tay nắm, tôi bất giác quay đầu nhìn Tsuruko. Dì dừng chân bên cánh cửa giáp hành lang, lạnh lùng nhìn tôi.
Sao vậy? Tôi thắc mắc. Gương mặt dì nghiêm nghị không có chút cảm xúc nào, mắt nhìn chằm chằm vào tay tôi. Ánh nhìn cực kì sắc lạnh, khiến người ta sởn gai ốc. Như thể vô cùng căm hận... Thế là sao? Ghét tôi à? Ngưỡng mộ? Ghen tị... Hay là...
“Tôi xin phép.” Tsuruko tránh ánh mắt tôi, lạnh nhạt nói, “Hi vọng cậu sẽ có được sự chúc phúc của Mẹ Dahlia.” Dứt lời, dì biến mất trong bóng tối hành lang.
Tôi vô thức thở phào, đặt tay vào tay nắm. Sấm lại rền vang như khuấy đảo lo lắng tích tụ trong lòng.
Đặt chân vào căn phòng chỉ có ánh nến lập lòe, tôi lập tức trông thấy một phụ nữ xinh đẹp. Mái tóc đen như mọc ra từ bóng đêm, buông xõa xuống ngực, đôi mắt sắc sảo màu nâu sẫm, làn da trắng xanh ốm yếu, sống mũi cao thẳng, cằm thon nhọn. Rõ ràng không phải người Nhật. Đôi môi với đường nét hoàn hảo tô son đỏ tươi đang nở nụ cười quyến rũ. A, đây là...
Tôi ngẩng nhìn bức chân dung lớn trên tường.
Dahlia nhỉ? Người phụ nữ được chủ nhân Ám Hắc Quán đời đâu đưa về từ Ý và kết hôn, là cụ ngoại của mấy anh em Genji, Midori, Mio và Kiyoshi. Cặp song sinh đúng là hơi giống mỹ nhân này. Dahlia mặc váy dài màu đen, ngồi trên ghế bành, hai tay đặt trên đầu gối. Vẻ mặt như thay đổi trong ánh nến. Đôi mắt nâu có ma lực nhìn thấu người đối diện, đôi môi đỏ tươi máy động như sắp nói ra mọi bí mật của thế giới này...
“Xin chào.”
Giọng nói trầm thấp như phát ra từ lòng đất của Ryushiro kéo tôi khỏi cơn mê ảo. Tôi nhìn quanh phòng. Có khói trắng mỏng, chắc đang thắp hương, mùi hương chua chua, ngọt ngọt, còn đăng đẳng nữa. Người nhà Urado ngồi quanh bàn ăn đặt giữa phòng. Nhìn từ chỗ tôi, Ryushiro ngồi trong cùng, bên phải bàn. Ông vẫn mặc bộ đồ đen giống lúc đến Nhà Nam, chỉ đổi sang cà vạt đỏ thẫm.
“Xin mời. Cậu ngồi bên này.”
Chủ nhân dinh thự nói rồi chỉ tay về phía đối diện. Đó là chỗ ngồi bên phải Genji. Anh cũng thay vest đen và đeo cà vạt đỏ thẫm giống cha. Từ hồi quen nhau tới giờ, đây là lần đầu tôi thấy anh đeo cà vạt.
“Chuya!” Genji vẫy tay với tôi.
Lòng vẫn lo lắng, tôi đóng cửa, cúi đầu chào Ryushiro rồi đi tới vị trí được chỉ định, bước chân chập chững. Khi tôi ngồi xuống chiếc ghế màu đen có lưng tựa cao. Genji nói nhỏ, “Xin lỗi, ban nãy tôi không đi được nên mới nhờ dì Tsuruko dẫn cậu qua đây.”
“Không sao đâu.” Tôi cúi mặt lắc đầu, không khỏi nhớ lại ánh mắt Tsuruko. Đoạn tôi ngẩng nhìn Genji, có thể do ánh nến mà gương mặt vốn gầy gò nhợt nhạt của anh lại càng xanh xao, cứ như.
Midori Mio ngồi bên kia Genji, đã thay kimono sang váy đầm màu đỏ tươi. Cạnh họ là một phụ nữ ngồi bất động. Mẹ của hai chị em ư? Trong số những người ngồi đây, chỉ có cô là tôi mới gặp lần đầu. Cô mặc váy dài màu đen giống người phụ nữ trong tranh, thân hình nhỏ nhắn, mặt khuất dưới làn tóc. Từ chỗ mình tôi không nhìn rõ diện mạo, chỉ thấy nước da rất trắng, khuôn mặt thanh tú. Ánh mắt cô nhìn vô định vào khoảng không, như không nhận ra sự có mặt của tôi, xem chừng hoàn toàn lơ đãng.
“Đêm nay, 24/9, chúng ta lại có mặt tại đây.” Ryushiro chậm rãi cất lời. “Để cùng tham dự Đêm Dahlia. Chính vào tối nay, Mẹ Dahlia của chúng ta được sinh ra ở một đất nước xa xôi. Ba mươi năm trước, cũng vào tối nay, Mẹ để lại di nguyện rồi lìa đời...”
Trên bàn đặt hai giá nến màu đen cắm nến đỏ chói mắt. Tường xung quanh cũng cắm nến đỏ. Tôi nhận ra, mùi mình ngửi thấy là mùi nến, có thể nến chứa hương liệu nên...
Ngồi đối diện Genji là hai vợ chồng Mowa và Seijun, giữa họ là Kiyoshi. Lúc gặp nhau trên hành lang Nhà Nam, Kiyoshi vẫn đội mũ bê rê, nhưng giờ thằng bé đã bỏ mũ, để lộ cái đầu trọc lốc. Vợ chồng con cái họ cũng thay đồ đen như những người khác. Có tổng cộng tám người... Đây là tất cả thành viên nhà Urado đang sống trong Ám Hắc Quán ư?
Trong lúc nghe Ryushiro thì thầm như đọc thần chú, tôi hơi ngẩng đầu ngó sang trái. Mỹ nhân trong tranh đang nhìn về phía này với ánh mắt sắc lẹm, môi nở nụ cười quyến rũ. Tôi bỗng cảm thấy tuy Ryushiro là người chủ trì bữa tiệc, nhưng bức tranh kia, nói chính xác là người phụ nữ trong tranh, mới đứng trên tất cả.
“Chắc mọi người cũng biết...” Ryushiro nhìn quanh một vòng rồi rất nhanh, đôi mắt đục ngầu chốt lại ở tôi. “Tối nay chúng ta có khách.”
Tôi vội ngồi thẳng dậy, không biết phản ứng thế nào nên chỉ khẽ gật đầu. Chủ nhân dinh thự chìa tay phải về phía tôi, “Giới thiệu với mọi người lần nữa...” Và nói tên tôi.
“Chuya nhận được lời mời tối nay vì Genji nhiều lần yêu cầu. Về nguyên tắc, chỉ người họ Urado, hậu duệ cùng huyết thống với Genyo Dahlia, và vợ hoặc chồng họ mới đủ tư cách dự tiệc Đêm Dahlia. Nhưng trước đây tôi đã nghĩ đôi khi nên có ngoại lệ. Tôi cũng từng muốn tạo cơ hội như thế, nên là...” Ryushiro đưa mắt nhìn Genji ngồi cạnh tôi. “Khi Genji đưa ra đề nghị, tôi quyết định phá lệ.” Ông lướt mắt xung quanh lần nữa. “Có ai phản đối không?” Ông hỏi bằng giọng ngăn cấm mọi kháng nghị.
Quả nhiên, không ai trả lời. Tôi lại ngẩng đầu nhìn bức chân dung trên tường, có cảm giác đôi môi đỏ tươi kia mấp máy. Không biết cụ “Đồng ý” hay “Phản đối”. Dĩ nhiên cụ không lên tiếng được.
Mùi hương chua ngọt pha vị đắng gây khó chịu vẫn tỏa ra trong bóng tối, mỗi lúc một nồng, như xộc vào lỗ mũi, xuống khí quản, vào phổi... à không, lên thẳng não tôi. Ánh nến lay động cùng thứ mùi này làm tôi mơ màng.
A, đây là... Sâu trong cõi lòng ngập tràn lo lắng, bỗng nhiên nảy ra một câu hỏi, mà xét kĩ cũng hợp lý trong tình huống này.
Rốt cuộc đây là đâu? Mình làm gì ở đây? Chỗ này sắp xảy ra chuyện gì? Mình sẽ ra sao?
Sao lại nghĩ như vậy?
“Được rồi.” Ryushiro lại cất tiếng. “Bữa tiệc chính thức bắt đầu!”
Tiệc tùng đáng lẽ phải vui vẻ, thế mà ở đây cực kì nặng nề, trịnh trọng như một nghi lễ. Khi Ryushiro tuyên bố khai tiệc, không ai nói năng gì. Người nhìn nến trên giá. Người cúi đầu ngó bàn. Người ngắm chân dung trên tường. Còn vài người theo dõi nhất cử nhất động của chủ nhân dinh thự... tôi là một trong số đó.
Sự im lặng này kéo dài bao lâu? Lâu như vài phút, lại nhanh như mấy giây. Tóm lại khi ấy, tôi mất hết cảm giác chính xác về thời gian.
Đến một lúc, Ryushiro bình tĩnh giơ hai tay lên, vỗ hai cái như ám hiệu. Cửa đôi thông với phòng nghỉ mở ra, một người lặng lẽ tiến vào. Tôi suýt buột miệng thốt lên.
Người này, chính là cái bóng tôi gặp ngoài sân ban ngày, với bộ đồ đen thùng thình có mũ trùm giống tu sĩ phương Tây.
“Onimaru đấy hả?” Tôi ghé vào tai Genji, hỏi nhỏ.
“Ừ.” Genji khẽ gật đầu, thì thầm. “Công việc chính của Onimaru là trông coi lồng lạc lối. Về nguyên tắc thì cấm người làm vào tiệc Đêm Dahlia, nhưng Onimaru là ngoại lệ.”
Onimaru... gần chín mươi tuổi, làm việc trong dinh thự suốt từ thời cụ Genyo. Dù đã biết rõ lai lịch, nhưng Onimaru trong mắt tôi vẫn giống cái bóng biết đi, có lẽ là tại cách ăn mặc. Cùng tiếng quần áo sột soạt, cụ tiến vào phòng, vẫn đội mũ sùm sụp. Chiếc áo rộng màu đen che khuất hết nên ngoài việc Onimaru không cao và hơi gù ra, tôi không tài nào nhìn rõ hình dáng, cũng không trông thấy gương mặt dưới vành mũ trùm. Tôi chợt nghĩ... Onimaru là nam hay nữ? Genji chưa từng đề cập đến giới tính, còn bảo không biết tên đầy đủ của người làm công này...
Onimaru tiến tới, hòa mình vào bóng tối phía sau Ryushiro. Chẳng mấy chốc, cụ quay lại, tay bê chiếc bình lớn màu đỏ có hình dáng kì lạ. Ryushiro nhấc cái ly úp trên bàn đặt lên lót ly màu đen. Onimaru cầm quai bình bằng một tay, tay còn lại đỡ đáy bình, bắt đầu rót chất lỏng màu đỏ tươi như màu bình vào ly của chủ nhân dinh thự. Có lẽ là vang đỏ.
Sau Ryushiro, Onimaru rót rượu cho Mii, Midori, Mio, Genji, rồi đến lượt tôi.
Onimaru tới gần, mặt vẫn khuất dưới vành mũ nên trừ nếp nhăn ở mép, tôi không trông rõ diện mạo và biểu cảm. Song không tiện săm soi người ta, tôi đành ngồi dõi nhìn ly rượu của mình từ từ đầy lên, người cứng đờ trên ghế. Bình rượu làm bằng thủy tinh mờ màu đỏ, hình dáng hơi lạ. Nhìn từ xa có cảm giác nó không cân đối, bề mặt gồ ghề. Giờ nhìn gần hơn, cuối cùng tôi nhận ra... Nó giống tim người.
Ngạc nhiên thật đấy, nhưng có thể hiểu được. Trong Cơ Đốc giáo, rượu vang là máu Thánh. Vì vậy, dùng chiếc bình hình trái tim để đựng rượu cũng không có gì đáng kinh ngạc.
Chẳng mấy chốc, các ly đã được rót đầy. Onimaru đặt bình xuống bàn, lại lui vào bóng tối sau lưng Ryushiro. Nhiệm vụ của cụ đêm nay là tiếp rượu cho những người dự tiệc ư?
“Nào!” Ryushiro giơ cao ly rượu, “Cạn ly trước, sau đó kính rượu...”
Mọi người nâng ly. Mii không động đậy, vẫn nhìn chằm chằm vào khoảng không. Midori bèn giục mẹ rồi cũng nâng ly. Tôi làm theo họ.
“24/9 là sinh nhật Mẹ Dahlia của chúng ta, hãy chúc mừng Mẹ. Ngày này cũng là ngày giỗ Mẹ Dahlia của chúng ta, hãy tiếc thương Mẹ.”
Nghe cứ như thần chú.
“Tuân theo nguyện vọng tha thiết của Dahlia, tin tưởng di ngôn của Mẹ cho mãi về sau. Tránh xa ánh mặt trời, ẩn mình trong bóng tối của thế gian... Chúng ta sẽ tồn tại mãi mãi.” Ryushiro giơ ly cao hơn, hét lớn, “Mong Dahlia chúc phúc cho chúng ta!”
Những người khác cũng giơ ly thật cao, đồng thanh hét lớn, “Mong Dahlia chúc phúc cho chúng ta!” Giọng họ sang sảng, vang vọng trong căn phòng tăm tối.
“Mong Dahlia chúc phúc cho chúng ta!” Ryushiro lặp lại.
“Mong Dahlia chúc phúc cho chúng ta!” Mọi người lặp lại theo.
Thế này là thế nào? Cánh tay đang cầm ly của tôi cứng ngắc. Nỗi lo lắng và nghi ngờ cứ lan rộng trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Bữa tiệc này là sao? Họ đang tiến hành nghi lễ gì đây? Tuy nhiên bầu không khí hiện tại không cho phép tôi suy nghĩ kĩ càng.
Mọi người uống cạn ly rượu. Midori Mio mới mười mấy tuổi, rồi cả Kiyoshi chín tuổi đều không phải ngoại lệ.
“Chuya, mau uống đi.” Genji ra lệnh. “Uống hết đi!”
Tôi băn khoăn đưa ly lên miệng. Mùi rượu vang rất thơm, tôi làm một hơi cạn sạch.
“Tốt quá!” Genji lẩm bẩm.
Loại vang đỏ này hơi ngọt, khá ngon. Chỉ hiềm vị là lạ, không giống rượu vang tôi từng uống, để lại đầu lưỡi cảm giác dinh dính, sàn sạn, tanh tanh... Chất cồn được dạ dày nhanh chóng hấp thụ, theo mạch máu chạy khắp cơ thể, tim tôi đập nhanh hơn. Mùi nến càng thêm nồng nặc, xộc vào mũi tôi rồi đi thẳng lên não. Mặt tôi đỏ bừng, ngồi yên một chỗ cũng thấy choáng váng.
Onimaru lại tiến ra từ bóng tối, rót một lượt rượu nữa vào ly rỗng của mọi người. Chẳng mấy chốc, ly của tôi cũng đầy.
Genji tươi cười nhìn tôi, “Cạn ly nào Chuya!” Anh cụng nhẹ ly mình vào ly tôi. “Mong Dahlia chúc phúc cho chúng ta.”
Trên bàn ăn dài bày vài chiếc đĩa lớn màu đen, bên trên là rất nhiều lát bánh mì mỏng. Uống hết ly thứ hai, Genji nhổm dậy, với tay nhặt mấy lát bánh mì ra đĩa con, đưa cho tôi rồi bảo, “Ăn đi.”
“À... cảm ơn anh.”
Tôi nhìn quanh, thấy ai nấy đều lấy bánh mì ở đĩa lớn, phết một thứ giống bơ rồi ăn luôn. Trên khăn lót đĩa trước mặt mỗi người đều có một chiếc hộp nắp đen. Vài người đang mở nắp, lấy thứ bên trong ra. Tôi nhận chiếc đĩa con Genji đưa. Đây là bánh mì mềm kiểu Pháp, trông không có gì đặc biệt. Có lẽ là mới ra lò ở ngay trong dinh thự.
“Phết cái này lên ăn ngon hơn đấy.” Genji đưa cho tôi hũ nhỏ màu đen đã mở sẵn.
Tôi dùng cái thìa đi kèm xúc một ít... thì thấy là một chất đặc quánh màu nâu đậm, gần giống pa tê. Tôi ngửi thử nhưng mùi nến trong phòng làm tôi mất hết khứu giác. Trong chất này chắc có bơ nhân tạo hoặc bơ tự nhiên gì thôi. Tôi lấy bánh mì, phết bơ, đưa lên miệng...
Cảm thấy không khí có phần khác thường, tôi dừng lại, ngẩng đầu nhìn. Bầu không khí khác thường đó là tại “ánh mắt”. Trừ Mii ngơ ngẩn, người nhà Urado đang ngồi quanh bàn đều đổ dồn mắt về phía này. Ryushiro, Midori, Mio, Genji, Seijun, Mowa, cả Kiyoshi nữa, đều chằm chằm ngó tay tôi miệng tôi.
Sao thế... Dù sờ sợ, tôi vẫn tỏ ra bình tĩnh, đưa bánh mì vào miệng. Chất quánh nâu rất mặn, tanh tanh, chẳng ngon chút nào.
Tôi nhìn Genji, “Cái gì đây.”
“Ăn không quen à?” Genji nghiêm túc hỏi, “Không ngon hå?"
“Không hẳn. Còn hộp này là...”
“Xúp, ăn đi Chuya!”
“Anh ăn đi ạ.” Mio thò đầu ra từ bên cạnh Genji, cười híp mắt khuyên tôi.
Midori cũng ló đầu sang, “Anh ăn đi ạ.”
Rồi cả hai cùng cười.
“Mẹ cũng ăn đi.” Midori nói với người mẹ đang đờ đẫn bên cạnh, nhấc nắp hộp ra hộ mẹ, giúp mẹ cầm thìa và giục, “Mau ăn nào!”
Tôi vô tình liếc đến Kiyoshi. Trên gương mặt nhăn nheo là nỗi cô đơn và buồn bã. Khi mắt chúng tôi giao nhau, thằng bé giật mình cụp mắt xuống.
“Con có khỏe không Kiyoshi?” Mowa đặt tay lên vai cậu con trông già hơn mình. “Con có khỏe không Kiyoshi? Con vẫn ổn chứ?”
Kiyoshi yếu ớt gật đầu, chậm rãi cầm thìa rồi mở nắp hộp màu đen ra.
“Con vẫn ổn chứ? Có ăn được không? Kiyoshi à, con có ăn được không...”
Tôi nhìn chiếc hộp đặt trước mặt mình. Genji vẫn đang giục tôi, “Ăn xúp đi.” Thứ đựng trong hộp này là xúp ư, xúp gì mới được? Tôi bình tĩnh nhấc nắp ra. Mùi cay hắc hòa hơi nóng ập vào mặt, tôi cầm chiếc thìa to đặt trên tấm lót, từ từ khuấy lên. Tôi chưa thấy loại xúp này bao giờ. Màu đỏ thẫm, sền sệt, nhão nhoẹt. Gọi là món hầm quá lửa thì đúng hơn. Hiềm nỗi lúc này không tiện do dự. Tuy không biết đây là xúp gì, nhưng chắc chắn không có độc, ăn vào chẳng chết đâu mà sợ... Tôi tự an ủi, múc một thìa xúp định ăn. Bầu không khí lại có phần khác thường...
Tôi dừng thìa, ngẩng đầu lên. Trừ cô Mii, ai nấy lại dán mắt vào tôi, y như ban nãy. Thế này... là sao? Tôi đâm sợ, trả thìa về hộp, bề mặt món xúp hơi lay động. Tôi liếc Genji, chỉ thấy anh cau rúm mày, trừng trừng nhìn tôi. Mọi người xôn xao. Rồi một giọng trầm trầm vang lên làm rung chuyển cả phòng.
“Ăn ngay cho tôi!” Chính là giọng Ryushiro. “Chần chừ cái gì, ăn ngay!” Đôi mắt trắng đục xoáy vào mặt tôi. Thái độ, giọng nói đều rất uy nghiêm, làm tôi không thể kháng cự.
“Ăn chỗ xúp đó đi.” Không đổi giọng, Ryushiro ra lệnh lần nữa. “Trong Đêm Dahlia ở Nhà Dahlia, dưới sự che chở và cho phép của Dahlia, cùng sự chúc phúc chân thành của tất cả mọi người...”
Tôi ngẩng đầu nhìn bức chân dung trên tường. “Dưới sự che chở của Dahlia” nghĩa là “trước mặt bức chân dung này” sao?
“Ăn ngay lập tức!” Ryushiro lặp lại.
“Ăn đi!” Mọi người phụ họa. “Ăn đi! Nuốt chỗ thịt đó đi!”
Thịt? Có một chữ “thịt”. Sao mà...
“Ăn đi! Ăn đi!”
Tôi có cảm giác mình mà không ăn thì họ sẽ đốc thúc mãi. Dù muốn dù không, tôi chỉ còn cách làm theo. Tôi lại cầm thìa, nhắm tịt mắt, xúc thứ xúp nâu, đặc sệt, không rõ nấu bằng gì lên. Trong xúp bỏ rất nhiều gia vị cay, nhưng cũng giống chất quánh đặc phết lên bánh mì khi nãy, nó chẳng ngon chút nào, cực kì mặn, hơi tanh nữa. Ăn sàn sạn như giấy vụn ngâm nước muối.
Thực sự không thể chịu nổi, tôi nốc hết ly rượu vang cho trôi xúp. Cùng lúc, tôi sợ hãi để ý phản ứng của mọi người, ánh mắt họ vẫn dán lấy tay và miệng tôi.
“Ăn đi!” Ryushiro lặp lại. Vài người phụ họa.
Xem chừng tôi chưa ăn hết thì họ chưa thôi giục. Tôi đầu hàng, lại chọc thìa vào hộp.
Rượu vang, bánh mì và xúp. Bữa tiệc có mỗi ba món ăn. Tính thêm thứ sền sệt phết lên bánh mì là bốn. Còn lại là nước trắng. Ban đầu tôi tưởng các món khác sẽ dọn ra sau. Nhưng thời gian trôi đi, không thấy dấu hiệu gì của món mới. Onimaru phụ trách rót rượu vẫn đứng sâu trong phòng, hễ có ly rỗng, cụ lại bê bình tim người tới rót đầy. Kiyoshi còn nhỏ, uống hết ly thứ hai được đổi sang uống nước.
Cuối cùng tôi cũng ăn hết xúp và mấy miếng bánh mì, làm thêm vài ly rượu vang. Lâu lắm rồi tôi không uống nhiều rượu... hay nói đúng hơn, đây là lần đầu tôi uống nhiều rượu đến thế. Từ khi lên đại học, tôi đã tham gia vài buổi tụ tập của sinh viên, nhưng chưa bao giờ uống lia lịa như bây giờ. Cùng lắm làm vài cốc bia. Thể chất tôi không uống nhiều được.
Hiềm nỗi tình hình tối nay khác hẳn. Có lẽ tôi đã bị trấn áp vì bầu không khí vô cùng khác thường này. Dinh thự kì lạ hẻo lánh, dòng họ lập dị, bữa tiệc tối đặc biệt như một nghi lễ đen. Ánh nến quái đản lập lòe cùng cái mùi lạ lùng nồng nặc, những món ăn khó hiểu, lời nói và hành động bí ẩn của chủ nhân và mọi người trong nhà... Genji cũng vậy. Hôm qua, sau một loạt sự việc, tôi dần dần nhận ra một bộ mặt khác của người bạn vong niên, bộ mặt tôi chưa bao giờ bắt gặp kể từ khi quen biết, nhưng lại đang lộ rõ trong bữa tiệc kì cục này. Tôi vẫn nhớ, lúc tôi đắn đo việc ăn xúp, anh tỏ ra bất mãn bực mình chưa từng thấy. Khi Ryushiro ra lệnh cho tôi “Ăn đi”, Genji cũng lặp lại giống những người khác, giọng như bị ma ám.
Isao từng nhận xét,
Những người ở đây đều bị thứ đó nguyền rủa. Kể cả Genji.
Vì sao Genji muốn tôi dự tiệc? Lúc mào đầu, Ryushiro nói,
đôi khi cũng nên có ngoại lệ.
Vì sao họ lại chọn tôi làm ngoại lệ chứ... Uống quá nhiều rượu, tôi mất thăng bằng vì chất cồn, đầu óc mỗi lúc một mụ mẫm. Tôi đánh mất khả năng suy nghĩ, nhưng lại nhạy cảm với âm thanh hơn. Hình như khắp phòng có tiếng xì xào. Cảnh vật trước mắt chao đảo, ngồi trên ghế mà như dập dềnh trên sóng.
Người nhà Urado cắm cúi ăn bánh mì, xúp và uống rượu. Midori Mio chăm sóc cho người mẹ ngơ ngẩn. Mowa tất bật với Kiyoshi. Seijun thi thoảng cúi đầu lẩm bẩm. Ryushiro chốc chốc lại khoanh tay, chậm rãi nhìn mọi người bằng đôi mắt trắng đục. Từ bức chân dung trên tường, Dahlia thời trẻ nở nụ cười quyến rũ, chăm chú nhìn họ.
“Chuya, sao thế? Không uống nữa hả?” Genji hỏi. Anh đã uống rất nhiều rượu, mắt đỏ ngầu trông phát sợ.
“Vâng, tôi...” Tôi lấy tay che ly, yếu ớt lắc đầu. Mới khẽ cử động đã thấy trời đất quay cuồng. “Tôi bảo... Genji.”
“Gì vậy?”
“Phòng tắm ở đâu nhỉ?”
“Sao? Cậu thấy khó chịu à?”
“Không phải...” Tôi say lắm rồi, nhưng kì lạ thay, không buồn nôn hay nóng trong. “Muốn đi vệ sinh thôi.”
“Thế hả? Thế thì tốt.” Genji dụi mạnh đôi mắt đỏ ngầu. “Phòng tắm ở tầng dưới. Tôi dẫn cậu đi...”
“Để tôi.” Một giọng nói vang lên sau lưng, ngắt lời Genji. Đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy giọng nói này. Ồm ồm khàn khàn, không rõ giới tính. Onimaru đã tới gần tự bao giờ. “Mời cậu đi theo tôi.” Nói rồi, người làm công ăn vận như tu sĩ ấy đi về phía cánh cửa đằng sau tôi. Cửa không dẫn sang phòng chờ ban nãy mà dẫn thẳng ra hành lang.
Thấy Genji đánh mắt, tôi hoang mang đứng dậy. Khả năng giữ thăng bằng và đi lại đã cực kì trì trệ. Tôi loạng choạng ra khỏi cửa, suýt ngã, mãi mới đứng thẳng được để di chuyển theo cái bóng đang đi như lướt trên hành lang tối om. Chúng tôi rẽ trái ở sảnh lớn rồi đi thẳng. Đến cuối hành lang thì rẽ phải, trong cùng có cầu thang phụ dẫn xuống tầng một. Onimaru quay ngoắt đầu nhìn tôi, đoạn lặng lẽ xuống cầu thang. Tôi lảo đảo theo sau, phải tì cả người vào tay vịn cầu thang.
Bên chân cầu thang là phòng tắm.
“Đây này.” Onimaru thầm thì, chỉ cửa phòng tắm, bàn tay khô khốc lộ ra ngoài ống tay áo rộng thùng thình, nói là da bọc xương cũng chẳng quá lời. Chỉ xét hình dạng bàn tay và dáng đi thì vẫn khó mà xác định giới tính của cụ. Tôi bỗng cảm thấy, đây là một cá thể không làm rõ giới tính cũng chẳng sao. Đi vệ sinh xong, tôi rửa tay. Bồn rửa không có gương, không rõ bộ dạng thế nào nữa. Tôi không thấy nóng mặt hay buồn nôn, có khi mặt nhợt nhạt, mắt đỏ ngầu giống Genji cũng nên.
Ra khỏi phòng tắm, nhờ sự trợ giúp của ánh nến le lói, tôi quay lại hành lang một mình... Đến chỗ ngoặt thì rẽ trái, đi thẳng rồi rẽ phải, đến cánh cửa đen thứ hai. Tôi vừa hoang mang hình dung cảnh tượng trong phòng vừa cầm vào tay nắm. Không vặn được. Tôi đẩy cửa, nó cũng không suy suyển.
Cửa khóa rồi ư? Tôi bối rối nghĩ. Thế là thế nào? Ban nãy tôi và Onimaru ra ngoài, có người khóa cửa à? Biết rõ là tôi sẽ quay lại ngay, sao phải làm như vậy?
“Genji!” Tôi hét to, vừa hét vừa gõ mạnh vào cánh cửa đen ấy. Cùng lúc, sấm rền vang bên ngoài. “Gì hả? Mở cửa ra đi.”
Một bàn tay đột ngột thò ra nắm chặt cổ tay tôi. Ống tay áo đen rộng thùng thình. Bàn tay trắng bệch xương xẩu... Onimaru?
“Cậu dừng tay cho.” Giọng khàn khàn vang vọng trong bóng tối. “Không được vào đây.”
Tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì sất. “Ơ? Không mở được cửa, nên..”
“Không được vào đây.” Onimaru nhấn mạnh lần nữa. “Nhưng…”
“Không được đến gần phòng này.”
“Chẳng phải đây là...” Tôi vẫn ngơ ngác, lại cầm lấy tay nắm.
Cái miệng nhăn nheo ẩn dưới vành mũ trùm đen mấp máy. “Cậu nhầm tầng rồi.” Cụ nghiêm khắc bảo tôi, “Phòng tiệc ở tầng hai”
“Hả?” Tuy đã say, tôi vẫn hiểu ra là mình vừa hành động ngớ ngẩn, ấy là chưa hề lên tầng hai. Ra khỏi phòng tắm, tôi chỉ đi ngược lại hành lang. Nói vậy thì phòng này ở ngay dưới phòng tiệc. Nghĩ tới đây tôi mới nhận ra, cánh cửa trước mặt là cửa đơn, còn cửa phòng tiệc, theo tôi nhớ là cửa đôi.
“Đi bên này cơ. Nhanh lên, mời cậu.”
“Dạ... Tôi xin lỗi.”
Onimaru quay gót đi trên hành lang, tôi chếnh choáng theo sau.
“Căn phòng lúc nãy dùng để làm gì vậy?” Tôi hỏi. “Sao không được lại gần? Lẽ nào có gì…”
“Cậu hỏi tôi à?” Onimaru đột ngột dừng chân. Tôi ậm ừ. Vẫn quay lưng về phía tôi, Onimaru đáp, “Cửa khóa mười mấy năm rồi, không cho ai vào cả.”
Khóa mười mấy năm rồi? Phòng kín ư? Tôi bèn buột miệng, “Sao lại không cho ai vào?”
“Cậu hỏi tôi à?”
“À… vâng.”
“Tôi buộc phải trả lời sao?”
“Không... À, vâng.” Dù đã say bí tỉ, đầu óc mụ mẫm, tôi vẫn không kiềm chế được tính tò mò cố hữu. “Phòng gì đấy?”
“Đó từng là phòng đọc sách của cụ Genyo.”
“Cụ Genyo. Có chuyện gì xảy ra à?”
“Tôi buộc phải trả lời sao?”
“... Vâng”
“Thế thì..” Người làm ăn vận như tu sĩ vẫn quay lưng về phía tôi, lạnh nhạt đáp, “Trong phòng đó xảy ra một chuyện kinh hoàng. Vào đêm 24/9 mười tám năm trước... Đêm Dahlia ấy...”
“Chuyện kinh hoàng...”
“Cụ Genyo đã bị sát hại dã man trong căn phòng đó. Cùng đêm, ở một phòng khác, ông Takuzo cũng tự sát. Từ ấy, căn phòng bị khóa và trở thành cấm địa.”
Tôi không nhớ rõ bữa tiệc đêm hôm ấy kết thúc thế nào. Khi tôi đi vệ sinh về, phòng tiệc vẫn ngập tràn cái mùi kì lạ cùng ánh nến. Dưới sự theo dõi của bức chân dung trên tường, người nhà Urado lặng lẽ ăn xúp, bánh mì và uống rượu vang. Tôi bị chuốc thêm vài ly nữa. Khẽ cử động là trời đất chao đảo. Những tiếng rì rầm lớn dần bên tai, nhiều giọng nói nhầy nhụa lẫn lộn trong cái đầu hỗn loạn của tôi, tự hỏi tự đáp một cách vô nghĩa, lặp đi lặp lại như kẻ tự kỉ. Tôi cảm thấy người bạn tốt bên cạnh trở nên cực kì đáng sợ. Giọng nói của cặp song sinh đang bận chăm sóc người mẹ vẫn-sống-với-nỗi-sợ như đan xen giai điệu Gnossiennes rệu rã. Tôi có cảm giác nụ cười mim của họ đầy vẻ mê hoặc. Chủ nhân dinh thự ngồi bên kia bàn ăn bỗng biến thành quái vật đầu bò nguy hiểm. Nhìn cậu bé già nua nói chuyện với mẹ nó, tôi muốn òa khóc. Cha nó chợt hỏi tôi, “Cậu đọc truyện của Miyagaki Yotaro chưa?” Mê trinh thám thì tất nhiên phải biết Miyagaki Yotaro, chẳng qua câu hỏi quá đột đột nên tôi hơi ngạc nhiên. Chắc Genji kể với Seijun là tôi thích đọc tiểu thuyết trinh thám.
“Tôi có cuốn
Ngôi nhà của thi sĩ trầm tư
bản chữ kí đấy. Nếu cậu muốn, tôi sẽ mang cho xem.”
“Cháu muốn xem ạ.”
Ngôi nhà của thi sĩ trầm tư
là tiểu thuyết đầu tay nổi tiếng của Miyagaki Yotaro. Hiện đã tuyệt bản, khó mà mua được. Tôi vẫn muốn đọc từ lâu.
“Thế mai tôi cho mượn.” Seijun nói. “À, cũng không cần phải mai. Sau này còn nhiều cơ hội.”
Tan tiệc. Tôi say bí tỉ, gần như không phân biệt được phương hướng, phải để Genji dìu đi. Tôi nhớ là Genji có hỏi mấy lần liền, “Cậu vẫn khỏe chứ, Chuya?” Nhưng lại không nhớ nổi mình trả lời ra sao. Hình như tôi hỏi lè nhè rất nhiều,
không rõ hỏi gì hay hỏi thế nào, tất nhiên cũng quên luôn câu trả lời của Genji.
Đêm dần khuya, gió mưa sấm chớp và cả bóng tối bủa vây chúng tôi. Onimaru đã biến mất tự lúc nào. Tôi có gặp Tsuruko thì phải. Gặp cả thanh niên tên Enami đang lảo đảo đi ngược chiều chúng tôi trên hành lang. Anh ta rơi từ trên tháp xuống... Sao lại rơi? Thắc mắc ấy bỗng dưng xuất hiện. Tôi nhớ Genji hỏi anh ta làm gì ở đây, nhưng Enami chẳng nói một lời, chỉ nhìn quanh quất với vẻ ngơ ngác.
Chắc chắn Genji đã đưa tôi về tận tầng hai Nhà Đông. Tôi không thay quần áo, gục luôn xuống giường. Tự dưng tôi nhớ tới bác gác cổng lưng gù bị thương nặng. Trong căn phòng ở Nhà Nam, bác ta đang chịu đựng thế nào? Chịu đựng... Chịu đựng cho đến chết. Kết cục của sự chịu đựng chính là cái chết. Chết là hết sao? Chỉ có “hết” mới là thứ duy nhất tồn tại vĩnh hằng trên đời này. Trong phòng kín, Genyo chủ nhân đời đầu của Ám Hắc Quán bị sát hại. Bị sát hại thế nào? Ai là thủ phạm? Tại sao phải ra tay? Takuzo là ông ngoại Genji nhỉ? Ông tự sát vào chính đêm cụ Genyo bị giết. Sau khi chết, cụ và ông được an táng trong lăng mộ ngoài sân phải không? Lăng mộ đó gọi là lồng lạc lối... Sao lại lạc lối? Ai lạc? Sao lại là lồng? Lồng để làm gì...
Mời anh...
A, đây là tiếng Mio.
Anh ăn đi ạ.
Đây là tiếng Midori...
Chần chừ cái gì, ăn ngay!
Mọi người phụ họa theo gia chủ.
Ăn đi! Trong Đêm Dahlia ở Nhà Dahlia, dưới sự che chở và cho phép của Dahlia, với sự chúc phúc chân thành của tất cả mọi người... Ăn hết xúp đi! Nuốt hết thịt đi! Thịt...
A, là thịt thật sao? Thịt gì hả? Tôi đã ăn thịt gì? Hơn nữa, tôi...
Trong tiếng gió mưa sấm sét, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Tôi ngủ rất say, như bị nuốt chửng vào màn đêm vô tận.
Giao đoạn 3
“Điểm nhìn” bị tách ra bừa bãi, trôi nổi vô định theo nhiều hướng. Hiện tại, chủ thể thực sự của “điểm nhìn” vẫn chìm trong hỗn độn tối tăm, chưa thể nắm bắt “thế giới” đang mở ra bên kia bức tường trong mờ. Đôi lúc, cảm giác, ý thức và suy nghĩ rời rạc trở nên linh hoạt vì một lý do nào đó. Nhưng mỉa mai thay, nhìn chung lại làm tăng mức độ hỗn loạn và sai lầm...
Một đêm nữa lại tới. Ichiro run rẩy rúc trong một góc. Ngoài trời mưa rơi xối xả. Gió rít như tiếng người gào thét. Cây cỏ lay động xào xạc. Sấm rền chớp giật. Màn đêm mịt mùng... Tất cả đều làm Ichiro run sợ.
Ichiro đang ở dãy nhà cũ kĩ dột nát đến mức còn không bằng nhà tranh. Hình như nhà này từng gặp hỏa hoạn, phần lớn kiến trúc đã cháy rụi, chỉ có một góc may mắn thoát nạn, nhưng lại bị bỏ hoang, không được tu bổ cũng chẳng bị phá dỡ. Nó đã tàn tạ quá thể, không sao mường tượng được hình dáng ban đầu. Tường nứt toác, cửa sổ mất kính, mặt sàn mục nát, trần thủng lỗ chỗ. Ở góc tối không dột trong phòng có bộ bàn ghế gỗ bẩn thỉu lung lay chực sập. Ichiro ôm gối ngồi trên ghế. Mỗi lần sấm chớp rền vang, cậu lại vùi đầu vào hai chân, nín thở. Trời không lạnh, nhưng mấy tiếng qua Ichiro run cầm cập.
Trên bàn đặt chiếc đèn lồng cũ loại gấp được, thắp nến bên trong. Nhờ có nó nên đêm nay bớt tối tăm đáng sợ hơn đêm qua. Trong ba lô vải bố máng trên lưng ghế có chiếc bánh mì Pháp ăn dở. Ít ra không lo đói... Bánh mì và đèn lồng đều do thằng nhóc đó cho cậu. Phải cảm ơn nó mới được. Tuy nhiên…
Tiếp theo, mình nên làm gì đây? Ichiro thở dài, nhìn đồng hồ đeo tay. Đã hơn 11 giờ đêm. Chưa đầy một giờ nữa là sang ngày mới, 25/9. Hôm qua và hôm nay mình không về nhà, tất nhiên cũng không đi học, bố mẹ ắt lo sốt vó. Có khi cả làng cũng loạn lên ấy. Giá mình cho ai đấy biết trước điểm đến... Ichiro nhớ lại.
Cậu ngủ một đêm trong khoang chở hàng của chiếc xe Jeep trên bãi đỗ bên hồ, tầm 10 rưỡi sáng nay thì tỉnh. Có lẽ vì cả thể chất và tinh thần đều rã rời, cậu ngủ rất say, không hề mộng mị. Sau khi thức dậy mồm miệng khô khốc, đói thắt cả bụng. Tiếng mưa đập lia lịa trên nóc xe. Ichiro ngái ngủ nhìn quanh... Mình đang ở đâu đây... Vừa nhớ ra cảnh ngộ của mình, cậu lại thấy lo sợ trào dâng, quên cả đói khát.
Trời sáng, mưa vẫn rơi. Ichiro đeo ba lô, đội mũ bóng chày rồi trùm mũ áo khoác, run rẩy leo xuống khỏi xe. Trời âm u nhưng mặt trời đã lên. Ichiro chưa bao giờ phấn khởi vì ánh nắng đến vậy. Cậu há miệng ngẩng đầu cho nước mưa rơi xuống cổ họng, lại thấy đói ngay. Phải kiếm gì bỏ bụng thôi... Ichiro bỗng nhớ tới ngôi nhà bằng đá đen cạnh hồ. Đến đó tìm ắt sẽ có thứ ăn được. Nhưng mà...
Cảnh tượng hôm qua lại hiển hiện sống động. Khi cậu ngó vào qua khe cửa chớp thì thấy một người đàn ông quái dị bên trong. Gương mặt bệnh hoạn, xám xịt như sắp chết, nụ cười đáng sợ. Người đàn ông đang mài dao thì động đất. Tường và trần sập xuống, đồ đạc đổ vỡ... Người đàn ông bị tủ đè, đau đớn giãy giụa trên bãi mảnh sành và vụn thủy tinh. Thân thể bê bết máu, miệng rên rỉ như dã thú, vẻ mặt hung dữ.
Ichiro biết rõ ông ta bị thương nặng nhưng vẫn hoảng hồn tránh xa, không đủ can đảm vào cứu trợ... Người đó sao rồi? Vẫn tủ đè? Chắc sẽ không chết chứ... Mặc cảm tội lỗi và sợ hãi giằng co, Ichiro đội mưa đi về phía cầu tàu. Đấy là lần đầu tiên cậu trông thấy đảo nhỏ giữa hồ. Quanh đảo là tường đá cao vút như tường thành. Bóng dinh thự thoắt ẩn thoắt hiện bên trong tường bao.
Kia là... Ichiro run bắn. Ám Hắc Quán...
Cửa chính mở hé. Ichiro cẩn thận bước vào, đi thẳng tới căn phòng người đàn ông gặp nạn. Tường và trần đã sập xuống, mảnh sành và vụn thủy tinh rơi la liệt, tất cả giống hệt tối qua. Tuy nhiên...
Ichiro sững sờ. Không có ai cả. Người đàn ông đã biến mất. Tự thoát được hay ai đến cứu? Mặc cảm tội lỗi nguôi ngoai phần nào nhưng nỗi sợ tăng lên. Không chừng người đàn ông đang ở gần đây, có khi còn cả đồng bọn ông ta nữa. Nếu bị họ phát hiện, mình sẽ ra sao?
Cấm bén mảng tới dinh thự!
Ichiro nhớ lại lời dặn của bà nội.
Đó là nơi trú ngụ của hắc ám!
Ichiro run rẩy nhìn quanh, cậu phát hiện trên bục cạnh cửa có điện thoại. Cậu lao tới, chộp lấy ống nghe. Có thể gọi về nhà cầu cứu rồi. Tiếc thay, đường dây chỉ phát ra âm nhiễu đáng ghét. Bấm số thế nào vẫn rè rè, không kết nối được. Chẳng biết do điện thoại hỏng hay mất sóng.
Ichiro không bỏ cuộc. Cậu cúp máy rồi quay số lại. Thử bao nhiêu lần vẫn thế. Đúng lúc này, Ichiro giật bắn mình vì tiếng rên rỉ yếu ớt vang lên ngay phòng bên cạnh.
Kiềm chế nỗi thôi thúc bỏ chạy, Ichiro nhìn trộm sang. Hình như là phòng ngủ. Cạnh cửa sổ trong cùng có một cái giường. Ánh sáng bên ngoài chiếu vào qua khe hở cửa chớp. Ichiro nhận ra người rên rỉ đang nằm sõng soài trên sàn cạnh giường, quần áo màu xám đậm. Chính là người đàn ông cậu trông thấy hôm qua. Cái bướu thịt gồ hẳn trên lưng, buộc ông ta phải nằm nghiêng, tay ôm bụng quằn quại. Hóa ra tự thoát khỏi cái tủ, bò được tới đây rồi kiệt sức ư? Ngất xỉu mới tỉnh lại? Vết thương thế nào rồi?
Ichiro muốn gọi nhưng lại do dự. Cảm giác kinh hoàng trước điệu cười đáng sợ hôm qua lại bùng dậy, làm cậu nghẹn lời. Mất một lúc, cậu mới khó nhọc rặn ra, “Ông…”
Đột nhiên, người đàn ông cử động mạnh. Ichiro hoảng hốt hét to rồi chạy như bay ra ngoài, lao về phía cầu tàu. Bên cầu tàu buộc chiếc thuyền máy nhỏ.
Đi thuyền lên đảo, cầu cứu người trong dinh thự... Ichiro chưa từng lái thuyền máy. Thuyền chèo tay thì còn xoay xở được. Cậu vừa nghĩ vừa ngoái đầu nhìn ngôi nhà bên hồ, đúng lúc bóng người màu xám lảo đảo đi ra. Ichiro lại kinh hãi hét lên... Ôi trời! Ông ta! Ông ta sắp đuổi đến nơi! Ông ta đang đuổi theo mình!
Ichiro cắm đầu cắm cổ chạy qua màn mưa, hoảng hốt lao đi trên con đường quanh hồ. Chạy một hồi ngoái đầu nhìn, lại không thấy người đàn ông đâu nữa.
Không sao. An toàn rồi. Ichiro cố gắng tự thuyết phục. Ông ta bị thương, không chạy được. Không có chuyện gì đâu. Ổn rồi.
Ichiro thở hổn hển, nghỉ cho lại sức và nhìn ra hòn đảo nhỏ giữa hồ. Bấy giờ cậu mới để ý... Nước hồ có màu rất lạ. Không xanh lam, không xanh lá, cũng không xám, mà đỏ nâu như bị đổ màu. Nước hồ vốn có màu này ư?
Hay bị đổi màu vì nguyên nhân nào đấy?
Ichiro sực nghĩ ra, nếu đi một vòng quanh hồ, chưa biết chừng lại tìm ra thuyền khác. Hay là... Đúng rồi! Có khi còn phát hiện ra đường vòng qua chỗ sạt lở để quay về làng.
Giữa tiếng mưa rào rào đổ xuống mặt hồ bỗng xen vào một âm thanh khác. Đó là tiếng gầm của động cơ. Ichiro sợ hãi nhìn về phía cầu tàu. Tiếng chiếc thuyền máy ban nãy sao? Trong nháy mắt, Ichiro tưởng người đàn ông nọ lái thuyền đuổi theo mình, nhưng chẳng mấy chốc cậu vỡ lẽ, thuyền chạy ra đảo nhỏ.
Thuyền lướt đi trên mặt hồ đỏ nâu, máy nổ rầm rĩ, tốc độ mỗi lúc một nhanh, lao thẳng về phía hòn đảo đen ngòm. Ichiro đứng bên hồ, nín thở dõi theo.
Diễn biến tiếp theo hết sức bất ngờ. Chiếc thuyền lao đi với tốc độ cao, không hề giảm tốc cũng không chuyển hướng, mà đâm mạnh vào đảo nhỏ có tường đá bao quanh. Tiếng động lớn xuyên qua màn mưa, con thuyền biến khỏi tầm nhìn của Ichiro. Cậu thoáng thấy mảnh vỡ màu đen bắn văng qua không trung, không biết người lái thuyền ra sao.
Khi ấy là khoảng 11 rưỡi trưa.
Sau khi chứng kiến tai nạn thuyền...
Ichiro ngồi trên ghế, ôm chân tiếp tục hồi tưởng.
Mưa to dần, cậu đi một mình trên con đường ven hồ, không còn thấy sợ như trước. Chẳng lo bị người đàn ông đuổi theo nữa... Tuy nhiên về cơ bản, cảnh ngộ của Ichiro vẫn chưa có gì cải thiện. Vai và tay chân nặng như đổ chì. Đáng nói nhất là bụng đói. Dù vậy, Ichiro vẫn không muốn quay lại ngôi nhà bên hồ tìm thức ăn. Cứ đi như thế khoảng một tiếng, cậu tới được mé sau hòn đảo, và phát hiện cây cầu dẫn ra đảo.
Mặt hồ ở đây có màu lam đậm, suy ra nước hồ gần cầu tàu đổi màu đỏ nâu là có lý do riêng. So với bên cầu tàu thì chỗ này gần đảo hơn, chỉ trăm mét là hết cỡ. Một cây cầu hình dáng hiếm gặp nối liền đảo và bờ. Không phải cầu treo cũng không phải cầu dầm, càng không phải cầu vòm. Đây là lần đầu tiên Ichiro trông thấy loại cầu này. Đầu cầu dựng một tấm biển, viết dòng chữ cảnh báo màu đỏ “Nguy hiểm! Cấm đi qua!”. Ichiro do dự... Làm sao bây giờ?
Cầu dập dềnh trên mặt nước, những tấm nổi như bè được chằng buộc bằng xích, bên trên trải ván gỗ. Kinh qua bao gió mưa, cộng với sóng nước xô đẩy, cấu trúc không còn chắc chắn. Mặt cầu đủ rộng cho xe kéo đi hai bên cầu còn có xích sắt, nhưng chắc là do làm quá lâu rồi, trông vô cùng rệu rã. Cố đi có khi đứt mất.
Cân nhắc hồi lâu, Ichiro phớt lờ cảnh báo, đặt chân lên cầu, bụng bảo dạ mình nhỏ người nhẹ cân, cẩn thận một chút là qua được, có rơi xuống nước cũng không sao, cậu biết bơi mà, còn hơn luẩn quẩn mãi bên bờ hồ. Quay lại rừng sẽ lạc đường, không lạc thì cũng chưa biết vòng qua chỗ sạt lở thế nào. Mưa gió mỗi lúc một dữ dội, đằng xa vọng lại tiếng sấm rền. Ichiro quyết định lên đảo rồi tính tiếp. Tuy không biết trong dinh thự là những hạng người gì, nhưng vẫn khá hơn lang thang vô định.
Lúc này đã hơn 1 giờ chiều. Gió ào tới như đẩy Ichiro tiến bước. Xốc lại chiếc ba lô vải bố, trùm mũ áo khoác lên, Ichiro qua cầu. Cây cầu nổi rung lắc dữ dội. Mặt cầu mục nát, xích sắt hoen gỉ, lại ướt nước nên trơn tuột. Mỗi bước cậu đi, cầu kêu kẽo kẹt một cách đáng ngại, rung chuyển như sắp long ra đến nơi, xích chằng các tấm nổi đã gỉ sét, cứ cọ qua cọ lại. Mỗi lần muốn quay lui, Ichiro lại tự nhủ, sắp rồi sắp rồi, và tiến bước. Ở mười mét cuối, cậu quyết định tăng tốc, giờ nghĩ lại, đấy là một sai lầm. Khi Ichiro băng mình chạy, cũng là lúc tiếng động như xích đứt bắn vào tại cậu. Cây cầu giật đùng đùng, ván gỗ dưới chân long ra làm cậu suýt ngã. Bờ gần trong gang tấc bỗng lại xa vời vợi...
Dù vậy, Ichiro vẫn nhảy lên được đảo, phải nói là may mắn. Ở bước cuối cùng của cậu... Cả cây cầu oằn cong rồi đứt phụt cùng một tiếng động inh tai.
Chỉ cần đứt một chỗ, các chỗ khác sẽ đứt theo. Tiếng ván gỗ bật tung, tiếng xích đứt thi nhau vang lên. Mặt cầu vươn ra từ bờ bên kia trông như con rắn khổng lồ oằn mình trong nước. Ván gỗ và tấm nổi trôi lềnh bềnh.
Thế là Ichiro lên đảo, cũng là người cuối cùng trên đời đi qua cây cầu ấy. Bên cầu có bến thuyền nhỏ, nhưng chẳng có con thuyền nào. Cạnh bến thuyền là một khối đen sì, trông như phần còn lại của một ngôi nhà bị cháy. Chắc từng là nhà để thuyền. Từ bến lên trên có cầu thang đá dài hơi dốc. Ichiro nhìn cây cầu hỏng lần nữa, mũ áo khoác đã tuột xuống tự lúc nào, cậu kéo trùm lên mũ bóng chày, buộc chặt dây mũ rồi đặt chân lên các bậc thang. Đầu cầu thang là cánh cổng đen nặng nề. Ichiro đẩy cổng. Nó không nhúc nhích, chắc do chốt trong. May thay, cổng phụ bên cạnh lại mở.
Vừa qua cổng phụ, Ichiro nhìn thấy ngay khoảnh sân rộng um tùm cây cỏ. Thứ đầu tiên đập vào mắt cậu là kiến trúc cũ kĩ xây cạnh tường đá, nằm bên tay trái cậu. Đó là một dãy nhà đổ nát, phủ đầy thường xuân và dây leo. Ít nhất cũng giúp che mưa chắn gió.
Ichiro chạy vào.
Ichiro tiếp tục nhớ lại. Lúc cậu phát hiện ra dãy nhà hoang và chạy vào, mưa chưa to như bây giờ, tình trạng dột chưa dữ dội lắm. Ichiro cởi chiếc áo khoác ngấm nước mưa, lấy khăn trong ba lô để lau mặt và tay. Vừa trấn tĩnh lại thì...
“Ai?” Tiếng hỏi vang lên phía cửa. “Ai đấy?”
Ichiro ngạc nhiên quay lại thì thấy một người cầm ô vàng đang nhìn mình. Đây chính là lần gặp gỡ đầu tiên giữa Ichiro và thằng nhóc tên Shinta.
“Anh là ai?” Thằng nhóc ngạc nhiên hỏi lại. Nó cụp ô, đặt ngoài cửa rồi rón rén bước vào. Đầu trọc lốc, mặc quần soóc nâu và sơ mi cộc tay màu xanh lam. Trông bề ngoài thì nhỏ hơn Ichiro tầm năm, sáu tuổi.
“Anh, anh tên là Ichiro.” Ichiro trả lời. “Anh ở làng I đến.”
“Làng I...” Nó bối rối. “Tên là... Ichiro?”
“Ừ... Em thì sao? Con nhà này hả?”
"Em, Shinta."
“Shinta? Tên em đấy à?”
"Mẹ, Shinobu."
“Shinobu...” Ichiro cho rằng dù thằng nhóc có nhỏ hơn mình năm tuổi thật, thì tính ra cũng phải tám tuổi rồi, nhưng nó nói năng không rõ ràng, lại còn rất chậm, chắc là có vấn đề về trí tuệ.
“Em là con nhà này à?” Ichiro hỏi lại.
Shinta trả lời một cách khó hiểu, “Em, nhà này.” Nói tới đây, thằng nhóc bỗng dừng lại, bối rối giải thích, “Mẹ, làm việc.”
Mẹ làm việc trong nhà này? Thằng nhóc là con của người làm công hả?
“Đây là đâu?” Ichiro hỏi. “Chỗ này dùng để làm gì?"
“Đây là... của em...” Shinta ngừng lại nửa chừng. “Phòng của em à?”
“…của em...”
Ichiro nhìn quanh lần nữa, chỗ này chỉ là dãy nhà đổ nát. Làm sao là phòng thằng nhóc được! Cậu sực nghĩ ra, đây có thể là căn cứ bí mật, nơi vui chơi riêng của nó.
“Người trong dinh thự có đáng sợ không em?” Ichiro thật thà hỏi.
Shinta bối rối một lúc rồi mới đáp, “Ông chủ, đáng sợ.” Và cúi đầu nhìn chân mình.
“Đáng sợ... sao?” Đó là nơi trú ngụ của hắc ám. Ichiro nhớ lại lời bà nội mà lo ngại. “Quả nhiên là thế.”
Tạm trốn ở đây một thời gian, xem xét tình hình rồi tính. Trừ thằng nhóc ra, nếu ai trong dinh thự cũng kinh khủng như người đàn ông ở ngôi nhà bên hồ thì mình phải làm sao? Ichiro do dự, lại xen lẫn mặc cảm tội lỗi. Cậu đã tự tiện xông vào tư gia người ta, còn làm hỏng cả cầu phao. Chưa kể tai nạn thuyền kia ít nhiều có trách nhiệm của cậu. Vừa ngẫm nghĩ, cậu vừa buột miệng, “Đói quá.” Mặc cảm đến đâu cũng không thể phớt lờ nhu cầu sinh lý. “Chỗ này có gì ăn không?” Cậu nhìn Shinta.
“Đói... ạ?” Thằng nhóc nhìn cậu bằng ánh mắt kì lạ. Tự nhiên...
“Shinta!” Tiếng gọi lớn từ bên ngoài vọng vào làm Ichiro nhảy dựng lên. “Em có trong đấy không? Shinta?” Giọng đàn ông. Nghe có vẻ tức giận.
Shinta hoảng loạn quay ra nhìn. Ichiro hỏi nhỏ, “Ai thế? Ai đến vậy?” Shinta không nói một lời, run rẩy đi ra. Ichiro vội kéo thằng nhóc lại, đặt ngón tay lên môi, khẽ dặn, “Việc anh ở đây phải giữ bí mật. Giờ mà bị phát hiện thì chết. Xin em!”
Shinta gật đầu, đến cửa thì từ từ thò đầu.
“Sao em lại ở đây?” Vẫn là giọng người đàn ông đó.
Shinta rụt vào, ngoái đầu nhìn Ichiro và bảo, “Chỗ này, giữ bí mật.” Nhà hoang có vẻ đúng là căn cứ của thằng nhóc thật, và nó đang yêu cầu Ichiro không tiết lộ với ai. Cậu gật đầu cái rụp. Shinta liền quay gót đi ra.
“Em đang làm gì?” Giọng đàn ông nghe như quở trách. “Chơi trong đó hả? Nguy hiểm lắm đấy.”
Tuy đã xin thằng nhóc giữ im lặng, Ichiro vẫn không yên tâm, cậu rút về một góc ngồi co ro. Chẳng mấy chốc, động tính bên ngoài ngừng hẳn. Mất một lúc không thấy ai vào, Ichiro mới tạm yên tâm. Gần một tiếng sau, Shinta quay lại. Ichiro đang đói meo ngồi trong góc nhà.
“Anh!” Thằng nhóc cụp chiếc ô vàng giống ban nãy, bước vào gọi Ichiro, cười hơi gượng gạo. “Chỗ này, giữ bí mật.” Nó nói năng lộn xộn. “Anh, cũng giữ bí mật.”
Ichiro biết thằng nhóc không muốn cho ai hay. Không rõ nó có hiểu rằng, với cả hai người chỗ này đều phải giữ bí mật không.
“Cho!” Shinta đưa Ichiro chiếc bánh mì kiểu Pháp đựng trong túi giấy. “Cái này, giữ bí mật.”
Thằng nhóc giữ bí mật với người trong nhà, lén lấy bánh mì cho mình lót dạ ư? Ichiro quên cả cảm ơn. Cậu cầm bánh mì ăn ngấu nghiến, chưa nhai kĩ đã nuốt chửng nên nghẹn, ho sặc sụa. Nuốt xong miếng bánh đầu tiên, Ichiro mới nhớ ra, “Cảm ơn nhé.”
“Chỗ này...” Shinta nhắc lại.
“Anh biết rồi, giữ bí mật chứ gì.” Ichiro gật đầu lia lịa. “Anh không nói với ai đâu. À quên, em giúp anh việc nữa nhé?” Shinta băn khoăn nhìn cậu, Ichiro nói tiếp, “Có nến không? Nến ấy... hiểu không? Đêm xuống chỗ này tối lắm. Anh muốn có thứ chiếu sáng.”
“Nến...” Nghĩ ngợi một hồi, Shinta đi về phía chiếc bàn bẩn thỉu ở góc nhà, mở ngăn kéo lục tìm, và lấy ra ngọn đèn lồng giờ đang đặt trước mặt Ichiro cùng ánh sáng leo lét.
Shinta rời đi, và không quay lại nữa. Từ chập tối tới đêm khuya, Ichiro ru rú ở góc nhà. Về đêm mưa gió dữ dội hơn, chốc chốc sấm vang chớp giật, khiến cho cậu vốn đã lo lắng lại thêm kinh hoàng. Chẳng còn cách nào khác. Đành cố thủ ở đây... Chờ trời sáng mưa tạnh rồi tính. Tuy địa điểm thay đổi, tình hình vẫn chẳng khác đêm qua là bao, à có khác, đêm nay mình không đơn độc nữa. Mình có “đồng minh”, ít ra Shinta không phải “kẻ địch”.
Ichiro xem giờ. Lại một ngày nữa trôi qua, kim đồng hồ chỉ gần 1 giờ sáng. Ánh nến trong đèn lồng lập lòe. Ichiro nhận ra nến đã cụt ngủn, sắp cháy hết đến nơi. Cậu đứng dậy, do dự một hồi rồi mở ngăn kéo trên cùng của cái bàn xem có nến dự phòng không. Ngăn kéo lỉnh kỉnh đủ thứ. Nào là đồ chơi như bi, yo-yo, con quay, chuồn chuồn tre, rồi văn phòng phẩm và dụng cụ như bút chì, bút mực, dao khắc, búa, đinh, tua vít... Chắc đều do thằng nhóc Shinta mang tới. Đèn lồng cũng vậy.
Không tìm thấy nến, Ichiro mở ngăn kéo thứ hai, có một chùm chìa khóa, bật lửa, tẩu thuốc, nhẫn, một chiếc khuyên tai, kẹp cà vạt, mấy đồng bạc và tiền xu chẳng biết của nước nào... Trông không giống đồ đạc của trẻ con. Nhác thấy một chiếc ví màu nâu đậm, Ichiro thắc mắc mở ra xem. Bên trong đựng vài tờ tiền giấy. Ví và tiền đều ướt. Ngoài tiền ra, Ichiro còn tìm thấy một tấm ảnh cũ ướt sũng. Cậu soi ảnh dưới ánh nến. Một phụ nữ trung niên mặc kimono và một đứa trẻ gầy gò chụp ảnh ngoài trời, trước hàng cây thưa thớt. Xem ra là hai mẹ con, đứa trẻ đứng nép vào người phụ nữ. Tất nhiên, Ichiro không quen biết họ. Cậu lật mặt sau ảnh, có một dòng chữ viết tay, đã nhòe gần hết.
Chụp ngày 7/... sinh nhật. tuổi...
Ichiro căng mắt ra cũng chỉ nhận biết được từng đó
. “Ồ!” Cậu bất giác lẩm bẩm. “Thằng nhóc đó...”
Thằng nhóc đó lén giấu đủ thứ nhặt nhạnh được vào đây, đồ đạc ở ngăn kéo thứ hai chắc là “báu vật” mà nó sưu tầm. Thế nên nó mới muốn giữ bí mật với mọi người trong dinh thự. Ichiro cất ví vào chỗ cũ, lục lọi ngăn kéo một lúc. Cuối cùng cũng tìm được mấy cây nến ở tít trong cùng. Bật lửa ở ngăn kéo hết ga. Ichiro lấy trong túi quần hộp diêm mà hôm qua, à không, hôm kia, cậu nhặt được ở chỗ tai nạn xe. Ngọn nến đang cháy cũng châm bằng diêm này. Vỏ hộp diêm màu vàng, in chữ “Quán cà phê Shimada”. Ở góc hộp có địa chỉ và số điện thoại của quán, hình như đây là quán cà phê ở thành phố Kumamoto. Sao hộp diêm này lại rơi cạnh chiếc xe tai nạn nhỉ...
Ichiro châm nến mới, thay cho mẩu nến cụt trong đèn lồng. Ít nhất có thể chiếu sáng mấy tiếng nữa. Mục đích đã đạt được, nhưng vẫn còn hai ngăn kéo chưa mở. Ichiro sinh ra tò mò, muốn xem Shinta còn giấu báu vật gì nữa.
Cậu mở ngăn kéo thứ ba. Lổn nhổn hạt sồi, mấy viên đá hình dáng kì lạ, vài mảnh gạch vỡ. Ngoài ra, có những thứ mà người lớn trông thấy sẽ nhíu mày, bắt vứt đi ngay như da rắn, xác ve, đõ ong, tổ bọ ngựa, lông chim, thằn lằn chết khô Trông thấy da rắn với thằn lằn khô, chính Ichiro cũng phải nhăn mặt, nhất là ở tình cảnh hiện tại. Dù vậy, đóng ngăn kéo thứ ba xong, cậu vẫn đưa tay đến ngăn kéo dưới cùng.
Ngăn này to hơn hẳn. Báu vật cất giấu ở đây hẳn là rất lớn. Ichiro vừa nghĩ vừa mở ra. Vừa nhận thấy báu vật lăn lông lốc bên trong, cậu la toáng lên, giật lùi liền mấy bước.
“Cái gì đây?” Ichiro chớp mắt lia lịa. Cơn ớn lạnh quét qua sống lưng, gai ốc nổi đầy tay.
“Cái quái gì vậy...” Ichiro run rẩy lại gần bàn, khom người nhìn vào ngăn kéo lần nữa. Cậu không nhìn nhầm. Báu vật lăn lông lốc trong ngăn kéo. “Sao nó lại có thứ này?”
Đó là một hộp sọ lem luốc, nhìn qua đủ biết là sọ người. Đây cũng là báu vật do Shinta sưu tầm à? Nó nhặt thứ này ở đâu? Cầm sọ người mà không sợ ư? Người ta chết bao giờ, ở đâu... Chỉ phút chốc, “đồng minh” của cậu trở nên thật rùng rợn và bí hiểm. Ichiro run tay đóng ngăn kéo, tránh xa chiếc bàn, tìm chỗ không dột rồi ngồi xuống.
Nỗi sợ ùa về.
Cùng đêm ấy, trong phòng nghỉ kiểu Nhật ở tầng một Nhà Đông, Enami nằm ngửa trên nệm, nhìn trần nhà đen ngòm.
Ánh đèn tù mù. Từ nãy đến giờ cậu vẫn cố ngủ, càng cố càng khó ngủ. Các hình ảnh lộn xộn thi nhau xuất hiện trong đầu. Có lẽ thuốc bác sĩ đưa đã có tác dụng, cậu gần như không thấy đau và mệt như trước nữa. Cảm giác tê liệt cũng giảm dần. Cậu nghĩ nếu ngủ được một giấc thì khi thức dậy còn khỏe hơn, nhưng...
Sau này sẽ thế nào? Điều mà ngay cả Enami cũng không thể dự đoán được là câu hỏi về chính cơ thể, linh hồn mình...
À này, cậu có cảm thấy mình mất trí nhớ không? Nghĩa là cậu không nói được, không thể phát ra tiếng, phải không?
… Phải, tình hình bây giờ chính là như vậy.
Chập tối 23/9, mình ra đảo, leo lên tháp Thập Giác rồi ngã từ bao lơn ở đỉnh tháp xuống. Tuy chưa hồi tưởng rõ ràng, nhưng người ta đã nói thế thì chắc là sự thật rồi. Đây là dinh thự nhà Urado nằm trên hòn đảo giữa hồ. Dinh thự có một cái tên kì lạ, Ám Hắc Quán. Từ tận thâm tâm, cậu có cảm giác mấy cái tên “Ám Hắc Quán”, “nhà Urado” đã nằm sẵn trong kí ức rời rạc của mình...
Mình đã lái xe rất lâu trên đường núi để đến dinh thự nhà Urado, nơi được gọi là Ám Hắc Quán. Giữa đường chẳng may xe lao vào rừng... Các mảnh kí ức từ từ chuyển động trong cái đầu hỗn loạn.
Phải rồi.
Xe lao vào rừng, tông phải một gốc cây to rồi dừng lại. Hơn nữa, mình...
Nhiều mảnh kí ức vụn vặt đã khôi phục, nhưng chỉ được đôi chút rồi đứt đoạn, không thể kết nối quá khứ với hiện tại của Enami. Cú va đập khi ngã từ đỉnh tháp xuống đã gây ra tình trạng đứt đoạn này. Trước đó, kí ức của cậu. suy nghĩ của cậu thế nào nhỉ? Mà suy cho cùng cái gọi là “kí ức của cậu” là gì? Người bị mất kí ức lấy gì làm căn cứ để tin chắc đó chính là mình?... Cậu không rõ. Cơ thể đã bình phục mà sâu trong não bộ vẫn còn tê liệt. Enami thấy phần lớn nhận thức của mình thật mơ hồ, hỗn loạn... Trời ơi, rốt cuộc “tôi” là ai?
Enami đang cố dỗ giấc thì cảnh tượng chứng kiến ở hành lang bên ngoài lại dần dần nổi rõ trong đầu. Hình như tầm 3 rưỡi chiều, tiền sảnh xôn xao vì tiếng ồn và tiếng nói hoảng loạn, làm cậu nằm nghỉ trong phòng phải thắc mắc, có chuyện gì?
Chẳng mấy chốc, từ hành lang vọng vào tiếng bước chân vội vã của hai người. Sau đó, tiếng bước chân và giọng nói của nhiều người khác vang lên ở cửa chính. Có lẽ vì cánh cửa giữa tiền sảnh và hành lang đang mở, nên Enami nghe được khá rõ.
“Tệ lắm. Tôi đã kiểm tra sơ qua, ông ấy bị thương không nhẹ đâu.”
“Có nguy hiểm đến tính mạng không?”
“Được rồi, cứ đưa vào phòng đã. Có phòng trống nào sẵn chăn nệm ở tầng một Nhà Nam không?”
“Phòng ngoài cùng.”
Tiếng nói càng lúc càng gần. Giọng ai cũng to, cho thấy tình thế rất cấp bách.
“Bác Hiruyama! Bác nghe cháu nói gì không?”
“Bác ta bị thương khắp người, không những gãy xương, mà còn chấn thương nặng ở đầu, có khi nội tạng cũng..”
Có người gặp nạn, và bị thương? Enami đứng dậy, trượt cửa nhìn ra ngoài. Cả đám người đang tiến vào hành lang. Hai người đàn ông khiêng cáng. Enami có chút ấn tượng với một trong hai vì sáng nay ông ta cũng tới phòng nghỉ của cậu. Người mặc áo choàng trắng đi cạnh cáng là “bác sĩ Noguchi”. Trên cáng là một người đàn ông nằm đắp chăn, quay mặt về phía Enami. Bộ dạng xấu xí đầy máu và bùn ấy làm Enami cứng đờ người vì sốc. Cậu nhận thấy bác ta chỉ còn thoi thóp. Tai nạn phải nghiêm trọng lắm mới thành ra như vậy...
Enami há miệng, chực hét lên mà không thể cất tiếng bình thường. Chính cậu cũng không biết mình muốn hét gì. Cùng lúc, người bị thương như lên cơn co giật, ho quặn cả người.
“Bác thế nào rồi?” Thanh niên đang đi sát sau cáng vội hỏi.
Tiếng họ thắt cả lòng tiếp tục vang lên. Máu chảy ra từ miệng người bị thương, Noguchi vội lấy khăn tay lau vết máu giúp. Tiếng thở yếu ớt chìm lim dưới tiếng sấm rền.
“Á!” Enami bật rên, vẫn không nói được. “Á... Ứ...”
Người đàn ông này đã như ngọn nến trước gió. Nên mới đau đớn như vậy. Nên cũng đau đớn như vậy. Rất nhanh, bác ta dừng ho. Mắt hé ra thì phải. Enami có cảm giác ánh mắt vô hồn ấy gặp mắt mình trong giây lát. Gương mặt và cảm xúc của bác ta chồng lên gương mặt và cảm xúc của người phụ nữ trên giường bệnh trong kí ức cậu. Ánh mắt yếu ớt, hơi thở khó khăn, giọng nói thều thào... Á! Mẹ... Trong phòng bệnh đó, cậu...
“Thôi, cậu... Enami, cứ vào trong nghỉ ngơi đi.”
Genji bảo. “Tai nạn ấy mà. Hôm qua cậu còn may lắm.” Đúng là tai nạn thật. Enami vẫn nhớ ý nghĩ của mình khi ấy. Cậu quay vào, buông mình xuống nệm, nghiền đi ngẫm lại từ “tai nạn”. Tự dưng, cậu nhớ ra cảnh tượng nọ... Đúng, chính là nó. Chiếc xe con màu đen lao vào rừng, kính vỡ, máu bắn ra, nắp ca pô bẹp gí, cơn đau nhói bên tay trái... Và cậu…
Đột nhiên... Một sức mạnh nào đấy ập đến, cố đánh tan quyết tâm hồi tưởng những việc xảy ra chập tối hôm trước, Enami vội mở bừng mắt. Ánh đèn leo lét chới với soi lên trần nhà đen sì. Ngoài tiếng thở của mình và tiếng gió rít, cậu không nghe được âm thanh nào. Ngay cả tiếng động không rõ nguồn gốc thi thoảng vẫn lãng đãng trong phòng giờ cũng biến mất. Enami nằm vắt tay lên trán, chầm chậm lắc đầu. Sao mình lại tới Ám Hắc Quán? Vì sao? Mình có quan hệ gì với dinh thự nhà Urado?... Enami có cảm giác, đáp án đã gần ngay trước mắt.
Sau đó, Shinobu mang bữa tối vào. Enami ra hiệu hỏi đường đến phòng tắm. Đi thẳng theo hành lang, hết đường thì rẽ là tới, Shinobu hướng dẫn, và dặn cậu phía trong cùng Nhà Đông cũng có phòng tắm, nhưng để dành cho khách, nên hãy cố gắng sử dụng phòng tắm bên Nhà Nam.
Enami ra khỏi phòng, đi lang thang theo hướng ngược lại với Nhà Nam. Cậu bước qua hành lang lát gỗ đen, rẽ trái rồi đi một đoạn thì trông thấy lối đi giống đường hầm. Lối đi đó dẫn sang ngôi nhà có phong cách kiến trúc rất khác Nhà Đông. Nhìn vị trí thì có lẽ là Nhà Bắc. Enami đi lòng vòng ở đó một lúc. Đây là lần đầu tiên cậu vào Nhà Bắc, mọi thứ hiển nhiên đều rất lạ lẫm. Ở đây có phòng chứa rất nhiều sách, phòng bày đàn piano, phòng để bàn bida, một cái sảnh tương tối lớn và phòng làm việc vương vãi họa cụ cùng những bức tranh dang dở. Enami cũng lên tầng hai xem, ở đó còn rất nhiều căn phòng cậu chỉ đi lướt qua bên ngoài.
Enami quay lại tầng một, tiếp tục loanh quanh trong hành lang tối tăm. Cuối cùng, cậu nghe ai gọi mình.
“Cậu làm gì ở đây thế?” Giọng Genji như trách móc. Enami nói không ra lời, bối rối trốn tránh ánh mắt anh ta.
“Cậu đang hồi phục đấy nhỉ!” Genji nói, “Tốt nhất là đừng đi lại lung tung. Cậu đã nhớ ra gì chưa?”
Enami lắc đầu thay cho câu trả lời. Thanh niên tên “Chuya” đứng cạnh Genji, nhìn cậu với ánh mắt lơ đãng. Cậu ta không nói một lời, sắc mặt bất thường, bước chân chệch choạc, Genji phải dìu đi. Chắc là say rượu rồi.
Enami quay lại phòng một mình. Dọc đường về tìm thấy phòng tắm Nhà Đông, cậu liền đi vệ sinh, tiện thể rửa mặt luôn, và run rẩy nhìn vào chiếc gương trên bồn rửa mặt. Đây là mặt mình sao? Sắc diện nhợt nhạt, ánh mắt lo lắng. Gương mặt quen quen này lại là mặt một người hoàn toàn xa lạ... Ý nghĩ làm cậu hoảng loạn.
Genji dặn phải nghỉ ngơi. Enami không có lý do để từ chối, đành nghe lời chui vào chăn, nhưng từ khi cố gắng ngủ, chẳng biết đã bao lâu rồi, cậu vẫn trằn trọc.
Enami lại nhắm mắt. Cảm giác tê liệt dính sâu trong não từ từ dồn về một chỗ, tạo thành khối cầu nén chặt, rồi chuyển động nhanh dần. Những mảnh ghép nhiều hình dạng, nhiều màu sắc trộn lẫn vào nhau. Khi tốc độ chuyển động lên đến đỉnh điểm thì chỉ thấy một màu đen. Giơ tay về phía ấy, bị đẩy bật ra. Giơ tay lần nữa, bị hút vào. Thứ gì đó đang khởi động. Thứ gì đó đang hỏng hóc. Thứ gì đó đang móc nối. Thứ gì đó chạy như bay. Thứ gì đó là thứ gì? Tình hình ra sao? Không biết. Động cơ không rõ ràng. Khó xác định. Khó kiểm soát. Là người bị thương trên cáng. Là chiếc xe đen hư hại nghiêm trọng trong rừng. Là người phụ nữ trên giường bệnh với...
Enami lại mở mắt. Trước mặt là trần nhà đen ngòm, bên tai vang vọng tiếng gió rít. Bão tố, sấm chớp... A, đúng vậy, hôm đó cũng thế! Hôm đó, khi đó...
Tiếng sấm rền inh tại hơn, làm rung chuyển bầu không khí ẩm ướt trong căn phòng tối om. Enami nhắm mắt lần thứ ba. Lệ trào ra ở khóe mi, chảy xuống gò má.
“Điểm nhìn” hình như bị gột rửa, chìm vào bóng tối lạnh lẽo vô biên.