2. Reacher Báo Thù

Phần

Phần

Phần vỉa hè bên dưới thi thể vẫn khô cong. Thế nên thi thể đã nằm trên mặt đất trước một giờ - khi trời bắt đầu mưa. Theo kết quả giám định pháp y thì nạn nhân bị bắn vào lúc nửa đêm", Tôi gật đầu. Mỉm cười với hai cảnh sát. Thời điểm chết của nạn nhân sẽ giúp tôi thoát khỏi họ. "Hãy nói cho chúng tôi điều gì xảy ra tiếp theo đó", Finlay nói, khẽ khàng. Tôi nhún vai. "Các ông nói cho tôi ấy," tôi bảo. "Tôi không ở đó. Lúc nửa đêm tôi đang ở Tampa." Baker rướn người để rút ra một trang nữa từ tập hồ sơ. "Điều xảy ra tiếp theo là ông trở nên kỳ quặc," ông ta nói. "Ông nổi điên lên." Tôi lắc đầu với tay này. "Tôi không ở đó lúc nửa đêm", tôi nhắc lại. "Khi ấy tôi đang lên xe buýt ở Tampa. Chuyện đó chẳng có gì kỳ quặc." Hai viên cảnh sát không phản ứng gì. Họ trông thật khó chịu. 'Trước tiên ông bắn chết ông ấy," Baker nói. "Rồi ông bắn ông ấy phát nữa, rồi ông nổi điên và đá túi bụi vào cái xác. Có rất nhiều chấn thương nặng xuất hiện sau khi nạn nhân chết. Ông đã bắn ông ta rồi ông cố gắng đá nát người ông ta ra. Ông đã đá cái xác lăn khắp chỗ chết tiệt đó. Ông nổi cơn điên. Rồi ông bình tĩnh lại và cố giấu cái xác dưới đống bìa cứng."

Tôi im lặng một lúc lâu. "Chấn thương sau khi chết à ?" tôi hỏi. Baker gật đầu. "Như điên", ông ta nói. "Người đàn ông ấy trông như thể bị xe tải chèn qua ấy. Gần như mọi mảnh xương đều giập nát. Nhưng bác sĩ nói rằng điều đó xảy ra sau khi ông ấy chết. Ông là kẻ thật kỳ quặc, Reacher, điều đó thì chắc lắm rồi." "Ông ta là ai ?" Finlay hỏi lần thứ ba. Tôi chỉ nhìn viên thám tử. Baker đã đúng. Chuyện đã trở nên kỳ quặc. Rất kỳ quặc. Điên cuồng dẫn tới án mạng đã đủ tệ hại. Nhưng cơn điên nổi lên sau khi xảy ra án mạng còn tệ hơn. Tôi đã tình cờ gặp tình trạng này vài lần. Không muốn tình cờ gặp thêm chút nào nữa. Nhưng theo cách họ mô tả cho tôi thì nghe không hợp lý gì cả. "Ông đã gặp người đàn ông đó như thế nào ?" Finlay cật vấn. Tôi tiếp tục chỉ nhìn ông ta. Không trả lời. "Pluribus nghĩa là gì ?" đội trưởng thám tử lại hỏi. "Tôi đã không ở đó," tôi nói. "Tôi chẳng biết gì cả." Finlay im lặng. "Số điện thoại của ông là gì ?" ông ta hỏi. Một cách đột ngột. Tôi nhìn viên thám tử cứ như ông ta bị điên. "Finlay, ông đang nói cái quái gì thế ?" tôi hỏi lại. "Tôi không có điện thoại. Ông không nghe à ? Tôi chẳng định cư ở đâu cả." "Ý tôi hỏi điện thoại di động," ông ta bảo. "Điện thoại di động nào ?" tôi nói. "Tôi không có điện thoại di động." Cảm giác sợ hãi ập đến tôi. Họ cho rằng tôi là một tay sát thủ chuyên nghiệp. Một gã lang thang khát tiền lập dị cùng chiếc điện thoại di động chuyên giết người. Đá thi thể họ giập nát. Liên hệ với tổ chức ngầm của mình để biết mục tiêu tiếp theo. Luôn luôn di chuyển. Finlay chúi người. Ông ta đẩy một mẩu giấy về phía tôi. Đó là một mẩu giấy xé ra từ giấy in. Không cũ. Tờ giấy đã sờn bóng. Kiểu bóng ở loại giấy nằm trong túi quần áo một tháng. Trên giấy in một chữ được gạch chân. Chữ Pluribus. Bên dưới là một số điện thoại. Tôi nhìn tờ giấy. Không chạm vào nó. Không muốn bất kỳ sự nhầm lẫn nào liên quan tới vân tay. "Đó là số điện thoại của ông hả ?" Finlay hỏi. 'Tôi không có điện thoại," tôi nhắc lại lần nữa. "Đêm qua tôi không ở đây. Càng làm phiền tôi là ông càng phí thời gian đấy, ông Finlay."

"Đó là số điện thoại di động," viên cảnh sát nói. "Chúng tôi biết điều đó. Thuộc mạng của một nhà cung cấp ở Atlanta. Nhưng phải đến thứ Hai chúng tôi mới có thể xác minh số này. Thế nên chúng tôi hỏi ông. Ông nên hợp tác, Reacher." Tôi nhìn mẩu giấy một lần nữa. "Thứ này xuất hiện ở đâu ?" tôi hỏi Firtlay. Viên thám tử cân nhắc câu hỏi. Quyết định trả lời. "Nó nằm trong giày của nạn nhân", ông ta nói. "Được gập lại và giấu kín." *** Tôi ngồi im lặng một lúc lâu. Tôi thấy lo lắng. Cảm thấy mình giống một nhân vật bị rơi xuống hố trong truyện của bọn trẻ. Nhận thấy mình trong một thế giới lạ mà mọi thứ đều khác và kỳ lạ. Như Alice trong Xứ sở thần tiên. Cô bé có ngã xuống hố không nhỉ ? Hay cô đã xuống xe buýt của hãng Greyhound ở một điểm không phù hợp ? Tôi đang ở trong một căn phòng sang trọng và đầy đủ. Tôi thấy văn phòng trong các ngân hàng Thụy Sĩ còn chả được như thế này. Tôi đang ở cùng hai cảnh sát. Thông minh và chuyên nghiệp. Có lẽ hai người có tổng cộng hơn ba mươi năm kinh nghiệm. Một cơ quan cảnh sát đủ độ chín và đầy năng lực. Được sắp xếp nhân sự phù hợp và có ngân sách dồi dào. Có một điểm yếu là tên khốn Morrison ở trên đỉnh song như tôi đã thấy trong một thời gian thì đây vẫn là một tổ chức tốt. Nhưng họ đang đâm đầu vào ngõ cụt. Có vẻ họ tin rằng trái đất phẳng. Rằng bầu trời bang Georgia khổng lồ là một chiếc bát úp vừa khít bên trên. Tôi là kẻ duy nhất biết rằng trái đất tròn. "Có hai điều", tôi cất tiếng. "Người đàn ông bị bắn vào đầu ở tầm gần bằng vũ khí tự động có thiết bị giảm thanh. Phát đầu tiên làm ông ấy chết. Phát thứ hai nhằm đảm bảo chắc chắn điều đó. vỏ đạn biến mất. Điều đó có ý nghĩa thế nào với các ông ? Xét về mặt chuyên môn ấy ?" Finlay chẳng nói gì. Nghi phạm chính của viên thám tử này đang bàn về vụ án với ông ta như một đồng nghiệp. Với tư cách một điều tra viên, ông ta không nên cho phép điều đó. Ông ta nên ngắt lời tôi. Nhưng đội trưởng thám tử muốn nghe ý kiến của tôi. Tôi có thể thấy ông ta đang đấu tranh với bản thân. Cả người Finlay không động đậy nhưng đầu óc đang vật lộn như một con mèo bị nhốt trong bao.

"Tiếp đi," rốt cuộc viên cảnh sát lên tiếng. Đầy nghiêm nghị, như thể đây là một quyết định quan trọng. "Đó là một vụ hành quyết, ông Finlay," tôi nhận xét. "Không phải vụ cướp hay cãi lộn. Đó là vụ giết người lạnh lùng, không thể hiện chút cảm xúc nào. Không để lại bằng chứng nào. Đó là một gã khôn ngoan, sau khi ra tay thì cầm đèn pin lần tìm hai vỏ đạn cỡ nhỏ", "Tiếp đi," Finlay lại nói. "Phát bắn tầm gần vào thái dương trái", tôi nói. "Có thể nạn nhân đang ở trong xe hơi. Khi ấy kẻ bắn đang nói chuyện với nạn nhân qua cửa sổ xe thì giơ súng lên. Bùm. Hắn ngả người vào phía trong bắn phát thứ hai. Rồi hắn nhặt hai vỏ đạn và rời khỏi hiện trường." "Hắn rời hiện trường à ?" Finlay nói. "Vậy những thứ còn lại đổ xuống thì sao ? Ông đang cho là có kẻ thứ hai à ?" Tôi lắc đầu. "Có ba tên", tôi nói. "Điều đó thì rõ, đúng không ?" "Tại sao là ba ?" viên thám tử hỏi. "Thực tế là phải có ít nhất hai tên, đúng không ?" tôi nói. "Nạn nhân tới khu nhà kho đó bằng cách nào ? Ông ta lái xe, đúng chứ ? Dù xuất phát từ đâu thì tới đó cũng quá xa, không thể đi bộ. Vậy bây giờ xe của ông ấy đâu ? Hung thủ cũng không cuốc bộ tới đó. Thế nên thực tế phải có một nhóm tối thiểu hai tên. Chúng cùng nhau chạy xe tới và sau đó ra đi trên hai xe riêng rẽ, một trong hai tên chạy xe của nạn nhân." "Nhưng sao ?" Finlay nói. "Nhưng dấu vết thực tế cho thấy có ít nhất ba tên," tôi đáp. "Hãy nghĩ về điều đó từ khía cạnh tâm lý học. Đó là vấn đề mấu chốt đối với chuyện này. Một tên sử dụng súng tự động cỡ đạn nhỏ có thiết bị giảm thanh để bắn một phát gọn vào đầu nạn nhân và một phát để đảm bảo kết quả không phải loại người đột nhiên nổi cơn điên và đá nát thi thể nạn nhân, đúng không ? Và loại người điên loạn như thế sẽ không đột nhiên bình tĩnh lại giấu xác nạn nhân dưới đống bìa cứng. Các ông đang chứng kiến ba sự việc hoàn toàn riêng rẽ diễn ra ở đó, Finlay. Thế nên có ba gã liên quan tới vụ việc." Finlay nhún vai với tôi. "Có thể là hai", viên cảnh sát nói. "Có thể sau đó kẻ bắn đã dọn dẹp hiện trường." "Không thể", tôi nói. "Sẽ không có chuyện hắn chờ đợi. Hắn không thích kiểu điên loạn kia. Tình trạng đó sẽ khiến hắn bối rối. Và sẽ làm hắn lo

ngại bởi nó làm tăng khả năng bại lộ cũng như nguy cơ đối với toàn bộ vụ việc. Với một kẻ như thế, nếu như sau đó có dọn dẹp hiện trường thì hắn đã làm gọn ghẽ đâu ra đấy. Không đời nào hắn để lại cái xác ở nơi người gác đầu tiên phát hiện ra. Thế nên các ông đang tìm ba gã." Finlay suy nghĩ rất lung. "Vậy thì sao ?" ông ta hỏi. "Thế thì tôi bị coi là kẻ nào ?" tôi nói. "Kẻ bắn, tên điên hay thằng đần giấu cái xác ?" Finlay và Baker nhìn nhau. Không trả lời tôi. "Dù tôi là kẻ nào đi nữa, thì các ông đang tưởng tượng ra cái gì đây ?" tôi chất vấn. "Tôi đánh xe tới đó cùng hai đồng bọn, lúc nửa đêm chúng tôi giết người đàn ông đó, và rồi hai đồng bọn của tôi lái xe đi còn tôi chọn ở lại đó à ? Tại sao tôi làm thế ? Thật vớ vẩn, ông Finlay", Đội trưởng thám tử không nói gì. Ông ta đang suy nghĩ. "Tôi không có hai đồng bọn", tôi nói. "Hoặc có xe. Thế nên tốt nhất các ông nên lập luận là nạn nhân đã cuốc bộ tới đó, tôi đi bộ tới đó. Tôi gặp ông ấy, tôi bắn ông ấy một cách rất cẩn thận, như một sát thủ chuyên nghiệp, rồi lấy lại hai vỏ đạn, lấy ví của ông ấy, lấy sạch đồ trong các túi quần áo của nạn nhân nhưng lại quên lục giày ông ấy. Rồi tôi thay đổi hoàn toàn tâm tính và đá như một thằng điên cho cái xác nát ra. Rồi một lần nữa tôi thay đổi hoàn toàn tâm tính và giấu cái xác bằng một nỗ lực vô ích. Và rồi tôi chờ tám tiếng đồng hồ trong mưa và cuốc bộ vào thị trấn. Đó là cách tốt nhất các ông có thể lập luận. Và hoàn toàn nhảm nhí, ông Finlay. Bởi việc quái gì tôi lại đợi tám tiếng trong mưa cho tới khi trời sáng để cuốc bộ rời khỏi hiện trường án mạng ?" Finlay nhìn tôi một lúc lâu. "Tôi không hiểu vì sao ?" ông ta đáp. *** Một người như Finlay không nói điều như thế trừ phi ông ta đang đấu tranh. Ông ta trông mất tự tin. Vụ án của viên thám tử này hoàn toàn vớ vẩn, ông ta biết điều ấy. Nhưng Finlay gặp phải vấn đề nghiêm trọng với bằng chứng mới của viên đồn trưởng. Ông ta không thể bước tới sếp của mình và nói: anh toàn nói vớ vẩn, Morrison. Đội trưởng thám tử không thể chủ động tìm kiếm kẻ khác một khi sếp ông ta đã đặt một nghi phạm lên đĩa. Finlay có thể xác minh kỹ hơn bằng chứng ngoại phạm của tôi. Ông ta có thể làm điều

ấy. Không ai chỉ trích viên thám tử vì tính cẩn thận. Rồi đến thứ Hai ông ta có thể bắt đầu lại. Thế nên Finlay khổ sở bởi sẽ có bảy mươi hai giờ bị lãng phí. Và ông ta có thể thấy trước một rắc rối lớn. Ông ta phải nói với sếp của mình rằng trên thực tế không thể có chuyện tôi đã ở đó lúc nửa đêm hôm qua. Finlay sẽ phải khéo léo dụ để lão béo rút lại nhận định của mình. Đó là điều khó thực hiện khi ta là một tay cứng đầu mới làm việc được sáu tháng. Và khi kẻ ta phải giải trình thực sự là một tên khốn kiếp. Và lại là sếp ta. Khó khăn đang đổ lên đầu Finlay, ông ta khổ sở về chuyện ấy như chết đến nơi. Viên thám tử ngồi yên, thở gấp. Đầy khổ sở. Đã đến lúc giúp ông ta thoát ra. "Số điện thoại," tôi nói. "Các ông đã xác định nó là số di động à ?" "Thông qua mã," Finlay đáp. "Thay vì dùng mã vùng, người ta dùng một con số ở đầu để kết nối với mạng di động." . "Được rồi", tôi nói. "Nhưng các ông không thể xác định số điện thoại đó thuộc về ai bởi các ông không có danh bạ tra ngược dành cho số di động và công ty dịch vụ sẽ không công bố cho các ông biết, đúng không ?" "Họ cần có lệnh bắt", viên thám tử đáp. "Nhưng các ông cần biết đó là số điện thoại của ai phải không ?" tôi hỏi. "Ông biết cách thực hiện việc đó mà không cần dùng tới lệnh bắt hả ?" Finlay hỏi. "Có thể," tôi nói. "Tại sao ông không thử gọi số đó xem ai nghe máy chứ ?" Họ đã không nghĩ đến chuyện đó. Lại im lặng. Họ bối rối. Họ không muốn nhìn nhau. Hoặc nhìn tôi. Im lặng. Baker lảng tránh sự vụ. Để bóng trong chân Finlay. Ông ta thu chỗ hồ sơ lại và làm hiệu ra ngoài để xử lý chúng. Finlay gật đầu vẫy tay bảo Baker ra. Baker đứng dậy đi ra. Thực tế là còn đóng cửa rất khẽ. Finlay mở miệng. Rồi lại khép vào. Ông ta cần giữ thể diện một chút. Muốn lắm. "Đổ là số di động", đội trưởng thám tử nói. "Nếu tôi gọi số ấy, tôi không thể biết đó là số của ai hay đang ở đâu." "Nghe này, ông Finlay," tôi nói. "Tôi chẳng quan tâm đó là số của ai. Tất cả những gì tôi quan tâm là nó không phải số của tôi. Hiểu ý tôi chứ ? Nó không phải số điện thoại của tôi. Thế nên hãy gọi số đó và John Doe ở Atlanta hay Jane Doe ở Charleston bắt máy. Rồi ông sẽ biết đó không phải số điện thoại của tôi", Finlay chăm chăm nhìn tôi. Gõ ngón tay xuống bàn. Im lặng.

"Ông biết cách làm việc này thế nào," tôi nói. "Gọi vào số đó, bịa câu chuyện vớ vẩn nào đó về một lỗi kỹ thuật hay hóa đơn chưa thanh toán, vấn đề gì đó liên quan tới máy tính, bảo người đó xác nhận tên và địa chỉ. Hãy làm đi, Finlay, hẳn ông là một thám tử ra trò đấy", Viên cảnh sát rướn người tới chỗ đã để mẩu giấy ghi số điện thoại. Dùng các ngón tay dài màu nâu kéo về. Xoay lại để đọc, rồi nhấc điện thoại lên. Bấm số. Bấm phím mở loa ngoài. Nhạc chờ vang lên. Không phải âm đơn sắc dài như điện thoại bàn mà là âm thanh điện tử cao, gấp. Nhạc ngừng lại. Cuộc gọi được kết nối. "Paul Hubble đây," một giọng nói vang lên. "Tôi có thể giúp gì được đây ?" Giọng miền Nam. Phong cách tự tin. Quen với việc sử dụng điện thoại. "Ông Hubble phải không ?" Finlay hỏi. Ông ta nhìn xuống bàn và ghi lại cái tên. "Chúc ông có buổi chiều vui vẻ. Đây là công ty điện thoại, bộ phận di động. Tôi là giám đốc kỹ thuật. Chúng tôi nhận được thông báo về lỗi xuất hiện ở số điện thoại của ông", "Lỗi à ?" giọng kia nói. "Tôi thấy có vẻ ổn. Tôi không thông báo lỗi mà." "Gọi đi thì ổn," Finlay nói."Việc gọi đến cho ông có thể gặp trục trặc. Ngay lúc này chúng tôi đang kết nối thiết bị đo cường độ tín hiệu, và thực ra nó đang báo là hơi thấp, thưa ông. 'Tôi có thể nghe rõ ông nói", giọng kia bảo. "A lô ?" Finlay nói. 'Tôi nghe không rõ lắm, ông Hubble. A lô ? Nếu tôi biết được vị trí chính xác điện thoại của ông vào lúc này thì sẽ tốt cho tôi, thưa ông, ông biết đấy, vì có liên quan tới các trạm phát sóng của chúng tôi", "Tôi đang ở ngay nhà thôi", đầu dây bên kia trả lời. "Vâng," Finlay nói. Ông ta cầm bút lên lần nữa. "Ông có thể khẳng định địa chỉ chính xác cho tôi được không ?" "Các ông không có địa chỉ của tôi à ?" giọng kia hỏi. Kiểu đùa giữa cánh đàn ông với nhau. "Hình như tháng nào các ông cũng cố gửi được cho tôi một hóa đơn đấy." Finlay liếc tôi. Tôi mỉm cười với ông ta. Viên thám tử nhăn mặt. "Ngay lúc này tôi đang ở phòng kỹ thuật, thưa ông", ông ta nói. Cũng đùa. Chỉ giữa hai người bình thường đánh vật với công nghệ. "Thông tin chi tiết về khách hàng nằm ở một phòng khác. Tôi có thể truy nhập dữ liệu đó nhưng sẽ mất một phút, ông biết thế nào mà. Mà thưa ông, dù gì thì ông cũng

phải tiếp tục nói trong khi thiết bị đo này đang kết nối để cho tôi biết chính xác kết quả đo, ông biết chứ ? Ông có thể đọc địa chỉ của mình, trừ phi ông có một bài thơ yêu thích hay bất kỳ thứ gì đó khác." Chiếc loa bé xíu truyền lại tiếng cười của vị khách hàng tên Hubble. "Được rồi, bắt đầu đây, kiểm tra, kiểm tra", giọng anh ta cất lên. "Đây là Paul Hubble, ở ngay tại nhà, là số 25 Beckman Drive, tôi nói lại lần nữa, 0- 2-5 Beckman Drive, ngay ở thị trấn nhỏ cổ kính Margrave này, đó làM-A-R￾G-R-A-V-E nằm ở bang Georgia, Mỹ. Cường độ tín hiệu của tôi thế nào ?" Finlay không trả lời. Ông ta trông rất lo lắng. "A lô ?" giọng kia hỏi. "Ông vẫn ở đó chứ ?" "Vâng, thưa ông Hubble," Finlay trả lời. "Tôi vẫn ở đây. Không phát hiện ra trục trặc nào, thưa ông. Tôi đoán đó chỉ là thông báo sai. Cảm ơn sự giúp đỡ của ông", "OK", người tên Hubble nói. "Không có gì." Kết nối chấm dứt và chuông quay số lại lan ra khắp phòng. Finlay đặt máy xuống. Ngả người ra sau nhìn lên trần. Tự nói với mình. "Khốn nạn", ông ta nói. "Ngay trong thị trấn. Tay Paul Hubble này là kẻ quái quỷ nào nhỉ ?" "Ông không biết người đó à ?" tôi hỏi. Đội trưởng thám tử nhìn tôi. Hơi ân hận. Kiểu như ông ta đã quên là tôi đang có mặt ở đây. "Tôi mới ở đây được sáu tháng," ông ta nói. "Sao tôi biết tất cả mọi người được." Ông ta rướn người bấm nút đàm thoại nội bộ trên chiếc bàn gỗ hồng sắc. Gọi Baker trở lại phòng. "Anh đã bao giờ nghe nói tới tay nào tên là Paul Hubble chưa ?" Finlay hỏi ông ta. "Paul Hubble, sống trong thị trấn này, số 25 Beckman Drive ấy ?" "Paul Hubble à ?" Baker nói. "Chắc chắn có. Anh ta sống ở đây, như ông nói, luôn ở đây. Mẫu người của gia đình. Stevenson biết anh ta, dạng anh em rể hay gì đó. Tôi nghĩ họ cũng thân thiết đấy. Có đi chơi bowling với nhau. Hubble làm ngành ngân hàng. Dạng làm về tài chính, ông biết đấy, một dạng giám đốc điều hành có cỡ làm việc ở Atlanta. Cho một ngân hàng lớn ở đó. Thi thoảng tôi thấy anh ta quanh đây", Finlay nhìn Baker. "Anh ta là người bắt máy khi gọi theo số này," ông ta nói. "Hubble à ?" Baker hỏi. "Ngay tại Margrave này à ? Quả là chuyện lạ

đời thật." Finlay xoay trở lại phía tôi. "Tôi cho là ông sắp nói rằng ông chưa bao giờ nghe nói tới tay này phải không ?" "Chưa bao giờ nghe nói tới anh ta," tôi đáp. Đội trưởng thám tử quắc mắt với tôi rất nhanh. Rồi quay lại phía Baker. "Anh nên đi thỉnh tay Hubble này tới đây”, ông ta nói. "25 Beckman Drive. Chỉ có Chúa mới biết anh ta liên quan thế nào, nhưng chúng ta nên nói chuyện với anh ta. Hãy nhẹ nhàng với Hubble, anh biết đấy, có lẽ anh ta là một người đáng được tôn trọng." Finlay quắc mắt với tôi lần nữa và rời khỏi phòng. Đóng sầm cánh cửa nặng nề. Baker vươn người tắt chiếc đài ghi âm. Giải tôi khỏi phòng. Trở về buồng giam. Tôi bước vào. Ông ta theo sau và tháo còng tay. Móc trở lại thắt lưng. Bước trở ra rồi đóng cửa. Vặn khóa. Những chiếc chốt điện xoay về chỗ cũ. Baker bước đi. "Này ông Baker," tôi gọi. Ông ta xoay người bước lại. Nhìn một cách lãnh đạm. Không thân thiện. "Tôi muốn chút gì đó để ăn," tôi bảo. "Và cả cà phê." "Ông sẽ ăn tại cơ sở của bang," ông ta nói. "Xe vận chuyển sẽ tới lúc sáu giờ." Viên cảnh sát bước đi. Ông ta phải đi đưa Hubble về. Ông ta sẽ rón rén tới bên Hubble với vẻ có lỗi. Đề nghị anh ta tới đồn cảnh sát, nơi anh ta sẽ được Firday tiếp đón nhã nhặn. Trong khi tôi đứng trong buồng giam, Finlay sẽ lịch sự hỏi Hubble tại sao người ta tìm thấy số điện thoại của anh ta trong giày một người đàn ông đã chết. Chiếc áo khoác của tôi vẫn cuộn trên sàn buồng giam. Tôi giũ ra mặc vào. Tôi lại thấy lạnh. Thọc hai tay vào túi. Tựa người vào chấn song và cố gắng đọc hết tờ báo lần nữa, chỉ để giết thời gian. Nhưng tôi chẳng tiếp nhận được gì. Tôi đang mải nghĩ tới kẻ đã đứng quan sát đồng bọn của mình bắn vào đầu một người. Kẻ đã túm lấy cái xác đang co giật và đá nó lăn khắp mặt đất. Kẻ đã sử dụng đủ sức mạnh của cơn điên giận để làm nát mọi chiếc xương trên cơ thể người đã chết. Tôi đứng suy nghĩ về những chuyện tôi cho là mình chẳng còn liên quan gì. Những chuyện tôi không muốn nghĩ tới thêm chút nào nữa. Thế nên tôi ném tờ báo xuống thảm và cố gắng nghĩ về chuyện khác.

Tôi phát hiện ra rằng nếu dựa vào góc xa ở mặt trước buồng giam thì sẽ nhìn thấy toàn bộ khu vực thoáng. Tôi có thể phóng mắt qua quầy tiếp tân và nhìn ra ngoài qua các cửa kính dày. Bên ngoài, mặt trời buổi chiều gay gắt nóng. Nơi này lại trông như một chốn khô hạn bụi bặm. Cơn mưa nặng hạt đã rời khỏi đây. Trong phòng mát mẻ sáng ánh đèn huỳnh quang. Viên thượng sĩ làm văn phòng ngồi thẳng trên ghế. Ông ta đang gõ bàn phím. Có lẽ đang lập hồ sơ. Tôi có thể trông thấy phía sau quầy của ông này. Phía dưới là các khoảng không gian được thiết kế để từ mặt trước không nhìn thấy được. Các khoang gọn gàng chứa giấy tờ và các cặp hồ sơ gáy cứng. Có những chỗ để bình xịt hơi cay. Một khẩu súng trường. Các nút báo động. Phía sau viên thượng sĩ, người phụ nữ mặc sắc phục đã lấy vân tay tôi đang bận việc. Làm việc trên bàn phím. Căn phòng lớn tưởng như yên tĩnh vẫn rì rầm với nhịp độ của hoạt động điều tra.

4 Người ta tiêu vài ngàn đô la cho các hệ thống âm thanh nổi. Đôi khi vài chục ngàn đô. Ngay ở nước Mỹ đây còn có một ngành chuyên sâu chế tạo thiết bị âm thanh nổi đáp ứng những tiêu chuẩn mà ta không thể tin nổi. Dàn âm ly đèn chân không có giá trị hơn một căn nhà. Những chiếc loa cao hơn tôi. Cáp to hơn cả vòi nước tưới vườn. Một số tay trong quân đội sở hữu những thứ đó. Tôi đã nghe những hệ thống ấy ở các căn cứ trên khắp thế giới. Tuyệt vời. Nhưng người ta đang lãng phí tiền của mình. Bởi hệ thống âm thanh nổi tốt nhất thế giới lại miễn phí. Trong đầu ta. Nó phát ra âm thanh tốt như mức ta muốn. Và lớn như mức ta muốn. Tôi tựa vào góc của mình, đầu dạo một khúc của Bobby Bland (Robert Calvin Bland – nhạc sĩ nổi tiếng dòng nhạc blues và soul ở Mỹ). Một bản cũ tôi thích. Nó vang lên thực sự lớn. "Further on up the road" (trên con đường phía trước – lời bài hát này nói về luật nhân quả) Bobby Bland hát bài này bằng giọng son trưởng. Nốt này tạo ra sắc thái lạ, tươi tắn, vui vẻ. Loại bỏ chất cay nghiệt trong ca từ. Khiến nó trở thành một lời than vãn, một lời dự báo, một lời an ủi. Khiến nó thực hiện việc dòng nhạc blues phải làm. Giọng son trưởng thư thái gần như trải nó ra thành giai điệu ngọt ngào. Không lên gân. Nhưng rồi tôi trông thấy lão đồn trưởng béo ị bước qua. Morrison đi qua buồng giam về phía căn phòng lớn ở phía cuối. Vừa đúng lúc bắt đầu đoạn thứ ba. Tôi nghiến răng hạ tông bài hát xuống nốt mi giáng. Một nốt tối tăm và đầy đe dọa. Nốt nhạc blues thực sự. Tôi xóa đi Bobby Bland dễ chịu và thân thiện. Tôi cần giọng mạnh hơn. Thứ gì đó ghê gớm hơn. Là nhạc nhưng với chất giọng thực sự the thé của thuốc lá và rượu mạnh. Có lẽ là Wild Child Butler (George “Wild Child” Butler (1936 - 2005): một ca sĩ, nhạc công dòng blues ở Mỹ).. Một người mà ta không muốn gây chuyện. Tôi vặn cao âm lượng trong đầu ở đoạn nói về chuyện trên con đường phía trước ta gặt hái những gì đã gieo. Morrison đã nói dối về buổi đêm qua. Tôi đã không có mặt ở đây lúc nửa đêm. Trong một quãng thời gian nhất định tôi có thể chấp nhận khả năng đó là sự nhầm lẫn. Có thể lão đã trông thấy ai đó giống tôi. Nhưng điều đó đang khiến lão cho rằng mình đúng nhưng chưa đủ bằng chứng. Ngay lúc này đây tôi muốn thúc cùi chỏ vào giữa mặt lão. Cho cái mũi to của lão giập và bắn tóe khắp nơi. Tôi nhắm mắt lại. Wild Child Butler và tôi đã hứa với nhau rằng điều đó sẽ xảy ra. Trên con đường phía trước.

*** Tôi mở mắt và tắt nhạc trong đầu. Đứng trước mặt tôi, bên ngoài song sắt là viên sĩ quan nữ đã lấy dấu vân tay của tôi. Cô đi lấy cà phê ở chỗ máy hâm cà phê về. "Tôi mang cho anh một tách cà phê được chứ ?" Cô hỏi tôi. "Chắc chắn rồi," tôi đáp. "Thật tuyệt. Không kem, không đường nhé." Nữ cảnh sát đặt tách của mình xuống chiếc bàn gần nhất rồi quay lại máy ủ cà phê. Rót từ bình cho tôi một tách rồi bước lại. Đây là một phụ nữ đẹp. Tầm ba mươi, da sẫm, không cao. Nhưng gọi cô là người tầm thước thì không công bằng. Ở cô toát lên sức sống mạnh mẽ. Nó thể hiện qua tác phong khẩn trương song rất ân cần trong căn phòng tôi bị thẩm vấn lần đầu tiên. Một tác phong chuyên nghiệp. Giờ đây có vẻ cô thoát khỏi công việc. Có lẽ thế. Có lẽ mang cà phê cho một nghi can là việc trái với các quy định của lão béo. Điều đó khiến tôi thấy thích cô. Nữ cảnh sát đưa tách cà phê qua song sắt. Ở tầm gần cô trông đẹp. Thơm nữa. Mùi thơm mà tôi không nhớ đã từng gặp chưa. Tôi nhớ rằng mình đã nghĩ về cô như nữ y tá nha khoa. Nếu các nữ y tá nha khoa đều đẹp thế này thì tôi đã đến phòng khám nha khoa thường xuyên hơn. Tôi nhận lấy tách. Tôi vui vì việc này. Tôi đang khát, lại thích uống cà phê. Nếu để tôi uống thả phanh thì tôi có thể uống cà phê như tay nghiện rượu nốc vodka. Tôi nhấp một ngụm. Cà phê ngon. Tôi nâng tách lên như nâng cốc chúc mừng. "Cảm ơn cô," tôi nói. "Không có gì," cô nói và mỉm cười, đôi mắt cũng cười. Tôi mỉm cười đáp lại. Đôi mắt nữ cảnh sát như một lời chào đón bằng ánh nắng sáng ấm trong buổi chiều ảm đạm. "Vậy là cô nghĩ tôi không làm việc đó à ?" tôi hỏi cô. Nữ cảnh sát cầm tách của mình lên. "Anh nghĩ tôi không mang cà phê cho tội phạm sao ?" cô hỏi lại. "Có khi cô thậm chí chẳng nói chuyện với tội phạm ấy chứ", tôi đáp. "Tôi biết anh không có tội lỗi gì mấy," cô nói. "Sao cô biết ?" tôi hỏi. "Bởi hai mắt tôi không sát nhau à ?" "Không, đồ ngốc," nữ cảnh sát bật cười. "Bởi vì chúng tôi vẫn chưa nhận được thông tin từ Washington." Tiếng cười của cô thật tuyệt. Tôi muốn nhìn thẻ tên của nữ cảnh sát trên túi áo. Nhưng chẳng muốn khiến cô nghĩ rằng tôi đang ngắm bộ ngực cô.

Tôi nhớ nó đã tì lên cạnh bàn lúc cô chụp ảnh tôi. Tôi đã nhìn. Bộ ngực đẹp. Tên cô là Roscoe. Nữ cảnh sát liếc quanh khá nhanh và tiến sát tới song sắt. Tôi nhấp cà phê. "Tôi đã gửi các dấu vân tay của anh tới Washington qua mạng máy tính," Roscoe nói. "Lúc đó là 12 giờ 36. Ở đó có cơ sở dữ liệu lớn, anh biết chứ, của FBI ấy ? Trong máy tính của họ có vài triệu dấu vân tay. Các dấu vân tay gửi tới đó được kiểm tra. Có thứ tự theo mức ưu tiên. Anh được so sánh với danh sách mười kẻ bị truy nã hàng đầu, rồi tới một trăm, rồi một ngàn, anh hiểu không ? Nếu anh nằm ở gần tốp đầu, khớp và chưa bị tóm, chúng tôi sẽ nhận được phản hồi gần như ngay lập tức. Việc ấy diễn ra một cách tự động. Người ta không muốn bỏ lọt bất kỳ tên tội phạm cỡ bự nào nên hệ thống trả lời ngay. Nhưng thông tin về anh nằm ở đó gần ba tiếng rồi mà chúng tôi vẫn chưa nghe được tin tức gì. Thế nên tôi có thể nói rằng anh không năm trong hồ sơ vụ gì rất tệ hại." Viên thượng sĩ làm văn phòng đang nhìn sang. Tỏ thái độ không nhất trí. Nữ cảnh sát sắp phải đi. Tôi uống nốt chỗ cà phê, trả lại tách cho cô qua song sắt. 'Tôi chẳng nằm trong hồ sơ vụ nào hết", tôi nói, "Phải", Roscoe nói. "Anh không khớp với lý lịch của những kẻ xấu." "Không hả ?" tôi hỏi. "Tôi có thể xác định ngay." Nữ cảnh sát cười. "Anh có đôi mắt đẹp", Roscoe nháy mắt rồi bước đi. Bỏ hai chiếc tách vào thùng rác và bước về chỗ làm việc của cô. Rồi ngồi xuống. Tất cả những gì tôi có thể trông thấy là phần gáy của nữ cảnh sát. Tôi chuyển về góc của mình và tựa vào những song sắt cứng. Tôi đã là một kẻ lang thang cô đơn sáu tháng nay. Tôi học được một điều. Như Blanche trong bộ phim ngày trước, một người lang thang sống nhờ vào lòng tốt của người lạ. Không vì điều gì cụ thể hay hữu hình. Mà vì đạo đức. Tôi chăm chăm nhìn vào phần gáy của Roscoe và mỉm cười. Tôi thích cô. *** Baker đi phải đến hai mươi phút rồi. Đủ thời gian từ nhà Hubble trở lại đây, dù nhà anh ta có ở đâu chăng nữa. Tôi cho là ta có thể cuốc bộ tới đó và trở lại sau hai mươi phút. Đây là thị trấn nhỏ, phải không ? Một dấu chấm trên bản đồ. Tôi nghĩ có thể đi bộ tới bất kỳ chỗ nào và trở lại trong hai mươi phút. Khá gần. Cho dù đường ranh giới của thị trấn rất kỳ quặc. Tùy thuộc ở

việc Hubble sống trong thị trấn hay ở nơi khác trong phạm vi ranh giới ngoài của thị trấn. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, ta vẫn được coi là còn ở trong thị trấn ngay cả khi ta đã cách nó mười bốn dặm. Nếu mười bốn dặm ấy kéo dài về mọi hướng thì Margrave phải lớn bằng thành phố New York. Baker đã nói rằng Hubble là mẫu người của gia đình. Một người làm ngành ngân hàng làm việc ở Atlanta. Thế nghĩa là nhà anh ta ở đâu đó gần thành phố. Gần trường học và bạn bè để thuận lợi cho lũ trẻ. Gần các cửa hiệu và câu lạc bộ nông thôn để tiện cho vợ. Để anh ta có thể dễ dàng lái xe theo tỉnh lộ tới quốc lộ. Thuận tiện cho việc tới văn phòng ở thành phố lớn bằng quốc lộ. Cái địa chỉ nghe như địa chỉ ở phố. Số 25 Beckman Drive. Không gần Phố Chính lắm. Có lẽ Beckman Drive chạy từ trung tâm thị trấn ra khu vực làng xóm. Hubble là tay làm trong ngành tài chính. Có lẽ giàu có. Có khi sở hữu căn nhà lớn màu trắng trên một lô đất rộng. Những cây lớn xòe bóng mát. Có thể cả bể bơi. Cứ coi là bốn acre đi (Đơn vị đo diện tích, 1 acre - 4.046 m2).. Một lô vuông vắn có diện tích bốn acre sẽ có mỗi chiều khoảng một trăm bốn mươi mét. Các nhà nằm ở cả hai bên con phố nên số 25 sẽ nằm cách thị trấn chừng mười hai lô. Có lẽ chừng một dặm. *** Bên ngoài cửa kính, mặt trời đang dần hạ thấp cho chiều tối. Ánh sáng dần đỏ hơn. Các bóng nắng đổ dài hơn. Tôi trông thấy chiếc xe tuần tra của Baker nhấp nhô chạy vào lối nối đồn với đường chính. Không chớp đèn. Nó chầm chậm chạy quanh hình bán nguyệt và từ từ dừng lại. Xóc lên một lần. Độ dài của nó choán toàn bộ tầm nhìn qua lớp kính dày. Baker ra khỏi xe ở phía cửa bên kia và khuất khỏi tầm quan sát khi ông ta vòng qua bên này. Viên cảnh sát lại xuất hiện khi đến bên cửa cạnh ghế phụ. Baker mở cửa như một tài xế chuyên nghiệp. Trông ông ta như xoắn cả người vì ngôn ngữ cơ thể không thống nhất. Một phần bày tỏ sự tôn trọng vì đây là một tay làm trong ngành ngân hàng ở Atlanta. Một phần thân thiện bởi đây là bạn chơi bowling của đồng nghiệp ông ta. Một phần nghiêm túc bởi đây là người có số điện thoại được giấu trong giày một xác chết. Paul Hubble ra khỏi xe. Baker đóng cửa. Hubble chờ đợi. Baker bước vòng qua anh ta và kéo cánh cửa kính lớn của đồn. Nó mở ra dù lớp doăng cao su níu lại. Hubble bước vào trong. Người này da trắng, cao. Anh ta trông như một trang tạp chí. Một trang quảng cáo. Kiểu quảng cáo sử dụng một bức ảnh sặc hơi tiền. Hubble ngoài

ba mươi một chút. Trông mảnh dẻ chứ không khỏe mạnh. Mái tóc màu cát, rối bù, cắt ngắn vừa đủ lộ ra đôi lông mày thể hiện sự thông minh. Thế cũng đủ nói với thiên hạ rằng: đúng, tôi từng là một tay công tử, nhưng này, giờ tôi là một người đàn ông đấy. Hubble đeo cặp kính tròn gọng vàng. Anh ta cằm vuông. Làn da rám nắng đẹp. Hàm răng rất trắng. Nhiều chiếc phô rõ lúc anh ta mỉm cười với viên thượng sĩ làm văn phòng. Hubble mặc áo phông cổ bẻ đã phai màu có in biểu tượng nho nhỏ quần vải conon chéo. Loại quần áo trông cũ khi ta mua với giá năm trăm đô la. Hubble khoác một chiếc áo len dày màu trắng trên vai. Hai tay đan hờ vào nhau phía trước. Tôi không thể trông thấy chân người này vì bị chiếc bàn chắn mắt. Nhưng chắc chắn Hubble đi giày kiểu thuyền màu nâu sáng. Tôi dám cá là Hubble đi giày không tất. Đây là một gã đàn ông chìm đắm trong giấc mơ của một công tử giỏi giang như con lợn dầm mình trong đóng phân vậy. Hubble đang trong trạng thái bị khích động. Anh ta đặt hai lòng hàn tay lên quầy tiếp tân rồi quay lại, tay buồng xuống. Tôi trông thấy hai cánh tay màu nâu vàng và ánh lấp lánh của chiếc đồng hồ đeo tay nặng nề bằng vàng. Tôi có thể thấy rằng nếu tự nhiên, Hubble sẽ hành động như một gã giàu có thân thiện. Thăm đồn cảnh sát như lão tổng thống đang vận động tranh cử tới thăm một nhà máy. Nhưng người này đang lo lắng. Căng thẳng. Tôi không biết Baker đã nói gì với anh ta. Ông ta đã tiết lộ những gì. Có lẽ chẳng gì hết. Một viên thượng sĩ giỏi như Baker sẽ dành lại những thông tin gây ngạc nhiên cho Finlay. Thế nên Hubble không biết tại sao anh ta có mặt ở đây. Nhưng anh ta đã biết điều gì đó. Tôi cũng có thể coi là cảnh sát trong mười ba năm, tôi có thể đánh hơi thấy một người đang lo lắng khi còn cách xa cả dặm. Hubble đang lo lắng. Tôi vẫn tựa vào các song sắt, bất động. Baker ra hiệu cho Hubble cùng ông ta bước vòng qua phía bên kia phòng họp, về phía căn phòng toàn đồ gỗ hồng sắc ở phía sau. Lúc Hubble vòng qua đầu quầy tiếp tân, tôi trông thấy chân anh ta. Đôi giày kiểu thuyền màu nâu sáng. Không tất. Hai người bước vào phòng, ra khỏi tầm quan sát của tôi. Cánh cửa khép lại. Viên thượng sĩ làm văn phòng rời vị trí đi ra ngoài để đánh chiếc xe của Baker vào bãi đậu. Ông ta trở lại cùng Finlay. Finlay bước thẳng tới căn phòng đầy gỗ hồng sắc, nơi Hubble đang đợi ông ta. Lúc đi ngang qua phòng họp, ông ta lờ tôi đi. Mở cửa căn phòng kia và bước vào. Tôi ở góc của mình chờ Baker đi ra. Baker không thể ở trong đó. Không thể ở đó trong khi anh bạn chơi

bowling của đồng nghiệp ông ta tiến vào quỹ đạo của cuộc điều tra án mạng. Làm thế sẽ không phù hợp chuẩn mực. Không phù hợp chút nào. Finlay tạo cho tôi ấn tượng về một người đề cao các chuẩn mực. Bất kỳ tay nào mặc bộ com lê vải tuýt cùng gi lê giả da và được đào tạo ở Harvard cũng đều đề cao chuẩn mực. Một lúc sau cửa mở và Baker bước ra. Ông ta bước vào khoảng không gian thoáng rộng rãi rồi tiến về phía bàn mình. "Này, ông Baker", tôi gọi. Viên cảnh sát đổi hướng bước về phía buồng giam. Đứng trước hàng song sắt. Nơi Roscoe đã đứng. "Tôi cần đi vệ sinh," tôi nói. "Chẳng hay tôi có phải đợi cho tới khi đến khu giam giữ lớn mới được làm việc đó không ?" Baker nhếch miệng cười. Miễn cưỡng nhưng vẫn là cười. Viên cảnh sát này có một chiếc răng vàng. Tạo cho ông ta vẻ ngang tàng. Như thế trông ông ta có phần phàm tục hơn. Baker hét gì đó với viên cảnh sát làm hành chính. Có lẽ là ám hiệu cho một thủ tục. Ông ta lấy chùm chìa khóa của mình và mở chiếc khóa điện. Các chốt cửa bật ra. Trong chốc lát tôi băn khoăn chúng sẽ hoạt động thế nào khi mất điện. Liệu người ta có thể khóa những cánh cửa này khi không có điện không ? Tôi hy vọng là có. Có lẽ ở đây xảy ra nhiều giông sét. Nhiều đường dây điện bị đứt. Baker đẩy cánh cửa nặng nề vào phía trong. Chúng tôi bước tới cuối phòng họp. Góc đối diện với căn phòng toàn đồ gỗ hồng sắc. Có gian sảnh. Qua sảnh là hai phòng vệ sinh. Baker nhoài người qua tôi mở cửa phòng dành cho nam giới. Họ biết rằng tôi không phải kẻ họ cần tóm. Họ không quan tâm. Chẳng quan tâm chút nào. Khi ở ngoài sảnh tôi đã có thể hạ gục Baker và tước khẩu súng lục của ông ta. Không gặp chút khó khăn nào. Tôi đã có thể giật vũ khí ở thắt lưng viên cảnh sát này trước khi ông ta đổ xuống sàn. Tôi đã có thể lao ra khỏi đồn, nhảy vào xe tuần tra. Xe đậu cả ở phía trước. Chắc chắn vẫn cắm chìa khóa. Tôi đã có thể phóng khỏi đồn về phía Atlanta trước khi họ kịp sắp xếp đội hình truy bắt hiệu quả. Rồi tôi đã có thể biến mất. Chẳng gặp chút khó khăn nào. Nhưng tôi vẫn bước vào nhà vệ sinh. "Đừng khóa cửa", Baker bảo. Tôi không khóa. Họ đang đánh giá tôi quá thấp. Tôi đã bảo họ rằng tôi từng là quân cảnh. Có thể họ tin, có thể không. Có thể dù thế nào thì chuyện đó cũng chẳng có ý nghĩa mấy đối với họ. Nhưng đúng ra thì họ nên lưu tâm tới chuyện đó. Một quân cảnh xử lý những kẻ vi phạm quân luật. Những kẻ đó là quân nhân tại ngũ. Được huấn luyện kỹ về sử dụng vũ khí, phá hoại,

chiến đấu tay không, lính đặc nhiệm Ranger, lính Mũ nồi xanh, lính thủy đánh bộ. Không chỉ là sát thủ. Mà là sát thủ được huấn luyện. Được huấn luyện tinh nhuệ, bằng khoản ngân sách khổng lồ. Thế nên quân cảnh còn được huấn luyện tốt hơn. Tốt hơn về sử dụng vũ khí. Tốt hơn khi tay không. Hẳn là Baker chẳng biết tí gì về chuyện ấy. Chưa bao giờ nghĩ về điều đó. Nếu không thì ông ta đã yêu cầu hai khẩu súng trường chĩa vào tôi chỉ để giải ra nhà vệ sinh. Nếu như ông ta nghĩ tôi là hung thủ. Tôi kéo khóa quần và quay lại sảnh. Baker đang đợi. Chúng tôi trở về khu giam giữ. Tôi bước vào buồng giam. Tựa vào góc của tôi. Baker kéo cánh cửa nặng nề đóng lại- Dùng chìa khóa khóa điện. Các chốt cửa bập vào. Viên cảnh sát bước đi, vào phòng họp. Hai mươi phút tiếp theo chìm trong im lặng. Baker làm việc tại bàn. Roscoe cũng thế. Viên thượng sĩ làm văn phòng ngồi trên ghế mình. Finlay thì ở trong căn phòng lớn cùng Hubble. Phía trên cửa trước có một chiếc đồng hồ kiểu hiện đại. Không được thanh thoát như chiếc đồng hồ cổ trong phòng nhưng cũng tích tắc chạy chậm như thế. Im lặng. 4 giờ 30. Tôi lại tựa vào chấn song chờ đợi. Im lặng. 5 giờ kém 15. *** Thời gian khởi động trở lại trước năm giờ. Tôi nghe thấy tiếng ồn ào phát ra từ căn phòng gỗ hồng sắc ở phía sau. Tiếng kêu, hét, các thứ đập mạnh. Ai đó đang thực sự rối loạn. Chuông đàm thoại nội bộ kêu ở bàn Baker và tiếng người khò khè. Tôi nghe thấy giọng Finlay. Căng lắm. Yêu cầu Baker vào trong đó. Baker đứng dậy đi tới. Gõ cửa bước vào. Cánh cửa kính dày được kéo ra và lão béo bước vào. Đồn trưởng Morrison. Lão hướng thẳng về phía căn phòng gỗ hồng sắc. Morrison bước vào thì Baker đi ra. Baker vội vã đến bàn tiếp tân. Thì thầm một câu dài đầy phấn khích vào tai viên thượng sĩ làm văn phòng. Roscoe đến bên hai người đó. Có một cuộc trao đổi ngắn gọn. Thông tin gì đó quan trọng. Tôi không thể nghe được đó là gì. Cách quá xa. Máy đàm thoại nội bộ trên bàn Baker lại khò khè. Ông ta trở lại căn phòng kia. Cánh cửa lớn phía trước lại mở lần nữa. Mặt trời ban chiều đang tỏa ánh nắng thấp. Stevenson bước vào trụ sở đồn. Từ lúc bị bắt tới giờ, đây là lần đầu tiên tôi trông thấy anh ta. Như thể sự phấn khích đang hút người ta vào đây. Stevenson nói chuyện với viên thượng sĩ làm văn phòng. Anh ta trở nên

khích động. Viên thượng sĩ nắm cánh tay Stevenson. Stevenson gạt ra và chạy về phía căn phòng gỗ hồng sắc. Anh ta lắt léo lách qua những chiếc bàn như một cầu thủ bóng đá. Khi Stevenson vừa đến cửa thì cửa mở. Một đám người bước ra. Đồn trưởng Morrison. Finlay. Baker, đang nắm khuỷu tay Hubble. Cái nắm nhẹ nhưng hiệu quả, như đã áp dụng với tôi. Stevenson trân trối nhìn Hubble và túm lấy cánh tay Finlay. Kéo ông ta trở vào phòng. Morrison xoay tấm thân đồ sộ đang đổ mồ hôi theo họ. Cánh cửa đóng sầm. Baker giải Hubble về phía tôi. Hubble trông như một người khác hẳn. Anh ta xám nhợt, mồ hôi túa ra. Làn da rám nắng đã biến mất. Anh ta trông nhỏ bé hơn. Hubble trông như bị ai đó rút hết không khí và để cho xẹp dí. Cơ thể anh ta co rúm lại như người bị hành hạ bởi cơn đau. Đôi mắt sau gọng kính vàng đờ đẫn, nhìn chăm chăm đầy vẻ hoảng loạn sợ hãi. Trong lúc Baker mở khóa buồng giam bên cạnh buồng tôi, Hubble đứng run rẩy. Anh ta không hề cử động. Anh ta đang run lên. Baker nắm lấy cánh tay Hubble đẩy vào trong. Ông ta kéo cửa khóa lại. Các chốt cửa chạy điện bập vào. Baker bước trở về căn phòng nhiều đồ gỗ hồng sắc. Hubble ở nguyên chỗ Baker đã đẩy vào. Đờ đẫn nhìn vào khoảng không. Rồi anh ta chầm chậm đi lùi tới khi kịch tường buồng giam. Anh ta tựa lưng vào đó và trượt người xuống sàn. Gục đầu xuống gối. Tay buồng thõng. Tôi có thể nghe tiếng ngón tay cái run rẩy gõ trên nền thảm bằng nylon cứng. Roscoe ngồi ở bàn chằm chằm nhìn anh ta. Viên thượng sĩ ở quầy tiếp tân ngó sang. Họ đang nhìn một con người suy sụp. *** Tôi nghe có lời qua tiếng lại trong căn phòng gỗ hồng sắc ở phía sau. Tiếng tranh cãi gay gắt. Tiếng bàn tay vỗ xuống bàn. Cửa mở và Stevenson bước ra cùng đồn trưởng Morrison. Stevenson trông như điên. Anh ta sải bước dọc theo lề của khoảng không gian rộng, cổ viên cảnh sát này cứng đờ vì giận dữ. Hai mắt anh ta như đóng đinh vào cửa trước. Stevenson đang phớt lờ lão béo đồn trưởng. Anh ta bước thẳng qua quầy tiếp tân, qua cánh cửa nặng nề ra bầu trời chiều đầy nắng. Morrison bước sau. Baker ra khỏi phòng bước về phía buồng giam của tôi. Chẳng nói gì. Chỉ mở cửa làm hiệu cho tôi ra ngoài. Tôi kéo chiếc áo choàng sát vào thân và bỏ lại tờ báo có những bức ảnh lớn về lão tổng thống ở Pensacola. Bước ra rồi theo Baker trở lại căn phòng đầy đồ gỗ hồng sắc.

Finlay đang ngồi bên bàn. Chiếc đài ghi âm vẫn còn đó. Đám dây nguồn lòng thòng. Không khí vẫn tĩnh và lạnh. Finlay trông có vẻ căng thăng. Ca vát của viên thám tử được kéo xuống. Ông ta thở hắt ra một hơi chất chứa ân hận. Tôi ngồi xuống ghế và Finlay vẫy tay làm hiệu cho Baker ra khỏi phòng. Cánh cửa nhẹ nhàng khép lại sau lưng viên cảnh sát. "Ở đây chúng tôi có một vụ, ông Reacher," Finlay nói. "Một vụ thực sự." Ông ta rơi vào trạng thái im lặng đầy lo lắng. Nửa giờ nửa xe chở tù sẽ tới. Tôi muốn họ sớm có kết luận. Finlay ngước lên lấy lại tập trung. Bắt đầu nói, nhanh, với cú pháp lịch lãm của Harvard trong trạng thái chịu sức ép. "Chúng tôi đưa anh chàng Hubble này tới đây, hiểu không ?" đội trưởng thám tử nói. "Có thể ông đã trông thấy anh ta. Người làm ngành ngân hàng ở Atlanta, hiểu không ? Bộ đồ hãng Calvin Klein giá cả ngàn đô. Đồng hồ Rolex vàng. Anh chàng rất căng thẳng. Ban đầu tôi nghĩ anh ta chỉ khó chịu. Ngay khi tôi bắt đầu nói là anh ta nhận ra giọng tôi. Từ cuộc gọi vào máy di động của anh ta. Tố cáo tôi có hành vi lừa dối. Nói rằng tôi không nên đóng vai người của công ty điện thoại. Tất nhiên là anh ta đúng." Lại một lần nữa rơi vào im lặng. Finlay đang vật lộn với vấn đề đạo đức nghề nghiệp của mình. 'Thôi, ông Finlay, tiếp tục đi," tôi nói. Tôi có không đầy nửa tiếng. ''Được rồi, thế là anh ta căng thẳng và khó chịu," Finlay nói. Tôi hỏi anh ta biết ông hay không. Jack Reacher, cựu quân nhân. Anh ta bảo không. Chưa bao giờ nghe nhắc tới ông. Tôi tin Hubble. Anh ta bắt đầu thư thái. Như thể toàn bộ chuyện này liên quan tới một tay tên Jack Reacher. Hubble chưa bao giờ nghe nhắc tới tay nào tên Jack Reacher, do vậy anh ta có mặt ở đây chẳng để làm gì. Anh ta thoải mái, hiểu không ?'' "Tiếp đi," tôi bảo. "Rồi tôi hỏi xem anh ta biết một người cao lớn đầu trọc không", Finlay nói. "Và hỏi anh ta về Pluribus. Ôi Chúa ơi ! Cứ như thọc dao vào Hubble vậy. Anh ta cứng đờ người. Như bị sốc. Cứng đờ cả người. Không trả lời. Thế nên tôi bảo anh ta rằng người đàn ông cao lớn ấy đã chết. Bị bắn chết. Trời, như thể thêm một nhát dao nữa ấy. Thực tế là anh ta ngã bổ khỏi ghế." 'Tiếp đi," tôi nói. Còn hai mươi lăm phút nữa là xe tù tới. "Hubble run hết cả người", Finlay nói. "Rồi tôi bảo anh ta rằng chúng tôi thấy số điện thoại giấu trong giày, số điện thoại của anh ta in trên một mẩu giấy, bên trên là từ 'Pluribus'. Đó là một nhát dao nữa",

Viên cảnh sát lại ngừng. Ông ta hết vỗ túi quần lại đến áo. " Anh ta không nói gì," ông ta tiếp tục. "Không một từ nào. Hubble cứng đơ vì sốc. Mặt mũi xám ngoét cả. Lúc ấy tôi nghĩ anh ta lên cơn đau tim. Miệng anh ta ngáp như cá. Nhưng anh ta không nói gì. Thế nên tôi bảo Hubble rằng chúng tôi thấy cái xác bị đá nát. Tôi hỏi anh ta xem còn ai khác liên quan. Tôi bảo anh ta rằng chúng tôi thấy cái xác bị giấu dưới đống bìa cứng. Hubble không hé răng lấy một lời. Chỉ liên tục ngó quanh. Sau một lúc tôi nhận ra rằng anh ta đang suy nghĩ như điên, cố gắng quyết định phải nói với tôi những gì. Hubble chỉ giữ im lặng và suy nghĩ như điên, phải tới bốn chục phút. Cả quãng thời gian đó cuốn băng vẫn chạy. Ghi lại bốn mươi phút im lặng. Finlay lại dừng. Lần này để tạo hiệu ứng. Ông ta nhìn tôi. "Rồi anh ta thú nhận", đội trưởng thám tử nói. "Tôi đã làm việc ấy, anh ta bảo. Tôi đã bắn ông ấy, anh ta bảo. Tay này thú tội, hiểu không ? Trên băng ghi lại như thế." "Tiếp đi," tôi bảo. "Tôi hỏi anh ta, anh cần luật sư không ?" Finlay nói. "Anh ta bảo không, liên tục nhắc lại rằng anh ta đã giết người kia. Thế nên tôi truyền đạt cho Hubble lời cảnh báo Miranda, to và rõ, băng có ghi. Rồi ông biết không, tôi chợt nghĩ anh ta bị điên hay sao đó. Thế nên tôi hỏi anh ta đã giết người nào. Anh ta đáp rằng người đàn ông cao trọc đầu. Tôi hỏi anh ta giết như thế nào. Hubble trả lời là bắn vào đầu. Tôi hỏi khi nào. Anh ta nói rằng đêm qua, khoảng nửa đêm. Tôi hỏi anh ta kẻ nào đã đá cái xác lăn lông lốc. Nạn nhân là ai. Pluribus nghĩa là gì. Hubble không trả lời. Lại lần nữa cứng đờ người vì sợ hãi. Từ chối nói bất kỳ lời nào. Tôi bảo anh ta rằng tôi không chắc anh ta đã làm tất cả những chuyện đó. Anh ta nhảy dựng lên túm lấy tôi. Hubble hét lên, tôi thú nhận, tôi thú nhận tôi đã bắn ông ấy, tôi đã bắn ông ấy. Tôi đẩy anh ta ra, anh ta im lặng." Finlay ngồi thẳng lại. Hai bàn tay đan vào nhau sau đầu. Nhìn tôi băn khoăn. Hubble là kẻ bắn sao ? Tôi không tin điều đó. Bởi sự khích động của anh ta. Những kẻ trong lúc đánh nhau hay trong cơn kích động dùng súng lục bắn bừa vào ngực đối thủ thì sau đó đều bị khích động. Còn kẻ nã hai phát vào đầu người ta bằng súng gắn thiết bị giảm thanh, rồi thu vỏ đạn lại là kiểu người khác. Sau khi hành động chúng không hề khích động. Chúng chỉ bỏ đi và quên chuyện ấy. Hubble không phải kẻ nổ súng. Kiểu anh ta đi nhún nhảy qua quầy tiếp tân đã chứng minh điều ấy. Nhưng tôi chỉ nhún vai và mỉm

cười. "Rồi," tôi nói. "Giờ thì ông có thể thả tôi, đúng không ?" Finlay nhìn tôi và lắc đầu. "Sai", ông ta đáp. "Tôi không tin anh ta. Vụ này liên quan tới ba gã. Chính ông đã thuyết phục tôi tin điều đó. Vậy kẻ mà Hubble tự nhận là tên nào ? Tôi không nghĩ anh ta là gã điên. Tôi không thấy anh ta có đủ sức mạnh làm việc ấy. Tôi không cho anh ta là kẻ sai vặt. Và dứt khoát anh ta không phải kẻ bắn, vì Chúa. Kẻ như thế không thể nổ súng được." Tôi gật đầu. Như đồng sự của Finlay, cố gắng giải quyết một vấn đề. "Bây giờ phải tống anh ta vào buồng giam", ông ta nói. "Không có lựa chọn nào. Anh ta đã thú tội, vài tình tiết có vẻ có sức thuyết phục. Nhưng xét kỹ thì sẽ thấy không thuyết phục." Tôi gật đầu lần nữa. Linh cảm rằng sẽ còn có chuyện. Finlay nhìn tôi. Cái nhìn lãnh đạm. "Thậm chí lúc nửa đêm qua anh ta còn chẳng có mặt ở đó", đội trưởng thám tử nói. "Anh ta có mặt ở tiệc kỷ niệm ngày cưới của một đôi vợ chồng già. Sự kiện gia đình. Không xa nơi Hubble sống. Đến đó lúc tám giờ tối qua. Anh ta đi bộ tới cùng vợ. Hai giờ sáng nay mới rời khỏi đó. Hơn hai chục người trông thấy anh ta tới, chưa kể hai chục người nhìn thấy anh ta rời khỏi đó. Anh ta được anh rể của chị dâu anh ta đánh xe đưa về. Anh ta phải đi nhờ bởi lúc đó trời đã mưa như trút rồi." "Tiếp đi, ông Finlay", tôi nói. "Hãy nói cho tôi nghe." "Về anh rể của chị dâu anh ta à ?" ông ta hỏi. "Người đánh xe đưa anh ta về nhà trong mưa, lúc hai giờ sáng hả ? Là sĩ quan Stevenson."

5 Finlay ngả người ra sau ghế. Hai cánh tay dài gập lại phía sau. Ông ta cao, lịch lãm. Học hành ở Boston. Có văn hóa. Có kinh nghiệm. Và ông ta đang tống tôi vào buồng giam vì việc gì đó mà tôi không làm. Rồi ông ta lại ngồi thẳng dậy. Đặt tay lên bàn, lòng bàn tay ngửa. "Tôi lấy làm tiếc, Reacher," viên cảnh sát nói với tôi. "Ông thấy tiếc hả ?" tôi nói. "Ông tống hai người vô tội vào tù nên lấy làm tiếc hả ?" Finlay nhún vai. Trông có vẻ không vui vì chuyện ấy. "Đồn trưởng Morison muốn thế," ông ta nói. "Anh ta nói đây là quyết định cuối cùng. Không cho chúng tôi thay đổi vào cuối tuần. Mà anh ta là sếp, phải không ?" "Chắc hẳn là ông đang đùa rồi," tôi nói. "Ông ta là tên khốn nạn. Ông ta gọi Stevenson là kẻ dối trá. Gọi người của chính ông ta như thế đấy." "Không chính xác thế," Finlay nhún vai. “Ý đồn trưởng là có thể đó là một vụ cấu kết, ông biết đấy, có thể đúng thực là Hubble đã không có mặt ở đó, nhưng anh ta thuê ông làm việc ấy. Một vụ câu kết, hiểu không ? Morrison nhận định rằng việc thú nhận bị làm quá lên có thể do Hubble e ngại ông và quá sợ ông đến nỗi không dám chỉ ra ông ngay. Morrison cho rằng ông đang trên đường tới nhà Hubble để thanh toán tiền thì bị chúng tôi tóm. Sếp tôi cho rằng đó là lý do ông đã chờ tới tám tiếng đồng hồ. Nhận định rằng đó là lý do hôm nay Hubble ở nhà. Không đi làm để đợi ông tới thanh toán tiền." Tôi im lặng. Tôi thấy lo lắng. Đồn trưởng Morrison thật nguy hiểm. Giả thuyết của lão có sức thuyết phục. Cho tới tận khi Finlay hoàn thành việc xác minh. Nếu như viên thám tử làm việc đó. "Thế nên tôi lấy làm tiếc, ông Reacher," viên đội trưởng thám tử nói. "Ông và Hubble phải ở trong buồng giam cho tới thứ Hai. Rồi các ông sẽ được chuyển đi. tới Warburton. Một nơi tồi tệ nhưng các buồng tạm giam thì ổn. Nếu ông bị tù thì còn tệ hơn thế. Tệ hơn nhiều. Trong khi các ông nằm ở đó, tôi sẽ xử lý việc này trước ngày thứ Hai. Tôi sẽ đề nghị sĩ quan Roscoe có mặt vào thứ Bảy và Chủ nhật. Cô ấy không chỉ là một phụ nữ đẹp. Cô ấy còn giỏi, người giỏi nhất mà chúng tôi có. Nếu điều ông nói là đúng, ông sẽ được tự do vào ngày thứ Hai, thế nhé !"

Tôi chằm chằm nhìn Finlay. Tôi đang nổi điên lên. "Không, ông Finlay, không được", tôi nói. "Ông biết tôi chẳng làm điều chết tiệt nào hết. Ông biết kẻ đó không phải tôi. Chỉ là ông sợ phát khiếp lão béo vô dụng khốn nạn Morrison. Thế nên tôi sẽ phải nằm nhà giam chỉ bởi ông là một thằng hèn nhát bạc nhược khốn kiếp." Đội trưởng thám tử rất ngấm điều tôi nói. Gương mặt ông ta đã tối lại càng tối hơn. Ông ta ngồi im một lúc lâu. Tôi hít một hơi sâu và quắc mắt nhìn Finlay. Cái quắc mắt của tôi giảm dần thành cái nhìn chăm chú khi tôi đã dịu lại. Trở lại trạng thái trong tầm kiểm soát. Đến lượt Finlay quắc mắt với tôi "Có hai điều, ông Reacher," ông ta nói. Tuyên bố một cách rành rọt. "Thứ nhất, nếu cần thì thứ Hai tôi sẽ giải quyết chỗ đồn trưởng Morrison. Thứ hai, tôi không phải thằng hèn. Ông chẳng biết gì về tôi cả. Chẳng biết gì hết." Tôi nhìn lại viên thám tử. Sáu giờ. Giờ xe tới. "Tôi biết nhiều hơn ông tưởng đấy", tôi nói. "Tôi biết là ông đã tốt nghiệp sau đại học ở Harvard, ông đã ly dị và ông bỏ thuốc lá hồi tháng Tư." Finlay nhìn trân trối. Baker gõ cửa, đi vào phòng thông báo rằng xe của nhà tù đã tới. Finlay đứng dậy bước vòng qua bàn. Bảo Baker rằng tự ông ta sẽ giải tôi ra. Baker trở lại giải Hubble. "Làm thế nào ông biết những chuyện đó ?" Finlay hỏi tôi. Viên cảnh sát này thấy tò mò. Ông ta sắp thua trận. "Dễ thôi", tôi đáp. "Ông là người thông minh, phải không ? Ông bảo tôi rằng ông được học hành ở Boston. Nhưng hồi ông là sinh viên đại học, Harvard không nhận nhiều sinh viên da đen lắm. Ông thông minh nhưng ông chẳng phải nhà bác học về khoa học tên lửa, thế nên tôi cho rằng ông học xong bằng thứ nhất ở Đại học Boston, đúng chứ ?" "Đúng," Finlay thừa nhận. "Và rồi đến Harvard để học sau đại học", tôi nói. "Ông đã học tốt ở Đại học Boston, cuộc sống cứ trôi, ông vào Harvard. Ông ăn nói như một tay tốt nghiệp Harvard. Tôi đoán ra ngay. Bằng tiến sĩ ngành Tội phạm học phải không ?" "Đúng," đội trưởng thám tử một lần nữa thừa nhận. "Ngành Tội phạm học." "Và rồi ông nhận công việc này hồi tháng Tư," tôi tiếp. "Ông đã nói với tôi điều đó. Ông được nhận lương hưu của Sở cảnh sát Boston bởi ông đã làm

việc hai mươi năm. Thế nên ông tới đây khi vẫn có tiền mặt để dành. Nhưng ông tới đây mà không có người phụ nữ nào đi cùng, bởi nếu có thì cô ta đã tiêu một phần số tiền mặt để dành ấy mua ít quần áo mới cho ông. Có lẽ cô ta ghét bộ quần áo tuýt xấu xí ông đang mặc. Cô ta sẽ ném nó vào thùng rác và cho ông mặc một bộ dành cho thời miền Nam nắng nóng để cuộc sống mới của mình được thuận lợi. Nhưng bây giờ ông vẫn đang mặc bộ com lê cũ khủng khiếp ấy, nghĩa là người phụ nữ đã ra đi. Hoặc cô ấy đã chết hoặc đã ly dị ông, khả năng là năm mươi - năm mươi. Xem ra tôi đã đoán đúng". Finlay gật đầu vô hồn. "Còn chuyện hút thuốc thì dễ", tôi nói. "Ông vừa căng thẳng và vỗ vỗ túi tìm thuốc lá. Thế có nghĩa là ông mới bỏ thuốc thôi. Dễ đoán là ông bỏ vào tháng Tư, cuộc sống mới, công việc mới, không thuốc lá nữa. Ông cho rằng bây giờ bỏ thuốc thì ông có thể tránh được bệnh ung thư." Finlay quắc mắt nhìn tôi. Có chút lưỡng lự. "Rất giỏi, Reacher," ông ta nói. "Những suy luận sơ đẳng, phải không ?" Tôi nhún vai. Chẳng nói gì. "Vậy thì hãy suy luận xem kẻ nào đã giết người đàn ông ở khu nhà kho", viên cảnh sát lại nói. "Tôi chẳng quan tâm kẻ nào giết ai ở đâu cả", tôi nói. "Đó là vấn đề của ông chứ không phải của tôi. Và đó là câu hỏi không phù hợp, ông Finlay ạ. Trước tiên ông phải xác định người đàn ông đó là ai đã, đúng không ?" "Vậy ông có cách nào để làm điều đó không, người thông minh ?" Finlay hỏi tôi. "Không giấy tờ tùy thân, không còn mặt, không thu được gì từ các dấu vân tay, Hubble thì có cạy răng cũng sẽ không hé ra nửa lời, đúng không nào ?" "Hãy kiểm tra lại các dấu vân tay," tôi nói. "Tôi nghiêm túc đấy, ông Finlay. Hãy yêu cầu Roscoe làm việc. "Tại sao ?" "Ở đây có chuyện gì đó không ổn," tôi nhận xét. "Chuyện đó là gì ?" đội trưởng thám tử hỏi tôi. "Hãy kiểm tra lại lần nữa, được chứ ?" tôi nói. "Ông sẽ làm điều đó chứ ?" Finlay chỉ hầm hừ. Chẳng bảo có hay không. Tôi mở cửa phòng bước ra ngoài. Roscoe đã đi khỏi. Chẳng có ai ngoài Baker và Hubble ở buồng giam phía kia. Qua cửa trước tôi có thể trông thấy viên thượng sĩ làm văn

phòng ở bên ngoài. Ông ta đang viết vào bảng ghi chép do người lái xe của nhà tù cầm. Phía sau hai người đó là xe tù. Nó đứng yên trong phần đường hình bán nguyệt nối với đường chính. Choán hết cả tầm quan sát qua lối vào rộng lắp cửa kính dày. Đây là một loại xe buýt chở học sinh sơn màu xám sáng. Trên xe in: Phòng Giam giữ và Cải tạo bang Georgia. Dòng chữ đó chạy hết chiều dài xe, bên dưới hàng cửa sổ. Dưới dòng chữ là một hình lưỡi liềm. Các cửa sổ đều được hàn lưới bên ngoài. Finlay theo sau tôi ra khỏi phòng. Nắm lấy khuỷu tay tôi và giải về chỗ Baker. Ngón cái Baker đang ngoắc ba chiếc còng. Chúng đều sơn màu cam sáng. Lớp sơn có chỗ bị tróc. Để lộ ra chất thép hơi xỉn. Baker bập vào mỗi cổ tay tôi một còng riêng. Ông ta mở khóa buồng giam Hubble và ra hiệu cho anh chàng làm ngành ngân hàng đang sợ hãi kia bước ra. Hubble vô hồn, mụ mẫm nhưng vẫn bước ra. Baker túm lấy chiếc còng còn lủng lẳng ở cổ tay trái của tôi bập vào cổ tay phải Hubble. Viên cảnh sát bập chiếc còng thứ ba vào cổ tay còn lại của anh ta. Sẵn sàng lên đường. "Giữ lấy đồng hồ của anh ta, ông Baker", tôi bảo. "Trong trại giam anh ta sẽ đánh mất đấy." Baker gật đầu. Ông ta biết ý tôi thế nào. Người như Hubble có thể mất rất nhiều khi ở trong tù. Viên cảnh sát bật chốt tháo chiếc Rolex nặng trịch khỏi tay Hubble. Quai đeo của nó không thể trượt qua còng tay nên Baker phải chật vật tháo còng ra rồi lại bập vào. Người lái xe tù mở cửa và chằm chằm ngó vào trong. Một người cần tuân thủ lịch trình làm việc. Baker bỏ đồng hồ của Hubble xuống chiếc bàn gần nhât. Đúng nơi cô bạn Roscoe của tôi đã đặt tách cà phê xuống. "Được rồi các bạn, ta lên đường thôi," Baker nói. Ông ta giải chúng tôi ra cửa. Chúng tôi bước ra ngoài ánh nắng nóng sáng rỡ. Trong tình trạng bị còng tay vào nhau. Bước đi thật khó khăn. Hubble dừng lại, chưa đi tới chỗ chiếc xe vội. Anh ta nghển cổ cẩn thận ngó xung quanh. Anh chàng còn cảnh giác hơn cả Baker hay người lái xe tù. Có lẽ sợ láng giềng trông thấy mình. Nhưng xung quanh chẳng có ai. Chúng tôi cách thị trấn ba trăm mét về phía Bắc. Tôi có thể trông thấy tháp chuông nhà thờ phía xa. Chúng tôi bước tới chỗ chiếc xe vận chuyển trong bầu không khí ấm áp của buổi chiều tối. Má phải tôi ngứa ran lên dưới ánh nắng mặt trời đang hạ thấp xuống chân trời. Tài xế đẩy cửa xe vào phía trong. Hubble bước lên xe. Tôi theo sau anh ta. Lóng ngóng xoay thân người vào lối đi. Chiếc xe trống trơn. Người lái xe

chỉ chỗ ngồi cho Hubble. Ông ta kéo tấm vải vinyl xuống che cửa sổ. Tôi bị kéo ngồi kế bên. Người lái xe quỳ xuống chiếc ghế phía trước và bấm hai cổ tay còn lại của chúng tôi vào thanh crôm gắn trên chiếc ghế. Rồi ông ta lần lượt lắc từng chiếc còng. Để biết chúng đã chắc. Tôi không trách gì người lái xe. Tôi đã từng làm việc ấy. Chẳng gì tệ hơn việc chở những tù nhân được tự do chân tay. Người lái xe bước về ghế của mình. Ông ta mở máy xe với tiếng bình bịch khá to của động cơ diesel. Cả xe rung lên. Không khí nóng. Phát ngộp. Không có điều hòa nhiệt độ. Không cửa sổ nào mở. Tôi có thể ngửi thấy mùi khói dầu. Tiếng bánh răng nghiến vào nhau ken két và chiếc xe chuyển động. Tôi liếc sang phải. Không có ai đưa tiễn. Chúng tôi chạy theo hướng Bắc ra khỏi đồn cảnh sát, lưng xây lại phía thị trấn, hướng về phía quốc lộ. Sau nửa dặm, chúng tôi chạy qua tiệm ăn Eno. Cửa hàng của ông ta chẳng có ai. Chẳng ai đi ăn tối sớm. Xe chạy về phía Bắc một lát. Rồi chúng tôi ngoặt trái khá gấp ra khỏi tỉnh lộ và chạy về phía Tây theo một con đường xuyên qua cánh đồng. Chiếc xe trở nên ồn ào. Vô số bụi cây thấp vụt qua. Vô số đụn đất đỏ nằm giữa các bụi cây ấy. Phía trước tôi, mặt trời đang xuống thấp dần. Như một quả cầu đỏ khổng lồ hướng về phía cánh đồng. Người lái xe đã kéo màn chắn nắng xuống. Trên đó có những dòng hướng dẫn của nhà sản xuất về cách vận hành chiếc xe. Hubble lắc lư, nhấp nhô bên cạnh tôi. Anh ta chẳng nói gì. Người anh ta đã sụm xuống, mặt song song với sàn xe. Tay trái Hubble giơ lên bởi nó bị còng vào thanh crôm phía trước chúng tôi. Cánh tay phải anh ta thả yên giữa hai người. Hubble vẫn khoác vai chiếc áo len đắt tiền. Nơi chiếc Rolex từng nằm bây giờ là một vệt da tái. Sức sống gần như thoát sạch khỏi con người này. Anh ta đang nằm trong sự bủa vây của nỗi sợ hãi khiến cả người tê liệt. *** Chúng tôi lắc lư và nhấp nhô khoảng một giờ đồng hồ nữa qua những khu vực rộng lớn. Một khóm cây nhỏ lướt qua phía bên phải tôi. Rồi ở phía xa, tôi trông thấy một công trình. Nó đứng một mình trên một khu đất canh tác phẳng diện tích vài ngàn acre. Dưới bóng mặt trời đỏ đã hạ thấp, trông nó cứ như một thứ gì đó từ địa ngục trồi lên. Thứ gì đó bị đẩy lên qua vỏ trái đất. Đó là một tổ họp các tòa nhà. Trông như nhà máy hóa chất hay điện hạt nhân. Các boong ke bê tông khổng lồ và các lối đi bằng kim loại lấp lánh. Các đường ống chạy từ nơi này đến nơi khác đang tỏa hơi. Toàn bộ đều được rào

kín, điểm xuyết các vọng gác. Khi tới gần, tôi có thể trông thấy nhiều đèn cao áp và hàng rào dây thép gai. Trên tháp là đèn quét và súng trường. Các lớp hàng rào cách nhau một khoảng đất đỏ được cày lên. Hubble không ngước lên. Tôi chẳng lay anh ta. Phía trước có phải Xứ sở Thần tiên đâu. Khi tới nơi, chiếc xe chạy chậm lại. Lớp hàng rào ngoài cùng nhô ra chừng một trăm mét, tạo thành một đường cong khổng lồ. Đó là một lớp rào lớn. Cao chừng bốn mét rưỡi, dọc theo hàng rào là những đôi đèn cao áp natri. Mỗi đôi có một đèn được điều chỉnh cho hướng vào phía trong, tỏa ánh sáng trùm hết khoảng đất đỏ rộng chừng một trăm mét đã được cày lên. Một đèn được chỉnh hướng ra ngoài, bao quát hết khu đất canh tác xung quanh đó. Tất cả đèn cao áp đều bật sáng. Toàn bộ tổ hợp sáng rực ánh đèn vàng. Ở tầm gần, nơi này sáng rực. Ánh sáng vàng biến lớp đất đỏ thành màu nâu vàng ma quái. Chiếc xe vận chuyển lạch cạch dừng lại. Động cơ vẫn nổ bình bịch nên xe bị rung. Hệ thống thông gió ngừng lại. Phát ngộp. Cuối cùng Hubble cũng ngước lên. Anh chàng hé mắt nhìn ra qua cặp kính gọng vàng. Anh ta nhìn xung quanh rồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Rên lên. Đó là tiếng rên của sự khổ đau tuyệt vọng. Hubble gục đầu xuống. Người lái xe đang đợi tín hiệu từ người gác cổng đầu tiên. Tay gác đang nói vào máy bộ đàm. Người lái rồ ga vào số. Lính gác dùng chiếc bộ đàm vẫy vẫy chúng tôi qua. Chiếc xe bò lên phía trước vào một cái cũi. Chúng tôi chạy qua một tấm biển dài bên rìa đường ghi: Trại Cải tạo Warburton, Phòng Giam giữ và Cải tạo bang Georgia. Phía sau chúng tôi, cánh cổng từ từ khép lại. Chúng tôi bị nhốt trong một cái cũi bằng dây thép. Mái cũng được lợp bằng dây thép. Ở đầu kia, một cánh cổng bật mở. Chiếc xe bò qua đó. Chúng tôi chạy hết một trăm mét tới hàng rào tiếp theo. Có một cái cũi khác. Chiếc xe bò vào, chờ đợi và lại chạy ra. Xe chúng tôi chạy vào tới trung tâm nhà tù. Rồi dừng trước một boong ke bê tông. Khu tiếp đón. Tiếng ồn của động cơ đập vào những lớp bê tông bao quanh chúng tôi. Rồi máy tắt, xe ngừng rung và ngừng kêu, nhường cho cho sự im lặng. Người lái xe bật ra khỏi ghế ngồi, bước theo lối đi, khom xuống kéo người như đang trèo qua lưng ghế. Ông ta lôi chùm chìa khóa ra mở chiếc còng cột chúng tôi vào ghế phía trước. "Được rồi các chàng trai, đi thôi," ông ta nhăn nhở. "Đến giờ vui chơi

rồi." Chúng tôi lôi người khỏi ghế lập cập xuống xe. Cánh tay trái tôi bị Hubble kéo lại. Lái xe bắt chúng tôi dừng lại ở đầu xe. Ông ta tháo cả ba chiếc còng ném vào cái thùng cạnh ca bin. Tì vào một thanh đòn và mở tung cửa. Chúng tôi xuống xe. Phía trước, cửa mở và một lính gác bước ra. Gọi chúng tôi tới. Anh ta đang ăn bánh rán và nói khi trong miệng vẫn đầy bánh. Đường bám đầy trên môi. Anh ta là một tay rất tự nhiên. Chúng tôi qua cửa đi vào một phòng bằng bê tông. Nơi này bẩn thỉu. Những chiếc ghế gỗ thông xếp quanh một chiếc bàn sơn. Một tay gác khác ngồi trên bàn đọc tấm bảng ghi chép méo mó. "Ngồi xuống được chứ ?" anh ta nói. Chúng tôi ngồi. Tay gác đứng dậy. Tay đồng sự nhai bánh rán khóa cánh cửa ngoài rồi đến bên anh ta. "Việc thế này đây", tay gác cầm tấm bảng nói. "Các anh là Reacher và Hubble. Được gửi từ Margrave tới. Chưa có kết tội. Bị giam giữ chờ điều tra. Không áp dụng bảo lãnh đối với người nào trong hai anh. Hiểu những gì tôi nói chứ ? Chưa có kết tội. Đó là điều quan trọng. Miễn cho các anh rất nhiều việc khốn nạn ở đây, ổn chứ ? Không áo tù, không phải trải qua các quy trình, không chuyện gì to tát, các anh hiểu chứ ? Nơi nghỉ ngơi ngon lành ở tầng trên cùng." "Phải", tay ăn bánh rán nói. "Vấn đề là nếu các anh bị kết tội, chúng tôi sẽ chọc, quất, đánh các anh, các anh sẽ nhận quần áo tù, và chúng tôi sẽ đẩy các anh lên các tầng dành cho những kẻ bị kết tội, cùng với lũ súc vật khác, rồi chúng tôi chỉ việc ngồi xem trò vui, phải không ?" 'Phải", đồng sự của anh ta chêm vào. "Vậy nên những điều chúng tôi muốn nói là thế này. Chúng tôi ở đây không phải để gây khốn khổ cho các anh, thể nên các anh bạn cũng đừng làm khó cho chúng tôi, các anh hiểu chứ ? Cơ sở chết giẫm này chẳng có nhân lực đâu. Thống đốc bang đã sa thải khoảng một nửa nhân sự, hiểu không ? Phải phù hợp với tình hình ngân sách, đúng không ? Phải cắt giảm thâm hụt, đúng chứ ? Thế nên chúng tôi không có người để thực hiện công việc theo đúng cách phải làm. Ca nào cũng cố gắng hoàn thành công việc với số nhân sự bằng một nửa, hiểu không ? Thế nên điều tôi nói là chúng tôi đẩy các anh vào chỗ kia, và chúng tôi không muốn trông thấy các anh cho tới lúc chúng tôi lôi các anh ra vào ngày thứ Hai. Đừng có mà gây rắc rối, hiểu chứ ? Chúng tôi không có nhân lực giải quyết rắc rối. Chúng tôi không có nhân lực để giải quyết rắc rối ở các tầng dành cho phạm nhân chứ đừng nói tới rắc rối ở tầng tạm giam, các anh hiểu

chứ ? Ê, Hubble, anh hiểu chứ ?" Hubble ngước nhìn tay gác và gật đầu một cách vô hồn. Chẳng nói gì cả. "Reacher ?" tay cầm bảng ghi hỏi. "Anh hiểu chứ ?" "Chắc chắn rồi," tôi nói. Tôi đã hiểu. Tay này không có đủ người. Có vấn đề do ngân sách thiếu. Còn bạn bè của anh ta thì nhận tiền hỗ trợ thất nghiệp. Chẳng khác gì tôi cả ! "Tốt," tay gác cầm bảng ghi nói. "Vậy nên thống nhất thế này. Hai chúng tôi hết ca trực lúc bảy giờ. Tức là sau khoảng một phút nữa. Chúng tôi sẽ không vì các anh bạn mà làm việc muộn đâu. Chúng tôi không muốn thế và kiểu gì thì công đoàn cũng không để cho chúng tôi làm. Thế nên các anh sẽ được ăn, sau đó các anh bị giữ ở đây cho tới khi có người đến đưa các anh lên tầng. Phải tới lúc tắt điện mới có người, có lẽ tầm 10 giờ, được chứ ? Nhưng dù gì thì cũng chẳng lính gác nào áp giải tù nhân đi sau khi đèn đã tắt, đúng không ? Công đoàn sẽ không để họ làm thế. Thế nên Spivey sẽ tự đến nhận các anh. Trợ lý giám sát. Người có trách nhiệm cao nhất đêm nay. Chừng 10 giờ, được chứ ? Còn nếu không thích chuyện ấy thì đừng nói với tôi, đi mà nói với thống đốc ấy, được chưa ?" Tay ăn bánh rán bước ra ngoài hành lang, một lúc lâu sau thấy bưng khay lại. Trên đó là vài chiếc đĩa được đậy lại, vài chiếc cốc giấy và một bình giữ nhiệt. Anh ta đặt khay lên bàn rồi cả hai theo hành lang bước ra. Khóa cửa từ phía ngoài. Bầu không khí trở nên yên lặng như trong mồ. Chúng tôi ăn. Cơm với cá. Đồ ăn dành cho ngày thứ Sáu. Cà phê trong bình giữ nhiệt. Hubble chẳng nói gì. Anh ta nhường hầu hết chỗ cà phê cho tôi. Một điểm ghi cho Hubble. Tôi cho đồ ăn thừa vào khay rồi đặt khay xuống sàn. Còn ba giờ nữa để phung phí. Tôi ngả ghế ra phía sau và gác chân lên bàn. Không thoải mái, nhưng cũng tàm tạm. Một buổi tối ấm áp. Tháng Chín ở Georgia. Tôi nhìn qua phía Hubble chẳng chút tò mò. Anh ta vẫn im lặng. Tôi chưa bao giờ nghe thấy anh chàng nói gì trừ lúc nghe qua loa điện thoại của Finlay. Hubble nhìn lại tôi. Gương mặt anh ta đầy sự khổ đau và sợ hãi. Anh chàng nhìn tôi như thể tôi là sinh vật từ thế giới khác tới vậy. Người này chằm chằm nhìn tôi cứ như tôi khiến anh ta lo lắng. Rồi Hubble nhìn đi nơi khác. ***

Có lẽ tôi sẽ không quay trở lại Vịnh. Nhưng giờ đã là thời điểm quá muộn trong năm để đi về phía Bắc. Ở đó quá lạnh. Có khi nên bỏ qua đó để đi thẳng tới các đảo. Có khi là Jamaica. Nhạc ở đó tuyệt vời. Một túp lều trên bãi biển. Sống qua mùa đông trong một túp lều trên bãi biển Jamaica. Một tuần hút chừng nửa cân cỏ (cần sa, bồ đà). Làm bất kỳ điều gì người Jamaica làm. Có lẽ một tuần hút một cân cỏ và sống chung với một người khác. Roscoe liên tục bước vào khung cảnh tôi mường tượng ra. Bộ sắc phục của cô tươi tắn tuyệt vời. Chiếc áo bó màu xanh tươi tắn. Tôi chưa bao giờ trông thấy chiếc áo nào đẹp hơn. Dưới ánh nắng trên bờ biển Jamaica cô sẽ chẳng cần mặc áo. Tôi không nghĩ đó là chuyện gì nghiêm trọng. Cái nháy mắt của nữ cảnh sát mới là vấn đề với tôi. Cô cầm tách cà phê lên. Cô bảo rằng tôi có đôi mắt đẹp. Và Roscoe nháy mắt. Phải có ý gì đó, đúng không ? Chuyện về đôi mắt thì trước đây tôi từng nghe rồi. Một cô gái Anh từng có một quãng thời gian hạnh phúc bên tôi, cô thích đôi mắt tôi. Lúc nào cũng nói thế. Chúng màu xanh. Gần như người nào nhận xét cũng bảo rằng chúng trông như các núi băng ở biển Bắc cực. Nếu tập trung, tôi có thể làm họ ngừng chớp mắt. Tạo sức mạnh uy hiếp cho cái nhìn chằm chằm. Hữu ích. Nhưng cái nháy mắt của Roscoe là khoảnh khắc tuyệt vời nhất trong ngày, thực sự là khoảnh khắc duy nhất của ngày, trừ món trứng ở tiệm ăn Eno - vốn cũng không đến nỗi tệ. Trứng thì ở đâu cũng kiếm được. Còn Roscoe thì không. Tôi nhớ cô ấy. Và tôi bay bổng hết cả buổi tối. *** Hơn mười giờ một chút, cánh cửa hành lang được mở khóa. Một người đàn ông mặc sắc phục bước vào. Người này cầm một tấm bảng ghi. Và một khẩu súng trường. Tôi nhìn về phía anh ta. Một tay người miền Nam. Nặng nề, đầy thịt. Làn da đỏ ửng. Cái bụng to và chắc cùng chiếc cổ to. Mắt ti hí. Bộ đồng phục chật nhăn nheo phải vất vả mới trùm nổi cơ thể anh chàng này. Có lẽ được sinh ra ở ngay đây, khu nông trại người ta đã thu hồi để xây nhà tù. Trợ lý giám sát Spivey. Người có trách nhiệm cao nhất trong ca này. Thiếu lực lượng và khó chịu. Tự giải hai vị khách tạm trú. Với khẩu súng trường trong bàn tay nông dân to lớn. Viên trợ lý giám sát xem tấm bảng ghi. "Ai trong số hai anh là Hubble ?" anh ta hỏi. Người này có giọng the thé. Ngược với tấm thân bồ tượng. Hubble

luống cuống giơ hai tay lên, như học sinh phổ thông. Đôi mắt ti hí của Spivey quét qua Hubble. Lên rồi xuống. Như mắt rắn. Anh ta hầm hừ rồi dùng tấm bảng ghi làm hiệu. Chúng tôi xếp thành hàng đi ra. Hubble thất thần cam chịu. Như một người lính kiệt sức. "Rẽ trái rồi đi theo vạch đỏ", Spivey nói. Anh ta dùng khẩu súng vẩy tay về phía trái. Có một đường màu đỏ sơn trên tường cao tầm ngang hông. Đó là đường chỉ dẫn thoát hiểm khi xảy ra cháy. Tôi cho là nó dẫn ra ngoài, nhưng chúng tôi lại đi ngược hướng. Vào trong tù chứ không phải ra ngoài. Chúng tôi theo đường đỏ qua các hành lang, lên gác và vòng qua các góc. Hubble đi đầu rồi tới tôi. Theo sau là Spivey cùng khẩu súng trường. Bên trong rất tối. Chỉ có ánh sáng mờ mờ của đèn khẩn. Đến một chiếu nghỉ, Spivey lệnh dừng lại. Anh ta lấy chìa mở một khóa điện tử. Loại khóa này sẽ mở tung cửa thoát hiểm khi chuông báo động kêu. "Không được nói chuyện," Spivey lệnh. "Quy định ở đây là phải tuyệt đối im lặng sau khi đã tắt đèn. Buồng giam ở phía cuối, bên tay phải". Chúng tôi bước qua cửa ngoài. Mùi hôi thối của nhà tù xộc vào mũi tôi. Hơi thở ra của vô số kẻ tuyệt vọng. Tối như hũ nút. Một bóng đèn mờ mờ nhấp nháy. Tôi chỉ có thể cảm nhận được chứ không trông thấy sự hiện diện của các dãy buồng giam. Tôi nghe tiếng lảm nhảm của những âm thanh trong đêm. Tiếng thở và ngáy. Thì thầm và rên rỉ. Spivey giải hai chúng tôi tới cuối dãy. Chỉ một buồng giam trống. Hai chúng tôi len vào. Spivey kéo cửa song sắt đóng lại sau lưng chúng tôi. Nó tự động khóa lại. Anh ta bước đi. buồng giam rất tối. Tôi chỉ có thể trông thấy một chiếc giường tầng, một chậu rửa và một bồn cầu. Sàn không rộng lắm. Tôi cởi áo khoác ném lên giường trên. Với tay dọn lại giường, để gối ở phía xa song sắt. Tôi thích thế này hơn. Ga và chăn cũ nhưng ngửi cũng vẫn còn sạch sẽ. Hubble ngồi yên lặng ở giường dưới. Tôi đi vệ sinh và rửa mặt ở chậu rửa. Lê người lên giường. Cởi giày ra. Bỏ ở chân giường. Tôi muốn biết giày của mình nằm ở đâu. Giày có thể bị đánh cắp, mà đây lại là giày tốt. Mua phải được mấy năm ở Oxford, Anh. Một thành phố có trường đại học nằm gần căn cứ không quân tôi đóng. Một đôi giày nặng có đế cứng và mũi dày. Chiếc giường quá ngắn so với tôi, nhưng hầu hết giường đều thế. Tôi nằm trong bóng tối lắng nghe âm thanh không ngừng nghỉ của nhà tù. Rồi tôi nhắm mắt lại phiêu du tới Jamaica cùng Roscoe. Chắc chắn tôi đã ngủ thiếp đi với nàng bên cạnh bởi điều tiếp theo tôi nhận thức được là hôm nay là thứ

Bảy. Tôi vẫn ở trong tù. Và một ngày còn tồi tệ hơn đang bắt đầu.

6 Tôi thức giấc bởi những ngọn đèn sáng rực bật lên. Nhà tù không có cửa sổ. Ngày và đêm được điện tạo ra. Vào bảy giờ tòa nhà đột ngột tràn ngập ánh sáng. Không có buổi bình minh hay hoàng hôn nhẹ nhàng. Chỉ có các cầu dao dập xuống lúc bảy giờ. Ánh sáng mạnh chẳng giúp buồng giam trông khá lên chút nào. Bức tường phía trước hình thành từ các song sắt. Một nửa đã được mở ra ngoài nhờ một bản lề để biến nó thành cánh cửa. Chiếc giường tầng choán khoảng một nửa chiều rộng và gần hết chiều dài buồng giam. Bức tường phía sau có gắn chiếc chậu rửa bằng thép và một bồn cầu cũng bằng thép. Tường ở đây là tường xây. Một phần bằng bê tông phun và một

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 5

Đang tải bình luận...