phần da gần bề mặt ta ngã xuống, dù bề mặt ấy là gì. Các
tế bào màu đỏ đọng lại trước. Chúng khiến da có màu đỏ. Rồi chúng đóng cục nên các vết này giữ nguyên, như một tấm ảnh. Sau vài giờ, các vết ấy không thay đổi. Các vết ở nạn nhân đầu tiên hoàn toàn khớp với tư thế của ông ta trên sân trước nhà kho. Ông ấy bị bắn, bị ngã đập đầu xuống, ông ấy bị một tên điên nào đó đá lăn tròn trong vài phút, rồi ông ấy nằm đó trong tám tiếng. Điều đó không có gì phải nghi ngờ." "Ông thấy chuyện đá nạn nhân thế nào ?" Finlay hỏi bác sĩ pháp y. Vị bác sĩ lắc đầu và nhún vai. "Tôi chưa bao giờ chứng kiến vụ nào thế này," ông nói. "Đôi khi tôi có đọc trên tạp chí. Rõ ràng là một dạng tâm thần. Không có cách nào giải thích nổi. Làm thế với người chết thì cũng chẳng được gì. Không làm người đó đau đớn bởi anh ta đã chết. Nhưng không hiểu sao kẻ kia phải làm thế thì mới thấy dễ chịu. Con điên giận không thể tin nổi, sức mạnh đáng sợ. Các vết thương thật kinh khủng !" "Thế còn người thứ hai ?" "Anh ta đã bỏ chạy", viên bác sĩ trả lời. "Phát đạn đầu ở tầm gần trúng lưng nhưng không làm người này gục, anh ta bỏ chạy. Trên đường chạy anh ta dính thêm hai phát nữa. Một phát vào cổ, một phát trúng đùi khiến anh ta mất mạng. Đứt động mạch đùi. Anh ta đã cố chạy được tới đoạn quốc lộ vồng lên cao, rồi ngã xuống và mất máu cho tới chết. Không có gì hoài nghi về chuyện đó. Nếu như trời không mưa suốt đêm thứ Năm, chắc chắn các vị đã trông thấy vệt máu trên đường rồi. Chắc chắn phải có một gallon (khoảng 3,78 lít) và một nửa số này nằm ở đâu đó bởi chắc như đinh đóng cột là nó không còn nằm trong cơ thể người ấy nữa". Tất cả chúng tôi trở nên im lặng. Tôi nghĩ về cú chạy băng ngang đường đầy tuyệt vọng của nạn nhân thứ hai, cố gắng ẩn nấp trong khi những viên đạn xuyên vào da thịt anh ta. Ngã gục dưới đoạn quốc lộ vồng lên và chết giữa cuộc giành giật khẽ khàng của những động vật nhỏ hoạt động về đêm. "Được rồi", Finlay nói. "Thế là chúng ta có thể nhận định rằng hai nạn nhân đã gặp nhau. Kẻ bắn nằm trong nhóm ba tên, hắn làm hai nạn nhân bất ngờ, bắn hai phát vào đầu nạn nhân đầu tiên trong khi nạn nhân thứ hai bỏ chạy và bị bắn trúng ba phát trong khi đang chạy, đúng không ?" "Ông cho là có ba kẻ tấn công à ?" bác sĩ pháp y hỏi. Finlay hướng về phía tôi và gật đầu. Đây là giả thuyết của tôi, thế nên tôi phải giải thích.
"Có ba đặc điểm tính cách riêng biệt", tôi nói. "Một tên thiện xạ, một tên điên lên cơn và một tên che giấu kém cỏi." Viên bác sĩ từ từ gật đầu. 'Tôi tin điều đó," ông nói. "Người đầu tiên bị bắn ở cự ly có thể bắn thẳng, do đó ta nên nhận định rằng ông ấy biết những kẻ giết mình và cho phép chúng đến cạnh chứ ?" Finlay gật đầu. "Chắc chắn phải thế rồi", ông nói. "Năm người gặp nhau. Ba tên tấn công hai người kia. Đây là vụ gớm đấy, phải không ?" "Chúng ta biết những kẻ tấn công là ai không ?" bác sĩ đặt câu hỏi. "Chúng ta còn chẳng biết tên các nạn nhân nữa" Roscoe chen vào. "Có giả thuyết gì về hai nạn nhân không ?" Finlay hỏi bác sĩ pháp y. "Với người thứ hai thì không, trừ cái tên trên đồng hồ đeo tay của anh ta," vị bác sĩ đáp. "Tôi mới biết tên anh ta cách đây một giờ." "Thể là ông có giả thuyết về nạn nhân đầu tiên à ?" Viên bác sĩ đang xem mấy mảnh giấy trên bàn thì điện thoại đổ chuông. Ông nghe máy rồi đưa cho Finlay. "Điện thoại của ông," ông ta nói. Finlay vẫn ngồi trên ghế, rướn người ra để nhận cuộc gọi. Lắng nghe một lúc. "Được rồi," ông nói vào điện thoại. "Chỉ cần in ra và fax tới đây cho chúng tôi, được chứ ?" Rồi ông trao máy lại cho bác sĩ pháp y và ngồi ngay người lại. Gương mặt ông bắt đầu xuất hiện một nụ cười. "Đó là Stevenson ở đồn," ông nói. "Rốt cuộc chúng ta đã tìm được dấu vân tay khớp với vân tay của nạn nhân đầu tiên. Có vẻ chúng ta đã đúng khi xác minh lại. Stevenson sẽ fax tới đây bây giờ, thế nên hãy nói cho chúng tôi những gì ông đã biết, bác sĩ ạ, và chúng tôi sẽ khớp lại." Người đàn ông mệt mỏi trong chiếc áo choàng trắng nhún vai rồi cầm một tờ giấy lên. "Nạn nhân đầu tiên hả ?" ông nói. "Tôi không có nhiều lắm. Thi thể nát bấy cả. Người này cao, mạnh khỏe, đầu trọc. Vấn đề chính là những việc liên quan tới răng. Có vẻ như người này đã chữa răng ở khắp nơi. Một số ở Mỹ, một số trông có vẻ ở Mỹ, một số ở nước ngoài." Ngay cạnh hông tôi, chiếc máy fax bắt đầu phát tín hiệu và kêu rì rì.
Một tờ giấy mỏng cuốn vào. "Vậy ông rút ra được gì từ điều đó ?" Finlay hỏi. "Ông ấy là người nước ngoài à ? Hay là người Mỹ sống ở nước ngoài hay thế nào ?" Tờ giấy mỏng đã chạy ra, in kín chữ. Rồi chiếc máy ngừng lại im lặng. Tôi cầm tờ giấy lên liếc qua. Rồi tôi đọc hai lần. Tôi lạnh toát người. Tôi bị cơn tê liệt lạnh cóng chụp lấy không thể cử động nổi. Tôi không thể tin nổi những gì mình đang thấy trên tờ fax này. Bầu trời như sụp xuống đầu tôi. Tôi chằm chằm nhìn viên bác sĩ và cất tiếng. "Ông ấy lớn lên ở nước ngoài," tôi nói. "Sống ở đâu ông ấy cũng phải chữa răng. Ông ấy bị gãy cánh tay phải hồi tám tuổi và được bó bột ở Đức. Ông ấy được cắt amiđan trong bệnh viện ở Seoul." Ông bác sĩ ngước nhìn tôi. "Họ có thể kết luận như thế qua dấu vân tay của ông ta à ?" ông hỏi. Tôi lắc đầu. "Người đó là anh trai tôi", tôi nói.
10 Một lần tôi xem bộ phim của Hải quân về những chuyến thám hiểm ở vùng địa cực băng giá. Ta có thể bước trên một tảng băng cứng. Đột nhiên mặt băng tan ra. Một kiểu sức mạnh không thể tưởng tượng nổi trong các tảng băng trôi. Cả một cấu tạo địa chất mới hình thành. Các vách dựng đứng ở nơi trước vốn bằng phẳng. Những hẻm núi khổng lồ phía sau lưng. Một cái hồ mới hình thành trước mặt. Tất cả thế giới thay đổi chỉ trong một giây. Đó là những cảm giác tôi thấy. Tôi ngồi bên quầy, giữa chiếc máy fax và máy tính, cứng đờ vì sốc, cảm thấy mình như một anh chàng ở Bắc Cực mà thấy toàn bộ thế giới thay đổi chỉ sau một bước chân. Họ đưa tôi tới phòng lạnh ở phía sau để chính thức nhận dạng thi thể của anh trai. Khuôn mặt anh đã bị hai phát súng bắn thủng và toàn bộ xương đã gãy vỡ nhưng tôi vẫn nhận ra vết sẹo hình sao trên cổ. Anh trai tôi dính vết sẹo này cách đây hai mươi chín năm, khi chúng tôi nghịch một cái chai vỡ. Rồi họ đưa tôi trở lại đồn cảnh sát ở Margrave. Finlay lái xe. Roscoe ngồi ở băng ghế sau cùng tôi, cầm tay tôi suốt cả chặng đường. Chuyến trở về chỉ dài hai mươi phút nhưng trong khoảng thời gian đó tôi sống hết cả hai cuộc đời. Của anh tôi và của tôi. Anh trai tôi, Joe. Lớn hơn tôi hai tuổi. Anh sinh ở một căn cứ tại vùng Viễn Đông vào cuối thời Eisenhower (Dwight David “Ike" Eisenhower (1890 -1969): Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ). Rồi tôi sinh ra tại một căn cứ ở châu Âu, ngay đầu thời Kennedy. Chúng tôi cùng nhau lớn lên ở khắp nơi trên thế giới, trong khoảng thời gian lưu trú ngắn ngủi và biệt lập của các gia đình quân nhân. Cuộc sống hoàn toàn là những cuộc di chuyển không được lựa chọn đi lúc nào và đi đâu. Nhiều đến mức việc học ở bất kỳ nơi nào đó quá một học kỳ rưỡi lại tạo cảm giác không bình thường. Nhiều khi hàng năm trời chúng tôi không biết tới mùa đông. Chúng tôi được chuyển khỏi châu Âu vào đầu mùa thu để tới một nơi ở Thái Bình Dương và đến mùa hè thì lại bắt đầu một hành trình mới. Bạn bè của chúng tôi liên tục biến mất. Một đơn vị được chuyển khỏi nơi nào đó và một nhóm trẻ sẽ đi theo. Đôi khi vài tháng sau chúng tôi gặp lại bọn chúng ở một nơi khác. Nhưng nhiều đứa thì chẳng bao giờ chúng tôi gặp lại. Chẳng ai nói lời đón chào hay tạm biệt. Ta chỉ hoặc ở đó hoặc không ở đó. Rồi khi Joe và tôi lớn lên, chúng tôi được đưa đi nhiều hơn. Cuộc chiến
ở Việt Nam đồng nghĩa với việc quân đội điều động lực lượng quanh thế giới ngày càng nhanh hơn. Cuộc sống từ đó gắn với những khu căn cứ nhạt nhòa trong ký ức. Chúng tôi chẳng bao giờ sở hữu thứ gì cả. Trên các máy bay vận tải, mỗi người chúng tôi chỉ được phép mang một ba lô. Chúng tôi bên nhau trong những căn cứ nhạt nhòa đó suốt mười sáu năm. Joe là hằng số duy nhất trong đời tôi. Và tôi yêu anh bằng tình yêu của đứa em trai dành cho anh mình. Nhưng câu này có ý nghĩa rất chính xác. Nhiều câu cửa miệng vẫn vậy mà. Như khi người ta nói rằng ‘người ta ngủ như một đứa trẻ’. Liệu người ta có ý nói rằng ngủ ngon ? Hay người ta muốn nói rằng cứ mười phút thì họ thức giấc một lần, hét toáng lên ? Tôi yêu Joe với tình cảm của một đứa em trai dành cho anh mình, đồng nghĩa với rất nhiều điều trong gia đình tôi. Sự thật là tôi không bao giờ biết chắc chắn mình có yêu Joe hay không. Và anh ấy cũng không bao giờ biết chắc chắn liệu tôi có yêu anh hay không. Chúng tôi hơn kém nhau hai tuổi nhưng anh sinh vào thập niên năm mươi còn tôi ra đời vào những năm sáu mươi. Điều đó tạo ra sự khác biệt giữa hai chúng tôi nhiều hơn mức hai năm có thể tạo ra. Và giống như bất kỳ cặp anh em trai nào hơn kém nhau hai tuổi, chúng tôi làm cho nhau khó chịu đến phát điên. Chúng tôi quại nhau, cãi nhau và buồn bã chờ đợi lớn lên để thoát khỏi nhau. Gần như cả mười sáu năm đó, chúng tôi không biết mình yêu quý hay ghét nhau. Nhưng hai chúng tôi có những điều mà một gia đình quân đội có. Gia đình là đơn vị. Những người ở căn cứ được dạy trung thành tuyệt đối với đơn vị họ. Đó là điều căn bản nhất trong cuộc sống của họ. Đám con trai tuân thủ điều này. Chúng tuyệt đối trung thành với gia đình mình. Thế nên đôi khi ta có thể ghét anh em mình nhưng ta không để cho bất kỳ kẻ nào gây chuyện với họ. Đó là điều chúng tôi có, cả Joe và tôi. Chúng tôi có sự trung thành vô điều kiện ấy. Ở mọi sân trường mới, chúng tôi đều đứng tựa lưng vào nhau và tung đòn để xử lý rắc rối. Tôi trông chừng anh và anh trông chừng tôi, như các anh em trai vẫn làm. Trong suốt mười sáu năm. Tuổi thơ của chúng tôi không giống với những đứa trẻ bình thường khác, nhưng tôi thích thế. Joe gần như là khởi đầu cũng như kết thúc của tuổi thơ ấy. Và bây giờ kẻ nào đó đã giết anh. Tôi ngồi ở băng ghế sau của chiếc xe cảnh sát hiệu Chevrolet và lắng nghe tiếng nói rất nhỏ trong tai mình hỏi xem tôi sẽ làm gì với chuyện đó.
*** Finlay chạy thẳng qua Margrave và đỗ xe bên ngoài đồn. Ngay ở rìa đường đối diện những cánh cửa nặng nề bằng kính. Ông cùng Roscoe ra khỏi xe rồi đứng đó đợi tôi, hệt như Baker và Stevenson đã làm cách đây bốn mươi tám tiếng. Tôi ra khỏi xe đứng cùng họ trong cái nắng trưa. Chúng tôi đứng một lúc, rồi Finlay kéo cánh cửa nặng nề và cả ba bước vào trong. Bước qua phòng họp không người tới căn phòng lớn đầy đồ gỗ hồng sắc. Finlay ngồi bên bàn. Tôi ngồi vào đúng chiếc ghế mình đã ngồi hôm thứ Sáu. Roscoe kéo một chiếc ghế đến bên cạnh tôi. Finlay lạch xạch mở một ngăn kéo bàn. Lấy ra chiếc đài ghi âm. Thực hiện toàn bộ việc ông hay làm, gõ tay vào micro để thử. Rồi ông ngồi yên nhìn tôi. 'Tôi rất tiếc về chuyện anh trai ông", ông nói. Tôi gật đầu. Không nói gì cả. "Tôi e là sẽ phải đặt cho ông nhiều câu hỏi", đội trưởng thám tử tiếp tục. Tôi chỉ gật đầu lần nữa. Tôi hiểu tình thế của ông. Bản thân tôi đã từng ở vị trí của ông rất nhiều lần. "Ai là người họ hàng gần nhất với ông ấy ?" Finlay hỏi. "Tôi," tôi đáp. "Trừ phi anh ấy lập gia đình mà không bảo tôi." "Ông có nghĩ rằng có thể ông ấy đã làm việc đó không ?" "Chúng tôi không gần gũi lắm", tôi nói. "Nhưng tôi không nghĩ thế." "Cha mẹ ông mất cả rồi à ?" Tôi gật đầu. Finlay cũng gật đầu. Ghi lại tên tôi với tư cách người họ hàng gần nhất. "Tên đầy đủ của ông ấy là gì ?" "Joe Reacher," tôi nói. "Không có tên đệm". "Thế là nói tắt của Joseph à ?" "Không," tôi nói. "Chỉ là Joe thôi. Kiểu như tên tôi chỉ là Jack. Tôi có người cha thích những cái tên đơn giản." "Được rồi," Finlay nói. "Ông ấy bao nhiêu tuổi ?" Tôi đọc cho ông ngày, tháng, năm sinh của Joe. "Lớn hơn tôi hai tuổi." "Vậy là ông ấy ba mươi tám ?" Tôi gật đầu. Baker đã nói rằng có lẽ nạn nhân chừng bốn mươi. Có lẽ Joe không già hơn tuổi. "Ông có địa chỉ hiện tại của ông ấy không ?"
Tôi lắc đầu. "Không," tôi nói. "Washington DC, ở nơi nào đó. Như tôi đã nói, chúng tôi không gần gũi lắm." "Được rồi", Finlay lại nói. "Lần gần đây nhất ông gặp ông ấy là khi nào ?" Cách đây chừng hai mươi phút," tôi nói. "Trong nhà xác." Finlay gật đầu. "Trước đó kia ?" "Bảy năm trước", tôi đáp. "Trong đám tang mẹ tôi." "Ông có ảnh của ông ấy không ?" "Ông đã trông thấy mọi thứ đồ của tôi trong túi tư trang," tôi nói. "Tôi không có bức ảnh nào cả." Đội trưởng thám tử lại gật đầu. Im lặng. Ông ta đang thấy chuyện này khó. "Ông có thể mô tả ông ấy được không ?" "Trước khi mặt anh ấy bị bắn nát à ?" "Ông biết là điều đó có thể hữu ích mà," Finlay nói. "Chúng tôi cần tìm ra người nào đã trông thấy ông ấy, ở đâu và khi nào." Tôi gật đầu. "Anh ấy trông giống tôi, tôi cho là thế," tôi nói. "Có lẽ cao hơn khoảng hai phân và nặng kém tôi năm cân." "Vậy ông ấy thế nào, chừng một mét chín tám à ?" "Đúng," tôi đáp. "Và nặng chừng một trăm cân, có thể tầm đó." Finlay ghi lại toàn bộ. "Và ông ấy cạo trọc đầu à ?" ông ta hỏi. "Lần trước tôi gặp anh ấy thì không thế", tôi nói. "Anh ấy để tóc như bất kỳ ai khác", "Cách đây bảy năm, đúng không ?" Tôi nhún vai. "Có lẽ anh ấy bắt đầu hói", tôi nói. "Có lẽ anh ấy tuyệt vọng về chuyện đó." Finlay gật đầu. "Ông ấy làm nghề gì ?" viên thám tử hỏi nếp. "Lần cuối cùng tôi nghe nói là anh ấy làm cho Bộ Tài chính," tôi nói. "Làm gì thì tôi không chắc chắn." 'Trước đó ông ấy làm ở đâu ?" Finlay hỏi. "Ông ấy cũng qua quân đội chứ ?"
Tôi gật đầu. "Lực lượng tình báo quân đội", tôi nói. "Sau một thời gian thì ra quân, rồi anh ấy làm việc cho chính phủ", "Anh trai đã viết thư cho ông kể rằng ông ấy từng qua đây, đúng không ?" "Anh ấy có nhắc tới chuyện về Blake Mù," tôi nói. "Không nói chuyện gì đã khiến anh ấy tới đây. Nhưng tìm hiểu không khó đâu." Finlay gật đầu. "Chúng tôi sẽ gọi vài cuộc điện thoại trong buổi sáng hôm nay", ông ta nói. "Cho tới khi ấy, ông có chắc chắn là không biết gì về lý do ông ấy tới đây chứ ?" Tôi lắc đầu. Tôi chẳng biết chút gì về lý do khiến Joe tới đây. Nhưng tôi biết là Hubble biết. Joe là nhân viên điều tra dáng cao có cái đầu trọc và bí số. Hubble đã yêu cầu Joe tới đây và anh ta biết chính xác vì sao. Việc đầu tiên cần làm là tìm Hubble để hỏi anh ta về điều đó. "Ông nói ông không thể tìm thấy Hubble à ?" tôi hỏi Finlay. "Chẳng tìm thấy anh ta ở đâu cả," viên cảnh sát đáp "Anh ta không ở nhà trên phố Beckman Drive và không ai trông thấy anh ta ở thị trấn. Hubble biết toàn bộ chuyện này phải không ?" Tôi chỉ nhún vai. Tôi có cảm giác như mình muốn giữ vài quân bài tủ. Nếu phải ép Hubble để biết điều anh ta không sẵn lòng nói ra, tôi sẽ phải làm việc đó một mình. Tôi không muốn Finlay thấy tôi làm việc đó. Ông ta có thể nghĩ rằng tôi quá mạnh tay. Và dứt khoát tôi không muốn thấy Finlay làm việc gì. Tôi không muốn để Finlay ép buộc Hubble. Có thể tôi nghĩ ông ta không đủ mạnh tay trong chuyện đó. Và dù gì thi Hubble sẽ dễ dàng nói với tôi hơn nói với cảnh sát. Anh ta đã hé cho tôi biết chút ít rồi. Thế nên việc Hubble biết được bao nhiêu sẽ là bí mật của tôi. Ít nhất là ở thời điểm này. "Không rõ Hubble biết gì," tôi nói. "Chính ông đã nói rằng anh ta đã suy sụp còn gì." Finlay lại lần nữa ậm ừ và nhìn qua bàn sang tôi. Tôi có thể thấy ông bước vào đợt suy nghĩ mới. Tôi khá chắc chắn nó là gì. Tôi đã chờ đợi nó nổi lên. Có một phương pháp đáng tin cậy xử lý các vụ án mạng. Nó xuất phát từ các con số thống kê và rất nhiều kinh nghiệm. Phương pháp này có nội dung: khi ta tiếp nhận một người chết, trước tiên ta xem xét gia đình người đó. Bởi rất nhiều vụ án mạng do người họ hàng gây ra. Vợ chồng, con cái. Và anh em. Đó là lý thuyết. Finlay đã chứng kiến việc đó diễn ra cả trăm lần trong
hai mươi năm công tác ở Boston. Giờ thì tôi có thể thấy ông đang nghĩ về điều đó tại Margrave này. Tôi cần can thiệp vào chuyện này. Tôi không muốn ông nghĩ về chuyện đó. Tôi không muốn lãng phí thêm thời gian trong nhà giam. Tôi cho rằng có thể mình cần thời gian cho một việc khác. "Ông vui với bằng chứng ngoại phạm của tôi phải không ?" tôi lên tiếng. Finlay biết tôi đang hướng đi đâu. Như thể chúng tôi là đồng nghiệp cùng giải quyết một vụ nhiều nút thắt. Ông dành cho tôi một cái cười nhăn nhở. "Bằng chứng chắc chắn", viên thám tử đáp. "Lúc chuyện này xảy ra thì ông đang ở Tampa." "Được rồi", tôi nói. "Và đồn trưởng Morrison thoải mái với điều đó chứ ?" "Ông ấy không biết chuyện này", Finlay đáp. "Ông ấy không nghe điện thoại." 'Tôi không muốn có bất kỳ nhầm lẫn nào nữa", tôi bảo. "Lão béo khốn kiếp bảo rằng lão đã trông thấy tôi trên khu đó. Tôi muốn lão biết rằng điều ấy sẽ không được chấp nhận đâu." Finlay gật đầu, cầm điện thoại bàn lên bấm số. Tôi nghe tiếng tín hiệu vo vo lạo xạo vọng ra từ tai nghe. Nó đổ chuông một lúc lâu rồi đứt phựt khi Finlay bỏ máy. "Không ở nhà", ông ta nói. "Hôm nay là Chủ nhật mà ?" Rồi đội trưởng thám tử lôi cuốn danh bạ điện thoại trong ngăn kéo ra. Mở đến vần H. Tìm số của nhà Hubble trên phố Beckman Drive. Bấm số và nhận được kết quả tương tự. Nhiều tín hiệu chờ và không ai ở nhà. Rồi ông ta gọi thử vào số di động. Một giọng điện tử cất lên bảo ông ta rằng điện thoại của anh ta đã tắt. Finlay bỏ máy trước khi giọng kia nói xong. "Khi tìm được Hubble tôi sẽ đưa anh ta về đồn", Finlay bảo. "Anh ta biết những điều nên nói cho chúng ta. Từ giờ tới khi đó tôi không thể làm gì nhiều, đúng không ?" Tôi nhún vai. Đội trưởng thám tử nói đúng, đây là vụ rất ít dấu vết. Đốm lửa duy nhất Finlay biết là cơn hoảng sợ Hubble bộc lộ hôm thứ Sáu. "Ông sẽ làm gì, Reacher ?" ông ta hỏi tôi. "Tôi sẽ suy nghĩ về chuyện đó", tôi nói. Finlay nhìn thẳng vào tôi. Không ác cảm nhưng nghiêm khắc, như thể ông đang cố gắng phát ra một mệnh lệnh và một lời kêu gọi chỉ bằng cái nhìn
nghiêm khắc mắt đối mắt. "Để tôi xử lý chuyện này, được chứ ?" đội trưởng thám tử nói. "Ông sẽ cảm thấy rất tệ, và muốn công lý được thực thi, nhưng tôi không muốn bất kỳ hoạt động độc lập nào diễn ra ở đây, được không ? Đây là việc của cảnh sát. Ông là thường dân. Để tôi xử lý vụ này, được chứ ?" Tôi nhún vai gật đầu. Đứng dậy nhìn cả hai. "Tôi sẽ đi dạo một chút", tôi nói. *** Tôi để hai người ngồi đó và bước qua phòng họp. Đẩy những tấm cửa kính để bước vào buổi chiều nóng nực. Lang thang qua bãi đỗ xe, băng ngang bãi cỏ rộng phía trước tới tận bức tượng đồng. Đây là một bức tượng khác của Caspar Teale, dù tay này là kẻ quái nào chẳng rõ. Vẫn là tay đứng trên bãi cỏ ở rìa Nam thị trấn. Tôi tựa người vào cái sườn kim loại ấm áp của ông ta và suy nghĩ. Mỹ là một đất nước khổng lồ. Vài triệu dặm vuông. Gần ba trăm triệu dân. Đã bảy năm tôi không gặp Joe, và anh cũng không trông thấy tôi, nhưng chúng tôi rốt cuộc đã cùng có mặt chính xác ở một điểm bé xíu, cách nhau tám tiếng. Tôi đã bước tới chỗ cách thi thể anh nằm chừng năm mươi mét. Đó quả là sự trùng hợp ghê gớm. Gần như không tin nổi. Vậy nên Finlay đã tạo cho tôi một ân huệ lớn khi coi đó là sự trùng hợp. Lẽ ra ông ta nên bác bỏ bằng chứng ngoại phạm của tôi. Có lẽ ông ta đã làm thế. Có thể ông ta đang gọi điện tới Tampa để xác minh lần nữa rồi. Nhưng ông ta sẽ chẳng tìm được gì, bởi đây là sự trùng hợp. Chẳng ích gì khi cứ xét đi xét lại. Tôi chỉ có mặt ở Margrave do một ý nghĩ điên rồ nảy ra vào phút cuối cùng. Nếu như tôi xem tấm bản đồ của người đi cùng xe thêm một phút thôi thì xe đã chạy qua giao lộ rồi, và tôi sẽ quên hết về Margrave. Tôi sẽ tới Atlanta và không bao giờ biết chuyện gì về Joe. Có lẽ phải mất thêm bảy năm nữa tin tức về anh mới đến được với tôi. Giờ đây điều duy nhất tôi phải quyết định là làm gì với chuyện này. Tôi bắt đầu gắn với sự trung thành lúc chừng bốn tuổi. Đột nhiên tôi thấy mình cần trông chừng Joe theo cách anh đã trông chừng tôi. Sau một thời gian, việc đó trở thành bản năng thứ hai, như một việc mang tính tự động. Trong đầu tôi luôn thường trực việc tìm kiếm Joe xem anh có ổn không. Rất nhiều lần tôi lao vào sân một ngôi trường mới và thấy một đám nhóc đang bắt nạt anh bạn cao gầy mới đến. Tôi sẽ phi tới, lôi chúng ra và khiến vài cái đầu sưng u lên. Rồi tôi sẽ trở lại với đám bạn của mình, đá bóng
hay tiếp tục làm việc chúng tôi đang làm. Nhiệm vụ đã hoàn thành, như một công việc thường xuyên. Đó là việc thường xuyên diễn ra trong suốt mười hai năm, từ lúc tôi lên bốn đến khi rốt cuộc Joe cũng xa gia đình. Mười hai năm thường xuyên làm việc ấy đã để lại những vết hằn lờ mờ trên não tôi bởi mãi về sau tôi vẫn luôn văng vẳng nghe một câu hỏi vọng về: Joe đang ở đâu ? Khi anh đã lớn và đi xa, việc anh ở đâu cũng chẳng thành vấn đề. Nhưng tôi luôn nhận thức được tiếng vọng lờ mờ của thói quen cũ ấy. Sâu thẳm trong lòng, tôi luôn biết rằng mình phải bảo vệ Joe nếu cần. Nhưng bây giờ Joe đã qua đời. Anh chẳng ở đâu cả. Tôi tì người vào bức tượng trước đồn cảnh sát và lắng nghe một tiếng nói rất nhỏ trong đầu mình: em phải làm điều gì đó. *** Cánh cửa trụ sở đồn đẩy mở. Tôi nheo mắt nhìn qua đám hơi nóng thì thấy Roscoe bước ra. Mặt trời ở phía sau khiến tóc cô sáng lên như vầng hào quang. Nữ cảnh sát lướt mắt trông thấy tôi đang dựa vào bức tượng ở giữa bãi cỏ. Cô liền bước về phía tôi. Tôi đẩy người khỏi bức tượng. "Anh ổn chứ ?" Roseoe hỏi tôi. 'Tôi ổn." "Anh chắc không ?" 'Tôi không suy sụp đâu", tôi nói. "Có lẽ tôi nên thế, nhưng tôi lại không vậy. Nói thật là tôi chỉ cảm thấy tê liệt". Điều đó đúng. Tôi không cảm thấy gì nhiều. Có lẽ đây là một kiểu phản ứng kỳ lạ, nhưng nó là những gì tôi cảm thấy. Phủ nhận điều đó chẳng có ích gì. "OK," Roscoe nói. "Tôi có thể chở anh đi đâu đó được chứ ?" Có lẽ Finlay đã cử nữ cảnh sát ra theo dõi tôi, nhưng tôi sẽ chẳng bật ra nhiều lời phản đối việc ấy. Roscoe đang đứng đây dưới ánh nắng, trông thật tuyệt. Tôi nhận ra rằng lần nào nhìn nữ cảnh sát này tôi cũng thấy thích cô. "Muốn chỉ cho tôi xem nơi ở của Hubble chứ ?" tôi hỏi. Tôi có thể thấy Roscoe đang suy nghĩ về việc đó. "Chúng ta không nên để việc đó cho Finlay sao ?" cô hỏi lại. "Tôi chỉ muốn xem anh ta đã trở về nhà chưa", tôi nói. "Tôi sẽ không ăn thịt anh ta. Nếu anh ta ở đó, chúng ta sẽ gọi cho Finlay ngay lập tức, được chứ ?" "Được", nữ sĩ quan đáp. Cô nhún vai mỉm cười. "Ta đi thôi",
Chúng tôi cùng bước trở lại qua bãi cỏ vào chiếc xe cảnh sát hiệu Chevy của Roscoe. Cô nổ máy lái ra khỏi bãi. Rẽ trái rồi chạy về phía Nam qua thị trấn nhỏ hoàn hảo. Hôm nay là một ngày tháng Chín tuyệt vời. Mặt trời tươi sáng đã biến nó thành một giấc mơ. Vỉa hè lát gạch sáng lên còn lớp sơn trắng thì chói lóa. Toàn bộ nơi này yên tĩnh ngập chìm trong cái nóng của ngày Chủ nhật. Không một bóng người. Roscoe bẻ lái sang phải chỗ bãi cỏ nhỏ và rẽ vào đường Beckman Drive. Vòng quanh khoảnh đất có nhà thờ. Những chiếc xe không còn ở đó, nơi này yên tĩnh. Buổi lễ đã xong. Beckman mở ra trước mắt, một con phố dân cư rộng hơi dốc lên, hai bên đường trồng cây. Nó mang lại cảm giác của sự giàu có. Mát mẻ, rợp bóng cây và sung túc. Đó là điều những người làm nghề bất động sản muốn nói khi đề cập tới vị trí. Tôi không thể trông thấy các căn nhà. Chúng nằm sâu phía sau những ô cỏ rộng, cây lớn và những hàng rào cao. Đường cho xe từ nhà ra phố uốn cong khuất tầm mắt. Thi thoảng tôi thoáng thấy một mái cổng màu trắng hay mái lợp màu đỏ. Càng đi xa, các lô đất càng lớn. Các thùng thư cách nhau tới vài trăm mét. Những cây trưởng thành khổng lồ. Một khu vực yên bình. Nhưng là một khu vực có những câu chuyện ẩn sau các mặt tiền đầy cỏ cây. Trong trường hợp của Hubble, đó là một câu chuyện tuyệt vọng đã đẩy anh ta liên lạc với anh trai tôi. Một câu chuyện đã khiến anh trai tôi bị giết. Roscoe chạy chậm lại bên một thùng thư màu trắng rồi rẽ trái vào lối chạy xe của nhà số 25. Cách trung tâm thị trấn chừng một dặm, bên trải, lưng quay lại mặt trời buổi chiều. Đây là căn nhà cuối cùng trên con phố. Phía trước là những lùm đào kéo dài trong lớp hơi nóng. Chúng tôi chầm chậm chạy vào lối chạy xe uốn lượn, hai bên là hai hàng cây được xén tỉa. Căn nhà không như tôi tưởng tượng. Tôi đã hình dung nó là một căn nhà lớn màu trắng, như một căn nhà thông thường song lớn hơn. Căn này còn tráng lệ hơn. Một cung điện. Khổng lồ. Mọi chi tiết đều xa xỉ. Những mảng trải sỏi, những trảng cỏ mượt như nhung, những cây khổng lồ đẹp đẽ, mọi thứ đều sáng lên và lôm đốm nắng chiều. Nhưng không có dấu hiệu nào của chiếc Bentley sẫm màu tôi đã trông thấy ở nhà tù. Có vẻ là không ai ở nhà cả. Roscoe tấp vào gần cửa trước và chúng tôi ra khỏi xe. Nơi này im lặng. Tôi chẳng nghe thấy gì trừ tiếng rì rầm nặng nề của cái nóng buổi chiều. Chúng tôi bấm chuông rồi gõ cửa. Bên trong không ai đáp lại. Chúng tôi nhún vai với nhau và bước qua một bãi cỏ quanh phía hông nhà. Có vài acre cỏ cùng các khóm hoa rực rỡ bao quanh sân vườn. Rồi một hiên rộng và bãi
cỏ dài dốc xuống bể bơi khổng lồ. Nước bể dưới nắng có màu xanh sáng. Tôi có thể ngửi thấy mùi clo lơ lửng trong không khí. "Ở nơi nào đó," Roscoe nói. Tôi gật đầu. Tôi tự hỏi liệu anh trai mình có đang ở nơi ấy không. "Tôi nghe thấy tiếng xe," nữ cảnh sát tiếp. Chúng tôi trở lại phía trước nhà đúng lúc chiếc Bentley to lớn từ từ dừng lại. Người phụ nữ tóc vàng mà tôi trông thấy lái xe rời nhà tù bước ra khỏi xe. Cô chở theo hai đứa con. Một trai, một gái. Đây là gia đình của Hubble. Anh ta yêu họ vô cùng. Nhưng bây giờ anh ta không ở bên họ. Dường như người phụ nữ tóc vàng biết Roscoe. Họ chào nhau và Roscoe giới thiệu tôi với cô. Cô bắt tay tôi rôi giới thiệu tên là Charlene, nhưng tôi có thể gọi cô là Charlie. Đây là một phụ nữ toát lên vẻ đắt tiền, người cao ráo, mảnh mai, dáng đẹp, ăn mặc chỉn chu, được yêu chiều. Nhưng khuôn mặt cô đầy thần thái, như một làn gió. Thần thái đủ để khiến tôi thích cô. Người phụ nữ giữ tay tôi và mỉm cười, nhưng đây là một nụ cười mà đằng sau là cả một núi căng thẳng. "Đây chẳng phải kỳ cuối tuần tuyệt nhất trong đời tôi, tôi e là thế", cô nói. "Nhưng có vẻ như tôi nợ ông rất nhiều lời cảm ơn, ông Reacher. Chồng tôi kể với tôi rằng khi trong tù ông đã cứu mạng anh ấy." Cô nói với giọng chứa đầy băng đá. Không hướng vào tôi mà hướng vào hoàn cảnh quỷ quái buộc người phụ nữ này phải dùng những từ "chông" và "nhà tù" trong cùng một câu. ''Không vấn đề gì," tôi nói. "Anh ấy đang ở đâu ?" "Lo chút công chuyện", Charlie đáp. 'Tôi nghĩ lát nữa anh ấy sẽ về." Tôi gật đầu. Đó là kế hoạch của Hubble. Anh ta nói sẽ bịa ra một câu chuyện với vợ và rồi cố gắng làm êm mọi chuyện. Tôi tự hỏi liệu Charlie có muốn nói về chuyện ấy không, song hai đứa trẻ đang im lặng đứng bên cô, tôi có thể thấy rằng cô không thể nói chuyện trước mặt chúng. Thế nên tôi nhăn nhở với hai đứa bé. Tôi hy vọng cả hai thấy ngại mà bỏ chạy đi chỗ khác, như bọn trẻ thường làm với tôi, nhưng hai đứa này chỉ nhăn nhở lại. "Đây là Ben," Charlie bảo. "Còn đây là Lucy." Hai đứa trẻ trông dễ thương. Đứa con gái vẫn còn vẻ mũm mĩm của trẻ nhỏ. Khuyết mất răng cửa. Mái tóc đẹp màu cát được bện đuôi sam. Đứa con trai chẳng lớn hơn em gái là mấy. Nó nhỏ người và có gương mặt nghiêm túc. Không phải một tay côn đồ bóng đá ồn ã như hầu hết đám con trai. Đây là hai đứa trẻ ngoan. Lịch sự và trầm tính. Cả hai cùng bắt tay tôi rồi bước trở lại
bên mẹ. Tôi nhìn cả ba và chỉ có thể thấy đám mây khủng khiếp đang lửng lơ phía trên đầu họ. Nếu Hubble không cẩn thận, anh ta có thể khiến cả ba mất mạng, như anh ta đã gây ra cho anh trai tôi. "Hai người sẽ vào dùng chút trà đá chứ ?" Charlie hỏi hai chúng tôi. Người phụ nữ vẫn đứng yên, đầu hất lên một chút như đang đợi câu trả lời. Có lẽ cô chừng ba mươi tuổi, tầm tuổi Roscoe. Nhưng cô có phong thái của một phụ nữ giàu có. Trước đây một trăm năm mươi năm, có lẽ cô là bà chủ của một đồn điền lớn. "Được chứ," tôi nói. "Cảm ơn cô." Bọn trẻ chạy đi chơi đâu đó và Charile đưa chúng tôi vào lối cửa trước. Tôi không thật muốn dùng trà đá nhưng lại muốn nán lại phòng trường hợp Hubble quay về. Tôi muốn gặp riêng anh ta chừng năm phút. Tôi muốn hỏi anh ta vài câu hỏi rất khẩn trước khi Finlay khởi sự cùng với lời cảnh báo Miranda. *** Một ngôi nhà cực kỳ sang trọng. Khổng lồ. Trang trí nội thất đẹp đẽ. Sáng sủa và tươi mới. Màu kem mát dịu cùng màu vàng nắng. Hoa. Charlie đưa chúng tôi thẳng ra sân vườn mà hai chúng tôi đã trông thấy từ bên ngoài. Cứ như thứ gì đó lấy từ tạp chí. Roscoe đi cùng chủ nhà giúp pha trà. Để lại tôi một mình trong sân vườn. Điều đó làm tôi thấy bất an. Tôi không quen với nhà. Đã ba mươi sáu tuổi mà tôi chưa bao giờ sống trong căn nhà nào. Rất nhiều khu ở dành cho quân nhân và khu tập thể kinh khủng trơ trọi khi tôi còn học ở West Point. Đó là những nơi tôi từng sống. Tôi ngồi xuống như một sinh vật lạ xấu xí trên chiếc nệm in hoa đặt trên xô pha đan mây mà chờ đợi. Bất an, tê liệt trong khoảng chết chóc giữa hành động và phản ứng. Hai người phụ nữ mang trà lại. Charlie bê một chiếc khay bằng bạc. Cô là người phụ nữ đẹp nhưng đứng cạnh Roscoe thì chẳng là gì. Trong đôi mắt Roscoe có những tia lấp lánh như khiến Charlie trở thành vô hình. Rồi một chuyện xảy ra. Roscoe ngồi xuống cạnh tôi trên chiếc xô pha mây. Khi ngồi, cô đẩy chân tôi sang một bên. Đây là việc làm không chủ định nhưng rất gần gũi và quen thuộc. Một đầu dây thần kinh đã tê liệt đột nhiên hoạt động hét lên với tôi: Cô ấy cũng thích anh. Cô ấy cũng thích anh. Đó là cách nữ cảnh sát chạm vào chân tôi. Tôi hồi tưởng và nhìn lại mọi chuyện dưới luồng sáng mới ấy. Hành động của Roscoe khi lấy dấu vân tay và chụp ảnh tôi. Mang cà phê cho tôi. Nụ cười cùng cái nháy mắt của cô. Tiếng cười
của cô. Làm việc cả đêm thứ Sáu và ngày thứ Bảy để có thể đưa tôi ra khỏi nhà tù Warburton. Lái xe cả chặng đường để đón tôi. Cầm tay tôi sau khi tôi đã thấy thi thể giập nát của anh trai mình. Lái xe đưa tôi tới đây. Cô ấy cũng thích tôi. Đột nhiên tôi cảm thấy hạnh phúc khi đã nhảy xuống chiếc xe buýt. Vui vì tôi đã đưa ra quyết định điên rồ ở phút cuối cùng. Tôi đột nhiên thấy nhẹ nhõm. Cảm thấy khá hơn. Tiếng nói rất nhỏ trong đầu tôi đã im lặng. Quả là ngay lúc này chẳng có gì cho tôi làm. Tôi sẽ nói chuyện với Hubble khi gặp anh ta. Từ giờ cho tới khi ấy tôi sẽ ngồi trên xô pha cùng với một người phụ nữ xinh đẹp, thân thiện có mái tóc sẫm màu, mặc một chiếc sơ mi vải conon mềm. Nhưng rắc rối sẽ sớm nảy sinh thôi. Luôn luôn thế. Charlie ngồi xuống phía đối diện hai chúng tôi rồi bắt đầu rót trà đá từ bình ra. Mùi chanh và gia vị tỏa ra. Cô bắt gặp ánh mắt tôi liền nở lại đúng nụ cười hàm chứa sự căng thẳng lúc nãy. 'Thường thì trong trường hợp như thế này, tôi sẽ hỏi xem ông đang vui vẻ thế nào với chuyến thăm tới Margrave của chúng tôi", cô nói rồi nhìn tôi, căng thẳng, miệng mỉm cười. Tôi không thể nghĩ ra câu trả lời. Tôi chỉ nhún vai. Rõ ràng Charlie không hề biết gì. Cô nghĩ chồng mình bị bắt do sự nhầm lẫn nào đó. Không phải bởi anh ta dính vào một vụ rắc rối vừa khiến cho hai người bị giết. Một trong hai người đó là anh trai của kẻ xa lạ đang được cô dành cho nụ cười. Roscoe đỡ lời tôi, rồi hai người bắt đầu buôn chuyện. Tôi chỉ ngồi đó, uống trà chờ Hubble. Anh ta không xuất hiện. Rồi cuộc nói chuyện chấm dứt và chúng tôi phải ra khỏi đây. Charlie sốt ruột như có việc gì đó phải làm. Roscoe đặt tay lên cánh tay tôi. Sự đụng chạm khiến tôi như bị điện giật. "Ta đi thôi," cô nói. "Tôi sẽ chở anh quay lại thị trấn". Tôi cảm thấy không ổn khi mình không ở lại chờ Hubble. Điều đó khiến tôi cảm thấy mình không trung thành với Joe. Nhưng tôi chỉ muốn được một mình bên Roscoe. Tôi rất muốn được như thế. Có lẽ nỗi đau buồn bị dồn nén đang khiến mong muốn đó mạnh lên. Tôi muốn để lại những vấn đề của Joe tới ngày mai. Tôi tự nhủ rằng dù sao cũng không có lựa chọn nào. Hubble đã không xuất hiện. Tôi chẳng thể làm gì khác. Thế nên chúng tôi cùng nhau trở lại chiếc Chevy và chạy theo lái chạy xe quanh co. Chạy theo phố Beckman. Đến cuối con phố dài một dặm này thì nhà cửa mọc dày hơn. Chúng tôi vòng qua nhà thờ. Bãi cỏ nhỏ với bức tượng Caspar Teale nằm ở phía trước.
"Reacher," Roscoe cất tiếng. "Anh sẽ ở đây một thời gian phải không ? Cho tới khi chúng ta làm rõ chuyện này liên quan thế nào tới anh trai anh hả ?" "Tôi nghĩ là thế," tôi đáp. "Anh sẽ ở đâu ?" cô hỏi. "Tôi không biết." Nữ cảnh sát đánh xe vào lề đường gần bãi cỏ. Chuyển số sang chế độ Đỗ xe. Gương mặt cô thể hiện ánh nhìn nhẹ nhàng. "Em muốn anh về nhà cùng em." Tôi cảm thấy như mất trí, nhưng vì rất mong như thế nên tôi kéo Roscoe lại và chúng tôi hôn nhau. Nụ hôn đầu tuyệt vời. Khuôn miệng, mái tóc, mùi thơm và hương vị mới lạ. Roscoe hôn dài, mạnh mẽ, xoắn xuýt. Chúng tôi phải ngừng lấy hơi vài lần trước khi cô tiếp tục lái xe về nhà. Roscoe phóng hết chừng một phần tư dặm theo một con phố mở ra phía đối diện với Beckman Drive. Khi cô bẻ lái vào con đường dẫn vào nhà, tôi trông thấy một vệt cỏ dưới nắng. Tiếng lớp xe rít lên khi cô dùng xe. Ít nhiều chúng tôi cũng hấp tấp ra khỏi xe lao về phía cửa. Roscoe lấy chìa mở khóa và cả hai bước vào. Cánh cửa sập lại, trước khi chốt cửa đóng lại thì chúng tôi đã ở trong vòng tay của nhau. Chúng tôi hôn nhau và loạng choạng tiến vào phòng khách. Roscoe thấp hơn tôi chừng ba mươi phân, hai bàn chân đang rời khỏi mặt đất. Chúng tôi giật hết quần áo của nhau ra như thể đang bị bén lửa. Roscoe tuyệt kinh khủng. Săn chắc, khỏe khoắn và đẹp như mơ. Lớp da mịn như lụa. Cô kéo tôi xuống sàn, qua những dải nắng nóng xuyên qua ô cửa sổ. Thật điên cuồng. Chúng tôi lăn lộn và chẳng gì có thể ngăn lại nổi. Cứ như đã đến ngày tận thế. Chúng tôi run lên rồi ngừng lại và nằm thở gấp. Cả hai đều đẫm mồ hôi. Hoàn toàn kiệt sức. Chúng tôi nằm thở và vuốt ve nhau. Rồi Roscoe rời ra kéo tôi dậy. Chúng tôi hôn nhau lần nữa khi loạng choạng đi vào phòng ngủ. Roscoe kéo ga trải giường ra và cả hai ngã nhào xuống. Ôm nhau rồi chìm vào cơn đê mê sau khi làm chuyện ấy. Tôi thấy rã rời. Cảm giác như tất cả xương cốt và cơ bắp làm bằng cao su vậy. Tôi nằm trên chiếc giường lạ phiêu du tới một điểm còn hơn cả sự thư giãn. Tôi đang bay bổng. Cơ thể ấm áp của Roscoe rúc vào bên người tôi. Tôi hít thở qua mái tóc của cô. Bàn tay chúng tôi lười nhác vuốt ve những đường cong mới lạ.
Roscoe hỏi xem tôi muốn tìm một motel không. Hay ở cùng với cô. Tôi bật cười bảo rằng bây giờ cách duy nhất tống cổ được tôi là đến đồn mang về một cây súng trường xua tôi đi. Tôi còn bảo Roscoe rằng thậm chí biện pháp ấy cũng không hữu hiệu. Cô khúc khích cười và ép mình vào sát hơn. "Em sẽ không lấy súng trường về đâu", cô thầm thì. "Em sẽ lấy về mấy chiếc còng. Em sẽ còng anh vào chân giường và giữ đó mãi mãi". Chúng tôi ngủ đến hết buổi chiều. Đến bảy giờ tối tôi gọi cho Hubble. Anh ta vẫn chưa về. Tôi để lại số điện thoại của Roscoe cho Charlie và bảo cô dặn Hubble gọi cho tôi ngay khi về tới nhà. Rồi chúng tôi ngủ cả buổi tối. Đến nửa đêm thì ngủ rất say. Hubble chẳng hề gọi đến. *** Sáng thứ Hai, tôi lờ mờ biết việc Roscoe dậy đi làm. Tôi nghe tiếng vòi hoa sen và biết cô nhẹ nhàng hôn mình, rồi căn nhà nóng, yên ắng, tĩnh lặng. Tôi ngủ tiếp tới chín giờ. Điện thoại không đổ chuông. Thế thì ổn. Tôi cần chút thời gian yên tĩnh để suy nghĩ. Tôi phải đưa ra các quyết định. Tôi duỗi chân tay trên chiếc giường ấm áp của Roscoe và bắt đầu trả lời câu hỏi vì sao tiếng nói rất nhỏ trong đầu lại đang hỏi tôi. Tôi sẽ làm gì với chuyện của Joe ? Câu trả lời đến rất dễ dàng. Tôi biết là sẽ thế. Tôi biết nó đã chờ đợi từ lần đầu tiên tôi đứng cạnh thi thể giập nát của anh trong nhà xác. Đó là câu trả lời rất đơn giản. Tôi sẽ đứng lên vì anh. Tôi sẽ hoàn thành công việc của anh. Dù có là gì đi nữa. Dù phải trả giá thế nào. Tôi không thấy trước bất kỳ khó khăn lớn nào. Hubble là mối liên hệ duy nhất tôi có, nhưng anh ta là mối liên hệ duy nhất tôi cần. Anh ta sẽ hợp tác. Anh ta đã dựa vào Joe để giúp mình thoát ra. Giờ thì anh ta dựa vào tôi. Người này sẽ mang lại thứ tôi cần. Thế lực thao túng anh ta dễ bị lộ trong một tuần. Hubble đã nói gì nhỉ ? Một ô cửa dễ bị tấn công bây giờ lại mở rộng cho tới tận Chủ nhật ? Tôi sẽ sử dụng ô cửa đó để xé xác chúng. Tôi đã quyết, không thể làm cách nào khác. Tôi không thể nhường việc này cho Finlay. Finlay không hiểu tất cả những năm tháng lịch sử đó. Finlay sẽ không ra những đòn trừng phạt thích đáng. Finlay không thể hiểu nổi sự thật đơn giản tôi đã học được từ lúc bốn tuổi: đừng có đụng vào anh tôi. Thế nên đây là việc của tôi. Giữa tôi và Joe. Đó là nhiệm vụ. Tôi nằm trên chiếc giường ấm áp của Roscoe mà nghiên cứu phương
án. Đó sẽ là một tiến trình đơn giản. Đơn giản nhất có thể. Kiểm soát Hubble không khó. Tôi biết nơi anh chàng đang sống. Tôi biết số điện thoại của anh ta. Tôi duỗi người, mỉm cười, tràn đầy nguồn sinh lực không bao giờ cạn kiệt. Ra khỏi giường thì thấy cà phê. Có một mẩu giấy dựng tựa vào ấm. Mẩu giấy ghi: Ăn trưa sớm ở tiệm Eno nhé ? Mười một giờ được không ? Để Hubble lại cho Finlay được không ? Mẩu giấy có chữ ký cùng nhiều nụ hôn và một hình nhỏ vẽ chiếc còng tay. Tôi đọc và mỉm cười khi nhìn hình vẽ, nhưng tôi sẽ không để Hubble lại cho Finlay. Không được. Hubble là việc của tôi. Thế nên tôi xem số điện thoại lần nữa và gọi đến Beckman Drive. Chẳng có ai ở nhà. Tôi rót một cốc cà phê lớn rồi bước ra phòng khách. Bên ngoài mặt trời chói lóa. Lại một ngày nóng nữa. Tôi dạo khắp nhà. Đây là căn nhà nhỏ. Một phòng khách, một bếp kiêm phòng ăn, hai phòng ngủ, một phòng tắm và một phòng vệ sinh. Rất mới, rất sạch. Trang trí theo phong cách đơn giản, dịu nhẹ. Là điều tôi nghĩ sẽ có ở Roscoe. Phong cách đơn giản, dịu nhẹ. Phong cách nghệ thuật Navajo dễ chịu, vài thảm dày, tường sơn trắng. Chắc chắn Roscoe đã từng đến New Mexico và thích nơi đó. Nhà tĩnh lặng, yên ắng. Roscoe có một bộ dàn nghe nhạc, vài đĩa hát cùng vài băng nhạc, nghe ngọt ngào và du dương hơn thứ gào rú ồn ào mà tôi gọi là âm nhạc. Tôi lấy thêm cà phê ở bếp. Trở lại phía sau. Ngoài này có một khoảng sân nhỏ, một trảng cỏ be bé và vài cây thường xuân mới trồng, vỏ cây vụn để ngăn cỏ dại, khu trồng cây được bao bọc bởi gỗ mộc. Tôi đứng trong nắng nhấp cà phê. Rồi tôi trở vào trong thử gọi cho Hubble lần nữa. Không có người nhấc máy. Tôi tắm rồi mặc quần áo. Roscoe có một bồn tắm đứng loại nhỏ, vòi đặt thấp, xà phòng tắm cho nữ để trong đĩa. Tôi tìm thấy một chiếc khăn tắm trong tủ đồ và chiếc lược trên bàn trang điểm. Không có dao cạo. Tôi mặc đồ rồi xả sạch chiếc cốc uống cà phê. Thử gọi tới số điện thoại nhà Hubble lần nữa bằng điện thoại trong bếp. Tôi để máy đổ chuông một lúc lâu. Không ai ở nhà. Tôi tính là sau bữa trưa sẽ nhờ xe Roscoe tới đó. Chuyện này sẽ không thể kéo dài mãi được. Tôi khóa cửa sau lại và đi ra cửa trước. Lúc này khoảng 10 giờ 30. Cách tiệm ăn Eno hơn một dặm. Chặng đường mất khoảng nửa tiếng đi bộ thư thả trong nắng. Trời đã rất nóng. Đã phải tới trên hai bảy độ. Thời tiết mùa thu huy hoàng ở miền Nam. Tôi cuốc bộ một phần tư dặm theo con đường dốc hơi uốn khúc tới Phố Chính. Mọi
thứ đều được tỉa tót đẹp đẽ. Nơi nào cũng có những cây mộc lan cao vút, những bụi hoa nở muộn. Tôi rẽ ở cửa hàng tiện ích và đi lên Phố Chính. Vỉa hè đã được quét. Tôi có thể thấy những nhóm công nhân làm vườn ở công viên nhỏ. Họ đang xếp bình phun và dùng xe đẩy chuyển đồ ra khỏi những chiếc xe tải màu xanh in dòng chữ Quỹ Klmer màu vàng. Vài người đang sơn hàng rào cọc nhọn. Tôi vẫy tay chào hai ông thợ cắt tóc già trong cửa hàng. Họ đang tì người phía trong cửa, như đang đợi khách. Hai ông vẫy tay chào lại, tôi tiếp tục bước. Tiệm Eno hiện ra trước mắt. Lớp ốp ngoài bằng nhôm được đánh bóng lấp lánh dưới nắng. Chiếc Chevrolet đang nằm trong bãi đỗ. Bên cạnh, trên nền sỏi là chiếc bán tải đen hôm qua tôi đã trông thấy bên ngoài tiệm cà phê. Tôi tới tiệm đẩy cửa bước vào. Tôi đã bị giải ra qua cửa này hôm thứ Sáu, với mũi súng trường của Stevenson chĩa vào bụng. Tôi đã bị còng. Tôi tự hỏi liệu người của quán có nhớ không. Có lẽ họ nhớ. Margrave là nơi rất yên ả. Không có nhiều người lạ qua đây. Roscoe đang ngồi ở chính cái ghế tôi ngồi hôm thứ Sáu. Cô đã trở lại với bộ cảnh phục và trông như người phụ nữ gợi cảm nhất trái đất. Tôi bước tới chỗ Roscoe. Cô ngước lên dành cho tôi nụ cười dịu dàng còn tôi cúi người hôn môi nữ cảnh sát. Roscoe lướt người qua bàn nhựa vinyl về phía cửa sổ. Trên bàn có hai tách cà phê. Tôi chuyển tách của Roscoe sang bên kia bàn. Gã lái chiếc xe bán tải đen đang ngồi ở quầy ăn trưa. Thằng con nhà Kliner, con ghẻ của người phụ nữ có nước da tái nhợt. Hắn xoay chiếc ghế cao đang ngồi để quay lưng lại với quầy phục vụ. Tên này ngồi giạng hai chân, chống hai khuỷu tay lên, đầu ngẩng, hai mắt rực lên một lần nữa chằm chằm nhìn tôi. Tôi xoay lưng về phía hắn và lại hôn Roscoe. "Liệu chuyện này có hủy hoại quyền lực của em không ?" tôi hỏi nữ cảnh sát. "Khi bị người ta trông thấy hôn một gã vô gia cư bị bắt tại đây hôm thứ Sáu ?" "Có lẽ có," cô đáp. "Nhưng ai quan tâm chứ ?" Thế nên tôi hôn lần nữa. Con trai nhà Kliner đang quan sát. Tôi có thể cảm nhận được cái nhìn ở gáy mình. Tôi xoay người nhìn lại hắn. Hắn giữ ánh nhìn ở tôi chừng một giây rồi tuột xuống ghế bỏ đi. Dừng lại ở cửa và trừng trừng nhìn tôi lần cuối cùng. Rồi hắn vội vã đến bên chiếc xe bán tải của mình và lái đi. Tôi nghe tiếng gầm của động cơ, rồi tiệm ăn lại yên tĩnh. Có thể nói nơi này trống trơn, hệt như hôm thứ Sáu. Hai ông già và hai nữ
phục vụ. Vẫn là hai cô phục vụ hôm thứ Sáu. Tóc vàng, một người cao lớn hơn người còn lại. Đồng phục của nữ nhân viên phục vụ. Người thấp hơn đeo kính. Không phải y đúc nhau nhưng cũng nhang nhác giống. Như chị em ruột hay chị em họ. Cùng gốc gác ở nơi nào đó. Một thị trấn nhỏ, ở nơi xa xôi. "Anh đã quyết định", tôi nói. "Anh phải tìm hiểu chuyện đã xảy ra với Joe. Thế nên anh chỉ muốn xin lỗi trước, đề phòng việc ấy ảnh hưởng tới công việc của em, được chứ ?" Roscoe nhún vai và lại nở một nụ cười dịu dàng. Trông có vẻ lo cho tôi. "Sẽ không ảnh hưởng gì đâu", cô nói. "Chẳng có lý nào lại như thế cả." Tôi nhấp cà phê. Cà phê ngon. Tôi nhớ hôm thứ Sáu vừa rồi cũng vậy. "Bọn em đã có danh tính của người thứ hai," cô nói "Các dấu vân tay của anh ta khớp với một vụ bắt giữ cách đây hai năm ở Florida. Tên anh ta là Sherman Stoller. Cái tên đó có ý nghĩa gì với anh không ?" Tôi lắc đầu. "Chưa bao giờ nghe nói tới anh ta cả," tôi nói. Rồi máy nhắn tin của Roscoe đổ chuông. Đó là loại máy nhắn tin nhỏ màu đen cài vào thắt lưng. Trước đây tôi không thấy. Có lẽ cô chỉ bị yêu cầu sử dụng trong giờ làm việc. Nó đang đổ chuông. Roscoe vòng tay tắt đi. "Chết tiệt", cô nói. "Em phải gọi về đồn. Xin lỗi nhé. Em sẽ dùng điện thoại trong xe." Tôi chuồi người khỏi ghế để nhường lối cho Roscoe ra. "Gọi cho em chút đồ ăn, được không ?" cô hỏi. "Em sẽ ăn bất kỳ món gì anh dùng." "Được", tôi nói. "Em chọn cô nào làm người phục vụ bọn mình ?" "Cô đeo kính ấy," Roscoe đáp. Cô bước ra khỏi tiệm. Tôi có thể nhìn thấy cô khom người nhoài vào trong xe để gọi điện thoại. Rồi từ ngoài bãi đỗ, Roscoe ra hiệu gọi tôi. Ra dấu khẩn cấp. Rằng cô phải trở về đồn. Rằng tôi nên ở yên đây. Roscoe nhảy vào xe lái đi, về phía Nam. Tôi mơ hồ vẫy tay chào, không thực sự nhìn theo bởi tôi đang chằm chằm nhìn cô phục vụ. Tôi hầu như ngừng thở. Tôi cần Hubble. Vậy mà Roscoe lại vừa mới nói với tôi rằng anh ta đã chết.
10 Tôi đờ đẫn nhìn qua phía hai nhân viên phục vụ tóc vàng. Một người cao hơn người còn lại chừng bảy, tám phân. Có lẽ nặng hơn bảy, tám cân. Già hơn vài tuổi. Nếu so sánh thì cô kia người nhỏ thó. Trông khá hơn. Cô có mái tóc dài hơn, sáng màu hơn. Đôi mắt đẹp sau cặp kính. Nếu hai người này đứng cạnh nhau thì ta dễ nhận thấy họ có vẻ ngoài nhang nhác nhau. Nhưng không giống nhau như đúc. Giữa họ có cả triệu điểm khác biệt. Không thể có chuyện khó phân biệt hai người. Tôi đã hỏi Roscoe xem cô ấy muốn người nào phục vụ chúng tôi. Và cô đã trả lời ra sao ? Cô không bảo đó là người nhỏ hơn, người có mái tóc dài, người có tóc vàng hơn, người gầy mảnh hơn, xinh hơn hay người trẻ hơn. Cô bảo là người đeo kính. Một người đang đeo kính, người kia thì không. Người phục vụ chúng tôi là người đeo kính. Đeo kính là khác biệt lớn giữa hai người. Nó vượt lên mọi khác biệt còn lại. Những khác biệt còn lại là những yếu tố chỉ mức độ. Cao hơn, nặng hơn, dài hơn, thấp hơn, nhỏ hơn, xinh hơn, sẫm màu hơn, trẻ hơn. Cặp kính không phải là yếu tố chỉ mức độ. Một phụ nữ đeo kính, người kia thì không. Sự khác biệt tuyệt đối. Không nhầm lẫn. Người phục vụ chúng tôi là người đeo kính. Đó là điều Spivey đã trông thấy vào đêm thứ Sáu. Spivey đã tới khoang tiếp đón lúc hơn mười giờ. Cùng một khẩu súng trường và một bảng ghi trong đôi tay to đỏ lựng của một người nông dân. Hắn đã hỏi ai trong chúng tôi là Hubble. Tôi nhớ giọng the thé của hắn trong cái tĩnh lặng của phòng giam. Chẳng có lý do nào để hắn hỏi câu đó. Tại sao Spivey lại quan tâm người nào trong chúng tôi là ai chứ ? Hắn không cần phải biết. Nhưng hắn đã hỏi. Hubble đã giơ tay lên. Spivey đã nhìn khắp người anh ta bằng đôi mắt rắn của mình. Hắn đã thấy rằng Hubble nhỏ hơn, thấp hơn, nhẹ hơn, màu cát đậm hơn, hói hơn, trẻ hơn tôi Nhưng đâu là sự khác biệt mà hắn bám lấy ? Hubble đeo kính. Tôi thì không. Đôi gọng kính nhỏ bằng vàng. Sự khác biệt tuyệt đối. Đêm đó Spivey đã tự nhủ: Hubble là gã đeo kính. Nhưng tới sáng hôm sau thì tôi là kẻ đeo kính, không phải Hubble. Bởi đôi gọng nhỏ bằng vàng đã bị lũ Trai Đỏ dẫm bẹp ngoài buồng giam của bọn tôi. Việc đầu tiên diễn ra vào buổi sáng. Cặp gọng nhỏ bằng vàng bị hỏng. Tôi đã tước cái kính mát của một trong số chúng làm chiến lợi phẩm. Lấy
kính xong quên mất. Tôi đã tựa vào bồn rửa trong phòng tắm xem xét phần trán mềm của mình qua chiếc gương thếp. Tôi đã cảm nhận được cái kính mát trong túi. Tôi lôi ra đeo vào. Hai mắt kính không tối bởi chúng phải phản ứng với ánh sáng mặt trời. Cái kính đó trông như kính thường. Tôi đã đeo kính đứng đó lúc bọn Aryan tiến vào phòng. Spivey mới nói với chúng: hãy tìm hai thằng mới và giết thằng đeo kính. Chúng đã rất cố gắng. Chúng đã rất cố gắng để giết Paul Hubble. Bọn chúng đã tấn công tôi bởi miêu tả chúng nhận được đột nhiên trở thành miêu tả sai. Spivey đã thông báo điều ấy trước đó khá lâu. Kẻ giao cho hắn xử lý Hubble đã không bỏ cuộc. Chúng đã nỗ lực lần thứ hai. Và nỗ lực thứ hai đã thành công. Toàn bộ lực lượng của đồn cảnh sát đã được huy động tới Beckman Drive. Tới số nhà 25. Bởi người nào đó đã phát hiện thấy hiện trường khủng khiếp tại nơi ấy. Thảm sát. Anh ta đã chết. Cả bốn người đã chết. Bị tra tấn và giết một cách dã man. Do lỗi của tôi. Tôi đã thiếu suy xét. Tôi chạy tới quầy. Nói với người phục vụ của chúng tôi. Người đeo kính. "Cô có thể gọi cho tôi một chiếc taxi không ?" tôi hỏi. Đầu bếp đang quan sát từ cửa bếp. Có lẽ ông ta chính là Eno. Thấp, chắc nịch, da sẫm, hói. Già hơn tôi. "Không, chúng tôi không thể", ông ta gọi với ra. "Ông nghĩ nơi này là đâu vậy ? Khách sạn à ? Đây không phải khách sạn Waldorf Astoria, ông bạn. Nếu muốn có taxi, ông phải tự tìm. Ông không được đón chào ở đây, ông bạn. Ông chỉ tổ gây rắc rối." Tôi thất vọng nhìn tay đầu bếp. Kiệt quệ đến mức không phản ứng được gì. Nhưng cô phục vụ chỉ bật cười với ông ta. Đặt bàn tay lên cánh tay tôi. "Đừng để tâm tới Eno," cô nói. "Ông ấy chỉ là lão già gắt gỏng thôi. Tôi sẽ gọi taxi cho ông. Chỉ cần chờ ngoài bãi đỗ xe, được chứ ?" Tôi chờ phía ngoài đường. Năm phút. Taxi chạy tới. Mới tinh và không chút tì vết, như mọi thứ khác ở Margrave. "Đi đâu đây, thưa ngài ?" tài xế taxi hỏi. Tôi đọc cho anh ta địa chỉ nhà Hubble, anh này làm một cú xoay đầu rộng, chậm rãi, từ mé này qua mé kia tỉnh lộ. Hướng về phía thị trấn. Chúng tôi chạy qua đồn cứu hỏa và đồn cảnh sát. Bãi đậu xe trống không. Chiếc Chevy của Roscoe không ở đó. Không có xe tuần tra nào. Tất cả đều ra ngoài. Ở nhà Hubble. Chúng tôi ngoặt phải chỗ bãi cỏ và lao qua nhà thờ
đang im lặng. Hướng về phía Beckman. Một dặm nữa tôi sẽ thấy một dãy xe phía ngoài căn nhà số 25. Những chiếc xe tuần tra nháy đèn và hú còi. Hai chiếc không sơn phù hiệu của Finlay và Roscoe. Một hoặc hai xe cứu thương. Bác sĩ pháp y sẽ rời căn phòng tồi tàn của ông ta ở Yellow Springs để tới đó. Nhưng con phố chẳng có gì. Tôi bước vào lối chạy xe của nhà Hubble. Chiếc taxi quay đầu trở lại thị trấn. Rồi yên lặng. Sự yên lặng nặng nề ta gặp trên một con phố yên tĩnh vào một ngày nóng tĩnh lặng. Tôi vòng qua hai hàng cây được xén tỉa ở hai bên lối đi. Chẳng có ai ở đây. Không xe cảnh sát, không xe cứu thương, không tiếng la hét. Không tiếng xe đẩy bệnh nhân lạch cạch, không những tiếng thở gấp gáp hoảng sợ. Không cảnh sát chụp ảnh, không có những dải băng phong tỏa hiện trường. Chiếc Bentley to lớn màu sẫm đang đậu trên lối đi rải sỏi. Tôi đi qua chiếc xe, tiến vào nhà. Cửa trước bật mở. Charlie Hubble chạy vọt ra. Cô đang la hét. Cô đang phát cuồng. Nhưng vẫn sống. "Hubble mất tích rồi," Charlie hét. Cô chạy trên lối đi rải sỏi. Đứng ngay trước mặt tôi "Hub đâu rồi ấy," cô hét. "Anh ấy đã mất tích. Tôi không thể tìm được." Chỉ có mình Hubble. Chúng đã túm được anh ta và ném ở đâu đó. Người nào đó phát hiện thấy cái xác liền gọi cảnh sát. Người gọi hét lên trên điện thoại, tay bụm lấy miệng vì buồn nôn. Chuỗi xe hơi và xe cứu thương đang ở đó. Không ở đây, tại phố Beckman này. Ở một nơi khác. Nhưng chỉ có một mình Hubble. "Chuyện gì đó không ổn", Charlie rền rĩ. "Chuyện nhà tù. Chuyện gì đó không ổn ở ngân hàng. Chắc chắn là chuyện đó. Hub đã căng thẳng lắm. Giờ thì anh ấy biến mất. Anh ấy đã mất tích. Chuyện gì đó đã xảy ra, tôi biết là thế". Cô nhắm chặt hai mắt. Bắt đầu la hét. Charlie đang mất bình tĩnh. Càng lúc càng hoảng loạn. Tôi không biết phải làm thế nào với cô. "Hôm qua khuya lắm rồi anh ấy mới về nhà", Charlie la lên. "Sáng nay anh ấy vẫn còn ở đây. Tôi đưa Ben và Lucy đi học. Giờ thì anh ấy đi rồi. Anh ấy không đi làm. Anh ấy nhận được một cuộc gọi từ văn phòng bảo anh ấy hãy ở nhà, rồi cặp anh ấy vẫn còn ở đây, các thẻ tín dụng vẫn trong đó, bằng lái xe ở đó, chùm chìa khóa vẫn trong bếp. Cửa trước thì mở toang. Anh ấy không đi làm. Chỉ biến mất thôi." Tôi đứng yên. Tê liệt. Hubble đã bị lôi ra khỏi nhà và bị giết. Charlie
sụp xuống ngay trước mặt tôi. Rồi cô bắt đầu thì thào với tôi. Tiếng thì thào còn tệ hơn cả tiếng la hét. "Xe của anh ấy vẫn ở đây," cô thì thào. "Không thể có chuyện anh ấy đã đi bộ tới đâu đó. Hub không bao giờ cuốc bộ đi đâu. Anh ấy luôn dùng chiếc Bentley của mình." Cô lơ đãng chỉ về phía đằng sau căn nhà. "Chiếc Bentley của Hub màu xanh lá cây," cô nói. "Nó vẫn nằm trong ga ra. Tôi đã kiểm tra. Ông phải giúp chúng tôi. Ông phải tìm anh ấy. Ông Reacher, xin hãy làm ơn. Tôi muốn ông giúp đỡ chúng tôi. Hub đang gặp rắc rối, tôi biết thế. Anh ấy đã mất tích. Anh ấy nói rằng có thể ông sẽ giúp. Ông đã cứu mạng anh ấy. Anh ấy nói rằng ông biết làm thế nào mà." Charlie đang hoảng loạn. Cô đang cầu xin. Nhưng tôi không thể giúp gì cho cô. Cô sẽ sớm biết điều đó thôi. Baker hoặc Finlay chẳng mấy nữa sẽ tới đây. Họ sẽ thông báo cho cô những tin tức kinh hoàng. Có lẽ Finlay sẽ xử lý việc này. Có lẽ ông ta rất giỏi việc đó. Có lẽ hồi ở Boston ông ta đã làm việc ấy cả ngàn lần. Đội trưởng thám tử có danh tiếng và năng lực. Ông sẽ báo tin, giải thích các chi tiết, đánh xe đưa Charlie tới nhà xác để nhận dạng thi thể. Người của nhà xác sẽ phủ lớp vải dày lên cái xác để che đi những vết thương khiến người ta phải hoảng sợ. "Ông sẽ giúp chúng tôi chứ ?" Charlie hỏi tôi. Tôi quyết định không chờ đợi cùng cô. Tôi quyết định đi tới đồn cảnh sát. Tìm thêm những chi tiết như ở đâu, khi nào, như thế nào. Nhưng tôi sẽ trở lại cùng Finlay. Đây là lỗi của tôi nên tôi sẽ trở lại. "Cô cứ ở đây", tôi bảo. "Cô sẽ phải cho tôi mượn xe cô đấy, được chứ ?" Charlie thọc tay vào túi lấy ra một chùm chìa khóa lớn. Đưa cho tôi. Chiếc chìa khóa xe hơi dập nổi chữ "B" to. Cô hờ hững gật đầu và ở yên chỗ của mình. Tôi bước tới chiếc Bentley, lách người vào ghế lái. Lùi xe và ngoặt vào con đường uốn lượn nối ra phố. Im lặng chạy theo phố Beckman. Rẽ trái vào Phố Chính, về phía đồn cảnh sát. *** Có những xe tuần tra và xe không in phù hiệu đậu ngổn ngang bên kia bãi đỗ của đồn. Tôi bỏ chiếc Bentley của Charlie lại mé đường rồi bước vào trong. Tất cả bọn họ đang tập trung quanh khu vực thoáng. Tôi trông thấy Baker, Stevenson, Finlay. Tôi nhìn thấy Roscoe. Tôi nhận ra nhóm hỗ trợ
hôm thứ Sáu. Morrison không có mặt ở đây. Cả viên thượng sĩ làm văn phòng cũng vậy. Quầy tiếp tân dài không có ai. Mọi người đều choáng váng. Tất thảy đều bần thần nhìn đăm đăm. Hoảng sợ. Mất tập trung. Chẳng ai nói chuyện với tôi. Họ nhìn qua vẻ chán chường. Hoàn toàn im lặng. Cuối cùng Roscoe bước tới. Cô đang khóc. Cô bước đến bên tôi. Ép mặt vào ngực tôi. Cô đang bùng lên. Roscoe quàng hai tay qua người tôi và giữ yên. "Thật kinh khủng", cô cất tiếng. Rồi không nói gì thêm. Tôi dìu Roscoe trở lại bàn cho cô ngồi xuống. Bóp nhẹ vai cô rồi bước về phía Finlay. Ông đang ngồi bên bàn, nhìn vô hồn. Tôi gật đầu ra hiệu cho ông đi về phía căn phòng lớn ở phía sau. Tôi cần biết, và Finlay là người có thể kể cho tôi. Ông theo tôi vào phòng. Ngồi xuống một chiếc ghế trước bàn. Nơi hôm thứ Sáu tôi đã ngồi với hai tay bị còng. Tôi ngồi vào sau bàn. Đã đổi vai. Tôi quan sát đội trưởng thám tử một lúc. Ông thực sự sốc. Tôi một lần nữa ớn lạnh khắp người. Chắc chắn Hubble đã bị biến thành một đống nhầy nhụa thì ông mới phản ứng như vậy. Ông là người từng công tác hai mươi năm ở một thành phố lớn. Chắc chắn viên thám tử này đã chứng kiến hết những gì có thể chứng kiến. Nhưng giờ thì ông thực sự sốc. Tôi ngồi đây lòng tràn ngập nỗi hổ thẹn. Tôi đã từng nói, chắc chắn rồi, Hubble, theo tôi thấy thì anh sẽ an toàn thôi. "'Vậy chuyện là thế nào ?" tôi lên tiếng. Finlay phải nỗ lực mới ngẩng đầu nhìn tôi được. "Tại sao ông lại quan tâm chứ ?" ông ta nói "Anh ta là gì đối với ông ?" Một câu hỏi hay. Câu hỏi tôi không thể trả lời. Finlay không biết những gì tôi biết về Hubble. Tôi sẽ không cho ông ta biết điều đó. Thế nên viên thám tử không hiểu tại sao Hubble lại quan trọng với tôi như thế. "Hãy chỉ nói cho tôi nghe những gì đã xảy ra", tôi bảo. "Tệ hại lắm," ông nói. Và không tiếp tục. Finlay đang khiến tôi lo lắng. Anh trai tôi đã bị bắn vào đầu. Hai vết thương lớn chỗ đạn chui ra làm nát mặt anh. Rồi kẻ nào đó đã biến thi thể anh thành một bao bột. Nhưng Finlay vẫn không suy sụp trước chuyện đó. Nạn nhân còn lại bị lũ chuột gặm xác. Trong người anh ta chẳng còn lại giọt máu nào. Nhưng Finlay cũng không suy sụp vì chuyện ấy. Hubble là người địa phương, khiến chuyện ấy tệ hơn chút, tôi có thể thấy thế. Tôi hiểu vì Hubble là người ở đây nên vụ việc có phần tồi tệ hơn. Nhưng hôm thứ Sáu, Finlay thậm chí chẳng biết Hubble là ai. Và bây giờ ông ta hành động như một bóng
ma. Thế nên phải có chuyện gì đó rất ghê gớm. Nghĩa là đang có chuyện gì đó rất nghiêm trọng diễn ra ở Margrave. Bởi chẳng ích gì khi thực hiện một phi vụ lớn trừ phi nó đáp ứng mục đích nào đó. Lời đe dọa lúc trước đã được thực hiện với chính kẻ bị đe dọa. Anh ta hiểu rõ về nó. Đó là mục tiêu của lời đe dọa. Nhưng thật sự thực hiện những gì đe dọa lại là một mục tiêu khác. Một mục đích khác. Việc thực hiện không chỉ nhằm vào kẻ bị đe dọa. Nó nhằm mục đích nhấn mạnh sự đe dọa vào kẻ tiếp theo có liên quan. Nó muốn nói: đã thấy bọn ta làm gì với tên kia chưa ? Việc đó bọn ta cũng có thể làm với ngươi. Như vậy bằng cách thực hiện một việc ghê gớm đối với Hubble, kẻ nào đó vừa tiết lộ rằng đang có một trò chơi đầy rủi ro, với những kẻ tiếp theo có liên quan, ngay ở thị trấn này. "Hãy nói cho tôi nghe những gì đã xảy ra," tôi nhắc lại lần nữa. Finlay khom người. Khum hai bàn tay trước miệng và mũi, buông tiếng thở dài não nuột. "Được rồi", ông nói. "Kinh khủng lắm. Một trong những cảnh tồi tệ nhất tôi từng thấy. Và tôi từng thấy vài cảnh như thế, để tôi kể cho mà nghe. Tôi từng thấy một số cảnh rất tệ hại, nhưng vụ này thì khác. Người này trần truồng. Bọn chúng đóng đinh anh ta vào tường. Sáu, bảy cái đinh đóng đồ mộc xuyên qua hai bàn tay kéo lên tới cánh tay. Qua những phần thịt mềm. Chúng đóng đinh ghim bàn chân anh ta xuống sàn. Rồi chúng cắt rời hai tinh hoàn, cắt rời ra ấy. Máu tung tóe khắp nơi. Kinh khủng thật, để tôi kể cho mà nghe. Rồi chúng rạch họng anh ta. Từ tai nọ sang tai kia. Bọn xấu xa, Reacher. Đây là bọn người xấu xa, xấu xa tới tột cùng", Tôi đờ người. Finlay đợi một lát. Tôi không thể nghĩ về điều gì. Tôi đang suy nghĩ về Charlie. Cô đã hỏi xem tôi có phát hiện ra điều gì không. Finlay nên tới đó. Ông nên tới đó ngay bây giờ mà thông báo cho cô. Đó là việc của đội trưởng thám tử, không phải của tôi. Tôi có thể hiểu vì sao ông do dự. Những thông tin khó truyền đạt. Những chi tiết khó giải thích. Nhưng đó là công việc của Finlay. Tôi sẽ đi cùng ông. Bởi đây là lỗi của tôi. Chẳng có ích gì khi chạy trốn điều đó. "Vâng", tôi nói với Finlay. "Nghe thật kinh khủng", Đội trưởng thám tử ngả đầu về phía sau ngó quanh. Thả thêm một tiếng thở dài lên trần. Một con người u sầu. "Đó không phải điều kinh khủng nhất," ông tiếp. "Nếu ông nhìn thấy việc chúng làm với vợ anh ta thì ông sẽ hiểu." "Vợ anh ta hả ?" tôi hỏi. "Ý ông là cái quái gì vậy ?"
"Ý tôi nói là vợ anh ta," Finlay đáp. "Cứ như ở hàng bán thịt vậy." Trong chốc lát tôi không thể nói được. Thế giới như đang giật lùi. "Nhưng tôi vừa mới gặp cô ấy," tôi nói. "Cách đây hai mươi phút. Cô ấy ổn. Chẳng gì xảy ra với cô ấy." "Ông gặp ai ?" "Charlie," tôi đáp. "Charlie là kẻ quái quỷ nào ?" "Charlie," tôi đáp trống không. "Charlie Hubble. Vợ anh ta. Cô ấy ổn. Bọn chúng không đến chỗ cô ấy." "Hubble liên quan gì đến chuyện này ?" Finlay nói. Tôi chỉ chằm chằm nhìn ông. "Vậy ông đang nói đến ai ?" tôi hỏi. "Ai bị giết ?" Finlay nhìn như thể tôi là kẻ điên vậy. "Tôi nghĩ là ông biết," ông ta nói. "Sếp Morrison. Đồn trưởng. Morrison. Cùng vợ anh ta."
12 Tôi cẩn thận quan sát Finlay, cố gắng quyết định xem mình nên tin ông ta ở mức nào. Đây sẽ là quyết định mang tính sống còn. Cuối cùng tôi cho là câu trả lời của ông đối với một câu hỏi đơn giản sẽ giúp tôi ra quyết định. "Bây giờ họ sẽ cho ông làm đồn trưởng chứ ?" tôi hỏi. Ông ta lắc đầu. "Không," viên thám tử nói. "Họ sẽ không đưa tôi lên làm đồn trưởng." "Ông chắc chắn về chuyện đó không ?" "Chắc chắn." "Quyết định của ai ?" "Của thị trưởng," Finlay đáp. "Thị trưởng thị trấn chỉ định người đứng đầu đồn cảnh sát. Ông ta đang tới đây. Một tay tên là Teale. Một gia đình lâu đời ở bang Georgia. Tổ tiên là một trùm đường sắt sở hữu mọi thứ trong tầm mắt ở khu vực này." "Đó là tay các ông dựng tượng hả ?" tôi hỏi. Finlay gật đầu. "Caspar Teale," ông nói. "Ông ấy là người đầu tiên. Từ đó tới nay người ta đều chọn lãnh đạo là người của dòng họ Teale. Viên thị trưởng này phải là chắt hay gì đó." Tôi đang ở giữa một bãi mìn. Tôi cần tìm đường quang chạy qua bãi này. "Chuyện về tay Teale này thế nào ?" tôi hỏi Finlay. Viên cảnh sát nhún vai, cố tìm cách giải thích. "Lão chỉ là một tay người miền Nam khốn kiếp", ông nói. "Một gia đình lâu đời ở Georgia, có lẽ một thế hệ lâu đời của những tay miền Nam khốn nạn. Họ đã nắm chức thị trưởng nơi này ngay từ đầu. Tôi dám nói rằng tay này tồi tệ không kém gì những kẻ còn lại." "Ông ta đau buồn không ?" tôi hỏi. "Khi ông gọi cho ông ta thông báo vụ Morrison ấy ?" "Lo lắng, tôi nghĩ thế," Finlay đáp. "Ông ta ghét tình trạng rối ren." "Tại sao ông ta không chỉ định ông làm đồn trưởng ? Ông là người có thâm niên, đúng không ?" "Ông ta nhất định không làm thế," Finlay nói. "Tại sao không lại là chuyện của tôi."
Tôi quan sát đội trưởng thám tử một lúc lâu. Sống còn. "Ta có thể đi đâu nói chuyện chút chứ ?" Đội trưởng thám tử nhìn tôi từ phía bên kia bàn. "Ông đã nghĩ rằng Hubble bị giết, phải không ?" Finlay hỏi. "Tại sao thế ?" "Hubble đã bị giết," tôi nói. "Việc Morrison cũng bị giết không làm thay đổi chuyện đó." Chúng tôi đi bộ tới cửa hàng tiện ích. Ngồi cạnh nhau ở quầy trống gần cửa sổ. Tôi ngồi đúng chỗ bà Kliner da tái nhợt đã ngồi hôm tôi có mặt ở đây. Chuyện đó dường như diễn ra lâu lắm rồi. Kể từ khi ấy thế giới đã thay đổi. Chúng tôi gọi hai cốc cà phê cao ngất ngưởng và một đĩa bánh rán to. Không nhìn thẳng vào nhau. Chúng tôi nhìn nhau qua tấm gương lớn phía sau quầy. "Tại sao ông sẽ không được thăng chức ?" tôi hỏi. Hình phản chiếu của Finlay trong gương nhún vai. Ông trông bối rối. Ông không thể hiểu được mối liên hệ bí ẩn kia. Nhưng đội trưởng thám tử sẽ sớm biết được điều đó. "Lẽ ra tôi phải được thăng chức," ông nói. "Tôi đủ tiêu chuẩn hơn tất cả những người còn lại gộp vào. Tôi đã công tác hai mươi năm ở một thành phố lớn. Một cơ quan cảnh sát thực sự. Còn họ đã làm đếch gì chứ ? Cứ thử nhìn Baker xem. Anh ta tự cho mình là một tay khôn ngoan. Nhưng anh ta đã làm gì nào ? Mười lăm năm ở vùng khỉ ho cò gáy à ? Ở vùng hẻo lánh này hả ? Anh ta thì biết chó gì ?" "Vậy tại sao ông lại không được lên chức ?" "Đó là vấn đề riêng tư," Finlay nói. "Ông nghĩ tôi sẽ bán tin ấy cho báo chí à ?" "Một câu chuyện dài đấy." "Vậy hãy kể cho tôi", tôi nói 'Tôi cần biết" Finlay nhìn tôi trong gương. Hít một hơi sâu. "Tôi kết thúc công việc ở Boston hồi tháng Ba", ông nói. 'Tính đến khi ấy là làm việc được hai mươi năm. Hồ sơ không chút tì vết. Tám lần được khen thưởng. Tôi là một tay thám tử oách đấy, Reacher. Tôi có thể về hưu một cục. Nhưng khi ấy vợ tôi lại giở chứng ra. Từ mùa thu năm ngoái cô ấy không còn mặn mà với cuộc hôn nhân của chúng tôi nữa. Thật mỉa mai. Chúng tôi đã cưới nhau được cả hai chục năm. Tôi thì chuẩn bị nghỉ hưu. Sở cảnh sát Boston là cái nhà thương điên. Chúng tôi làm việc bảy ngày trong tuần. Cả ngày lẫn đêm. Xung quanh tôi, nhiều đồng nghiệp chứng kiến hôn
nhân của họ sụp đổ. Tất cả đều ly dị. Hết người này tới người khác." Finlay dừng lại làm một ngụm dài cà phê, cắn một miếng bánh rán. "Nhưng không phải tôi," ông nói. "Vợ tôi có thể chịu đựng được. Không bao giờ ca thán, không một lần nào. Cô ấy là phép màu. Không bao giờ gây khó dễ cho tôi." Đội trưởng thám tử lại rơi vào im lặng. Tôi nghĩ về hai mươi năm ở Boston. Làm việc chạy đua với thời gian trong thành phố cũ tấp nập ấy. Những đồn khu vực từ thế kỷ mười chín đầy bụi. Các cơ sở quá tải. Áp lực liên tục. Và một chuỗi không ngừng những kẻ quái dị, bất lương, các chính trị gia, các rắc rối. Finlay đã phải làm tốt mới có thể tồn tại. "Chuyện bắt đầu từ mùa thu năm ngoái," ông nhắc lại thời điểm. "Chúng tôi còn sáu tháng nữa là kết thúc. Mọi chuyện chuẩn bị kết thúc hoàn toàn. Có lẽ khi ấy chúng tôi đang nghĩ tới một căn buồng ở đâu đó. Những ngày nghỉ. Rất nhiều thời gian bên nhau. Nhưng cô ấy bắt đầu hoảng sợ. Cô ấy không muốn nhiều thời gian bên nhau. Cô ấy không muốn tôi nghỉ hưu. Cô ấy không muốn tôi ở nhà. Cô ấy bảo rằng hằng ngày cô ấy thức giấc với một thực tế là cô ấy không thích tôi. Không yêu tôi. Không muốn tôi ở bên. Cô ấy yêu hai mươi năm đó. Không muốn nó thay đổi. Tôi không thể tin nổi chuyện ấy. Đó đã là giấc mơ của tôi. Hai mươi năm, rồi nghỉ hưu ở tuổi bốn mươi lăm. Rồi có lẽ hai mươi năm nữa hưởng thụ cuộc sống bên nhau trước khi bọn tôi già, ông hiểu chứ ? Đó là giấc mơ của tôi và tôi đã làm việc suốt hai mươi năm để hướng về giấc mơ ấy. Nhưng cô ấy không muốn có nó. Cô ấy kết thúc bằng việc nói rằng ý nghĩ về hai mươi năm nữa cùng tôi trong một căn buồng trong rừng khiến cô ấy nổi da gà. Chuyện trở nên thực sự cay đắng. Chúng tôi chia tay. Tôi thực sự trở thành kẻ hứng chịu cú sốc thần kinh." Finlay lại nhỏ giọng dần. Chúng tôi lấy thêm cà phê. Đây quả là câu chuyện buồn. Chuyện về những giấc mơ tan vỡ luôn thế. "Thế nên chúng tôi ly dị thôi", viên thám tử nói. "Chẳng thể làm khác được. Cô ấy yêu cầu làm thế. Thật kinh khủng. Tôi hoàn toàn suy sụp. Rồi trong tháng cuối cùng làm việc ở sở, tôi bắt đầu đọc lại danh sách của công đoàn liệt kê các vị trí còn trống. Thấy công việc ở đây. Tôi gọi cho một anh bạn cũ ở FBI Atlanta và hỏi anh ta về công việc đó. Anh ấy ngăn tôi. Bảo là quên nó đi. Anh ấy bảo rằng đây chỉ là một đồn cảnh sát làm trò chơi của một thị trấn thậm chí chẳng có trên bản đồ. Vị trí được gọi là đội trưởng thám tử nhưng chỉ có một thám tử. Người trước đó giữ
vị trí này là một tay lập dị đã tự treo cổ. Đồn do một tên béo khốn kiếp điều hành. Thị trấn thì nằm dưới quyền một lão già Georgia chẳng thể nhớ rằng chế độ chiếm hữu nô lệ đã bị xóa sổ. Anh bạn tôi ở Atlanta bảo hãy quên nó đi. Nhưng khi ấy tôi chán đời đến mức muốn nhận công việc đó. Tôi nghĩ tôi có thể chôn vùi mình ở dưới này, coi đó là một hình phạt ông hiểu không ? Một kiểu sám hối. Mà tôi cũng cần tiền nữa. Họ chào mời lương rất cao, tôi thì phải xem xét tiền chu cấp cho vợ và các hóa đơn của luật sư, ông biết chứ ? Thế nên tôi nộp đơn và xuống đây. Chính thị trưởng Teale và Morrison gặp tôi. Tôi là một tên bị sốc tinh thần, Reacher. Tôi là kẻ tàn phế. Tôi nói lắp ba lắp bắp. Đó hẳn phải là trường hợp xin việc tệ hại nhất trong lịch sử thế giới. Hẳn là tôi đã xuất hiện như một tên đần độn. Nhưng bọn họ đã giao cho tôi vị trí ấy. Tôi đoán là họ cần một tên da đen để tỏ vẻ tử tế. Tôi là cảnh sát da đen đầu tiên trong lịch sử Margrave." Tôi xoay chiếc ghế và nhìn thẳng vào Finlay. "Vậy ông cho rằng mình chỉ là bù nhìn thôi sao ?" tôi nói. "Đó là lý do Teale sẽ không đưa ông lên làm đồn trưởng à ?" "Tôi đoán rõ ràng là thế. Ông ta đã ghi nhận tôi là một tên bù nhìn và một thằng đần độn. Không thăng chức. Dễ hiểu theo cách nào đó. Dù là bù nhìn hay không thì cũng không thể tin được là họ giao ngay công việc ấy cho tôi". Tôi vẫy tay gọi anh chàng trông quầy tính tiền. Tôi vui với câu chuyện của Finlay. Ông sẽ không làm đồn trưởng. Thế nên tôi tin tưởng ông. Và tôi tin Roscoe. Sẽ là ba chúng tôi, chống lại bọn xấu, dù đó là kẻ nào. Tôi lắc đầu với Finlay trong gương. "Ông lầm rồi", tôi nói. "Đó không phải lý do thực sự. Ông sẽ không làm đồn trưởng bởi ông không phải một tên tội phạm." *** Tôi trả một tờ mười đô và lấy tiền trả lại toàn là đồng 25 xu. Anh chàng bán hàng vẫn không có tờ tiền giấy nào. Rồi tôi nói với Finlay rằng muốn xem nơi ở của Morrison. Bảo ông rằng tôi cần toàn bộ chi tiết. Đội trưởng thám tử chỉ gật đầu dẫn tôi ra ngoài. Chúng tôi rẽ về phía Nam. Qua bãi cỏ, bỏ lại thị trấn phía sau lưng. 'Tôi là người đầu tiên có mặt ở đó," Finlay nói. "Chừng mười giờ sáng nay. Tôi đã không gặp Morrison từ hôm thứ Sáu, tôi cần cập nhật thông tin cho anh ta nhưng không thể liên hệ qua điện thoại. Lúc ấy đã là nửa buổi
sáng thứ Hai mà chúng tôi chưa làm được gì ra hồn về vụ án mạng khiến hai người chết kể từ đêm thứ Năm. Chúng tôi cần khởi động công việc. Thế nên tôi tới nhà Morrison tìm anh ta." Viên thám tử im lặng bước tiếp. Đầu hồi tưởng lại hiện trường ông đã thấy. "Cửa trước vẫn để mở," ông nói. "Có lẽ chừng một phân. Có cảm giác không ổn. Tôi bước vào, trông thấy họ trên gác, trong phòng ngủ lớn. Cứ như là cửa hàng bán thịt ấy. Máu tung tóe khắp nơi. Anh ta bị đóng đinh vào tường, kiểu như treo lên. Cả anh ta và vợ đều bị xẻo thịt. Thật kinh khủng. Phân hủy khoảng hai mươi tư giờ rồi. Thời tiết ấm. Rất ghê. Thế nên tôi gọi toàn bộ lực lượng, chúng tôi cùng rà từng ly một và nhặt hết các mảnh lại. Nói thực là tôi sợ." Finlay lại nói nhỏ dần. Chỉ im lặng. "Vậy là chuyện đó xảy ra vào sáng Chủ nhật à ?" tôi hỏi. Finlay gật đầu. "Báo ngày Chủ nhật còn trên bàn trong bếp," ông nói. "Vài tờ đã mở,