1 Kẻ Thù

chương công dân nào đâu.

chương công dân nào đâu.

chương công dân nào đâu. Tôi nghĩ về hai người đó một lúc lâu. Carbone, và tay hộ pháp tại bãi xe. Rồi tôi nghĩ đến bản thân mình. Một thiếu tá, một ngôi sao, một điều tra viên xuất sắc thuộc đội đặc nhiệm, một tay đáng tin cậy đang trên đường tới đỉnh cao. “OK”, tôi bảo. “Gọi trung tá vào đi”. Tay đại úy đứng dậy và mở cửa. Anh ta giữ nó cho viên trung tá bước vào. Rồi đóng lại. Ngồi cạnh tôi. Viên trung tá rục rịch băng qua chúng tôi rồi ngồi xuống bàn làm việc. “Rồi”, anh ta nói. “Ta quyết nhanh cho xong việc đi. Đơn tố cáo kia là không có cơ sở, đúng không?” Tôi nhìn anh ta. Không nói gì. “Sao nào?” Con sẽ làm điều đúng đắn. “Đơn tố cáo kia là đúng”, tôi đáp. Anh ta nhìn tôi chằm chằm. “Đơn tố cáo kia chính xác”, tôi bảo. “Chính xác đến từng chi tiết. Mọi việc xảy ra hệt như Carbone đã mô tả”. “Chúa ơi”, viên trung tá kêu lên. “Anh điên à?” tay đại úy hỏi. “Chắc vậy”, tôi đáp. “Nhưng Carbone không phải một kẻ nói dối. Đó không nên là điều cuối cùng được ghi trong hồ sơ của anh ta. Anh ta không đáng bị

như thế. Dù sao anh ta cũng đã phục vụ quân đội suốt mười sáu năm trời”. Căn phòng trở nên im lặng. Chúng tôi ngồi yên đó. Họ sắp đối mặt với một đống báo cáo phải viết. Tôi sắp đối mặt với việc bị đánh xuống làm đại úy Quân cảnh trở lại. Không còn thuộc đội đặc nhiệm nữa. Nhưng điều này đâu đáng ngạc nhiên. Tôi đã lường trước được nó rồi. Tôi đã lường trước việc này từ khi tôi nhắm mắt lại trên máy bay còn những quân cờ domino bắt đầu đổ xuống, tung tóe, quân này nối tiếp quân kia. “Tôi có một yêu cầu”, tôi bảo. “Tôi muốn có hai ngày đình chỉ công tác. Bắt đầu từ hôm nay”. “Vì sao?” “Tôi phải đi dự đám tang. Tôi không muốn phải năn nỉ sĩ quan chỉ huy của mình cho nghỉ phép”. Viên trung tá quay đi. “Được thôi”, anh ta đáp. * * * Tôi trở về phòng thu dọn mọi thứ đồ đạc tôi có bỏ vào túi. Tôi đến chỗ sĩ quan quân nhu ký séc rút tiền mặt và bỏ năm mươi hai đô la vào phong bì cho cô trung sĩ của mình. Tôi gửi năm mươi đô la trả cho Franz. Tôi tạt qua phòng viên giám nghiệm lấy thanh xà beng mà Marshall đã sử dụng, rồi đặt nó chung với thanh xà beng mình đã mượn từ tiệm dụng cụ kia. Rồi tôi đến bãi xe Quân cảnh tìm mượn một chiếc xe. Tôi ngạc nhiên khi thấy chiếc xe Kramer đã thuê vẫn còn ở đó. “Không ai bảo chúng tôi xử lý nó thế nào cả”, viên thư ký nói. “Sao lại không?” “Cái đấy phải sếp giải thích chứ. Đây là vụ của sếp mà”. Tôi cần tìm một chiếc nào đó kín đáo, mà chiếc Ford đỏ tí hon này lại quá nổi

bật giữa loạt xe màu nâu ô liu và đen. Nhưng tôi nghĩ đối với thế giới ngoài kia lại khác. Ở ngoài đó, thì chiếc Ford đỏ tí hon này sẽ chẳng gây nên sự chú ý nào. “Để tôi đem đi trả”, tôi bảo. “Đằng nào tôi cũng đến sân bay Dulles mà”. Và tôi không phải làm giấy tờ gì lôi thôi, bởi vì nó đâu phải xe quân đội. * * * Tôi rời trại Bird vào mười giờ hai mươi phút sáng và lái về hướng Bắc tới Green Valley. Tôi đi chậm hơn trước nhiều, vì chiếc Ford này chậm, và tôi cũng quen lái chậm, ít ra là so với tốc độ của Summer. Tôi không dừng lại ăn trưa. Tôi cứ thế đi mãi. Tôi tới sở cảnh sát vào ba giờ mười lăm chiều. Tôi gặp thanh tra Clark khi anh ta đang ngồi ở bàn làm việc. Tôi bảo anh ta cuộc điều tra đã kết thúc. Rằng Summer sẽ báo chi tiết sau. Tôi lấy thanh xà beng mà anh ta đã mượn rồi lái đoạn đường mười dặm tới Sperryville. Tôi len qua con hẻm nhỏ hẹp rồi đậu trước tiệm dụng cụ kia. Cửa sổ nơi ấy đã được thay mới. Miếng ván gỗ vuông đã được dẹp đi. Tôi kẹp cả ba thanh xà beng trong tay, bước vào trong rồi trả lại cho ông già đứng sau quầy. Rồi tôi trở lại xe và đi theo con đường duy nhất dẫn ra khỏi thị trấn, thẳng tới Thủ đô Washington. * * * Tôi rẽ theo lối ngược chiều kim đồng hồ trên cao tốc Beltway, đến tìm khu xập xệ nhất thành phố. Có khá nhiều lựa chọn. Tôi chọn một khu bốn khối nhà chủ yếu là các nhà kho cũ kỹ với những con hẻm nhỏ cắt ở giữa. Thăm dò tới con hẻm thứ ba thì tôi thấy cái mình đang kiếm. Tôi thấy một ả bán hoa hốc hác bước ra từ một ô cửa lát gạch. Tôi bước ngang qua ả và thấy một tay đội mũ. Hắn có thứ tôi cần. Phải mất vài phút để hai bên làm quen. Nhưng cuối cùng thì tiền mặt cũng giúp hòa giải những khác biệt giữa chúng tôi, cũng như ở bao nơi khác trên thế giới. Tôi mua một ít cần sa, một ít ma túy đá, và hai túi nhỏ cocain. Tay đội mũ nhìn số lượng và thất vọng ra mặt. Chắc hắn nghĩ tôi là bọn tay mơ. * * *

Rồi tôi lái tới Rock Creek, bang Virginia. Tôi đến nơi trước năm giờ chiều. Tôi đậu xe cách trụ sở chính Đội Đặc nhiệm 110 chừng ba trăm yard, trên một dốc cao, để tiện nhìn qua hàng rào vào bãi xe. Tôi nhận ra xe của lão Willard dễ dàng. Lão khoe với tôi rồi mà. Một chiếc Pontiac GTO cổ điển. Nó nằm ngay đó, gần cửa ra phía sau. Tôi sụp người thấp xuống ghế, giương mắt lên và quan sát. * * * Lão bước ra vào lúc năm giờ mười lăm. Hết giờ hành chính. Lão khởi động chiếc Pontiac rồi lùi dần ra khỏi tòa nhà. Tôi đã hé cửa sổ cho thoáng, và dù đậu cách xa tới ba trăm yard, tôi vẫn còn nghe tiếng ống xả. Tiếng động cơ V-8 khá trơn tru. Tôi đoán Summer sẽ thích tiếng ấy lắm. Tôi tự nhủ trong đầu rằng nếu may mắn trúng số, tôi sẽ mua tặng cô một chiếc GTO. Tôi khởi động chiếc Ford. Lão Willard lao ra khỏi bãi xe và quay về phía tôi. Tôi sụp người xuống đợi lão đi qua. Tôi đếm thầm một giây, hai giây rồi vòng lại đuổi theo lão. Lão rất dễ bám theo. Tôi chỉ cần hạ cửa sổ lắng nghe tiếng xe là được. Lão đi khá chậm, bóng xe lồ lộ phía trước, gần giữa đường. Tôi lùi ra xa và đợi dòng xe đi làm về che kín tầm nhìn gương chiếu hậu của lão. Lão về hướng Đông, tới khu dân cư ở Thủ đô. Tôi đoán lão phải thuê nhà ở Arlington hay Maclean gì đó từ những ngày còn ở Lầu Năm Góc. Tôi mong đó không phải một căn hộ chung cư. Tôi đoán có khả năng là một căn nhà riêng hơn. Với gara to để chứa chiếc xe cơ bắp kia. Vậy thì tốt, bởi vì nhà riêng sẽ dễ dàng hơn nhiều. * * * Là một căn nhà. Nó nằm trên khu phố ngoại ô về phía Bắc Arlington. Nhiều cây cối, đa số đều trơ trọi, một vài cây thường xanh. Các lô nhà trông thật kỳ quái. Lối vào nhà thì dài và ngoằn ngoèo. Cây cối thì trồng cẩu thả. Đường này đáng lẽ phải gắn bảng ghi: Chỉ dành cho nam công chức lượng trung bình đã ly dị hoặc còn độc thân mới đúng. Nơi này là kiểu như vậy. Dù không lý tưởng, nhưng vẫn hơn một khu dân cư nhà sát sạt nhau, với sân trước đầy trẻ con nghịch ngợm và các bà nội trợ sốt ruột. Tôi đi theo và dừng lại cách chừng một dặm. Tôi ngồi yên đợi trời tối hẳn.

* * * Tôi đợi đến bảy giờ rồi đi bộ tới. Mây bay thấp và mù sương. Trời không sao. Không trăng. Tôi đang mặc bộ dã chiến ngụy trang rừng cây. Tôi là người vô hình, trong chừng mực thiết kế của Lầu Năm Góc. Tôi đoán tầm bảy giờ nơi này vẫn sẽ vắng người lắm. Tôi đoán nhiều công chức lương trung bình có tham vọng trở thành công chức lượng cao, nên ắt vẫn đang ngồi gí lại văn phòng, Cố gây ấn tượng với bất cứ ai cần gây ấn tượng. Tôi đi theo con đường chạy song song với con đường nằm sau nhà lão Willard, và tìm thấy hai khoảnh sân bừa bộn nằm cạnh nhau. Chẳng nhà nào sáng đèn. Tôi đi theo lối vào nhà của căn đầu tiên, rồi tiếp tục vòng qua căn nhà tối mò, thẳng ra sân sau. Tôi đứng yên. Không có tiếng chó sủa. Tôi quay đầu, và lần theo hàng rào đến khi thấy được sân sau của nhà lão Willard. Nơi ấy mọc đầy những bụi cỏ úa. Bên ngoài còn một bếp nướng thịt đã cũ gỉ bị bỏ lại giữa sân. Trong ngôn ngữ quân đội, nơi này chẳng gọn gàng ngăn nắp gì. Nó luộm thuộm vô cùng. Tôi bẻ một hàng rào đến khi mình đủ chỗ luồn qua được. Tôi bước thẳng tới sân nhà lão Willard, vòng qua gara đến cửa chính. Hiên nhà lão không có đèn. Từ ngoài đường nhìn vào nửa khuất, nửa rõ. Không hoàn hảo lắm. Nhưng cũng không đến nỗi. Tôi tựa cùi chỏ lên chuông cửa. Nghe thấy tiếng chuông vang lên bên trong. Một phút yên lặng, rồi tôi chợt nghe tiếng chân. Tôi lùi lại. Lão Willard mở cửa. Không ngập ngừng chút nào. Chắc lão đang đợi người ta giao đồ Tàu tới. Hoặc bánh pizza gì đó. Tôi thụi một đấm vào ngực lão, để đẩy lão vào trong. Tôi bước vào rồi lấy chân gạt cửa đóng lại. Căn nhà ảm đạm kinh khủng. Không khí bên trong có mùi ẩm mốc. Lão Willard níu lấy thành cầu thang, thở hổn hển lấy hơi. Tôi đấm vào mặt lão, đẩy lão ngã vật ra sàn. Lão lồm cồm bò dậy, và tôi tung chân đá mạnh vào mông lão, và cứ thế đá liên tiếp cho đến khi lão bắt đầu hiểu ra và bò thật nhanh đến nhà bếp. Lão tới nơi rồi vật qua một bên, ngồi dậy trên sàn, tựa lưng vào tủ bếp. Mặt vừa hoảng loạn, hiển nhiên rồi, vừa vô cùng bối rối. Như không tin nổi tôi dám làm việc này. Như đang nghĩ: Mọi chuyện là vì mỗi cái đơn tố cáo kia sao? Cái đầu tính toán của lão không tài nào hiểu được.

“Ông có nghe về Vassell và Coomer chứ?” tôi hỏi lão. Lão gật đầu lia lịa, nhanh và đầy sợ hãi. “Còn nhớ trung úy Summer không?” tôi hỏi lão. Lão gật tiếp. “Cô ấy chỉ ra cho tôi một điều”, tôi bảo. “Cũng khá hiển nhiên thôi, cô ấy bảo rằng bọn họ đã có thể thoát tội nếu tôi không phớt lờ ông”. Lão chỉ nhìn tôi chằm chằm. “Tự dưng tôi nghĩ”, tôi tiếp. “Chính xác thì tôi phớt lờ ông việc gì nhỉ?” Lão không nói gì. “Tôi đã đánh giá sai ông”, tôi bảo. “Tôi xin lỗi. Vì tôi tưởng mình đang phớt lờ một thằng khốn nhiều chuyện và hám danh lợi. Tôi tưởng mình đang phớt lờ một tay quản lý văn phòng đần độn khó tính, hay bồn chồn, tưởng mình hơn người nào đó. Nhưng không phải. Tôi đang phớt lờ một điều hoàn toàn khác”. Lão ngẩng lên nhìn tôi. “Ông đâu có thấy hổ thẹn vì Kramer”, tôi bảo. “Ông đâu thấy lo khi tôi quấy rối Vassell và Coomer. Ông đâu có vì thể diện lục quân mà yêu cầu tôi báo cáo Carbone đã chết do tai nạn. Ông chỉ làm việc ông được đưa vào để làm mà thôi. Có ai đó muốn lấp liếm ba vụ cố sát, nên đưa ông vào để ông xử lý. Ông là đồng phạm trong kế hoạch ém nhẹm sự việc này, Willard. Đó là việc ông đã làm. Đó là điều mà tôi đã phớt lờ. Ý tôi là, không phải vậy thì còn quái gì nữa, ông ra lệnh cấm tôi điều tra án mạng? Đây là một vụ lấp liếm, được lên kế hoạch, được tổ chức, và được quyết định từ trước đó rất kỹ. Nó đã được quyết định vào mồng hai tháng Giêng, khi Garber bị thuyên chuyển, và ông tiếp quản vị trí này. Ông được đặt vào đây, để kế hoạch của họ trong mùng bốn được diễn ra suôn sẻ. Chẳng còn lý do nào khác cả”. Lão không nói gì.

“Tôi nghĩ họ muốn đặt một tay vô dụng ở đó, để mọi chuyện diễn ra tự nhiên. Nhưng họ còn cao tay hơn. Họ đặt một người bạn của mình vào đó”. Lão không nói gì. “Lẽ ra ông phải từ chối”, tôi bảo. “Nếu ông từ chối, thì họ đã chẳng dám tiếp tục kế hoạch, và cả Carbone lẫn Brubaker vẫn sẽ còn sống”. Lão không nói gì. “Ông cũng đã giết hai người đó, Willard ạ. Chẳng khác gì bọn bạn ông đâu”. Tôi ngồi xổm xuống cạnh lão. Lão quờ quạng trên sàn rồi ép sát lưng vào tủ bếp phía sau. Vẻ bại trận trong mắt lão. Nhưng lão vẫn cố chống cự lần chót. “Cậu đâu chứng minh được điều gì”, lão nói. Đến lượt tôi im lặng. “Lỡ như tôi thực sự vô dụng thì sao”, lão nói. “Cậu nghĩ đến điều đó chưa? Cậu lấy gì để chứng minh giả thuyết đấy chứ?” Tôi không nói gì. Mắt lão trợn lên. “Cậu đừng tưởng mình đang đối mặt với bọn khờ nào đấy”, lão tiếp. “Chẳng có chứng cứ nào cả”. Tôi rút khẩu Beretta của Franz ra khỏi túi. Khẩu súng mà tôi đã lấy lại từ sa mạc Mojave. Tôi đâu có làm mất nó. Tôi đem theo nó suốt từ California. Đó là vì sao tôi phải ký gửi hành lý, duy nhất chỉ chuyến bay ấy. Họ đâu cho anh cầm theo súng lên máy bay. Bằng không thì phải thủ tục lằng nhằng. “Khẩu súng này đã được liệt vào danh sách bị phá hỏng”. tôi nói. “Trên văn bản chính thức thì nó không hề tồn tại”. Lão nhìn nó chằm chằm. “Đừng có dại”, lão nói. “Cậu đâu chứng minh được gì”.

“Người ông đang đối mặt cũng không phải dạng khờ đâu”, tôi bảo. “Cậu không hiểu”, lão nói. “Đó là lệnh. Cấp trên giao xuống. Ta đang ở trong quân đội. Ta phải biết tuân theo lệnh”. Tôi lắc đầu. “Chẳng quân nhân nào tin cái lý lẽ đó cả”. “Đó là lệnh được giao”, lão lặp lại. “Từ ai?” Lão chỉ nhắm mắt và lắc đầu. “Chẳng sao”, tôi nói. “Tôi thừa biết từ ai. Và tôi biết tôi sẽ chẳng thể đụng đến hắn. Ở địa vị của hắn, thì không. Nhưng tôi có thể đụng đến ông. Ông sẽ giúp tôi chuyển thông điệp”. Lão mở mắt. “Cậu không dám đâu, lão nói. “Tại sao ông không từ chối?” “Làm sao từ chối được. Đã đến lúc phải chọn phe. Cậu vẫn chưa hiểu sao? Đã đến lúc tất cả chúng ta phải làm điều đó”. Tôi gật đầu. “Có lẽ vậy”. “Hãy suy nghĩ thấu đáo”, lão nói. “Xin cậu đấy”. “Tôi tưởng ông là quả táo thối duy nhất”, tôi bảo. “Nhưng hóa ra cả rổ đầy táo thối. Những trái táo còn ngon mới là hiếm thấy”. Lão nhìn tôi chằm chằm. “Ông đã phá hỏng nó”, tôi nói. “Ông và đám bạn thối nát của ông”. “Phá hỏng cái gì cơ?” “Tất cả”.

Tôi đứng dậy. Lùi lại. Gạt khóa an toàn của khẩu Beretta sang Bắn. Lão nhìn tôi trân trân. “Tạm biệt, đại tá Willard”, tôi nói. Tôi đặt súng lên thái dương mình. Lão trân trối nhìn tôi. “Đùa chút thôi”, tôi bảo. Rồi tôi bắn một viên xuyên qua trán lão. * * * Đó là một viên đạn chín li xuyên giáp tiêu chuẩn. Nó bắn ót lão văng lên tủ bếp đằng sau, dính vào một đống ly tách vỡ nát. Tôin

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 91

Đang tải bình luận...
chương công dân nào đâu. - 1 Kẻ Thù | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip