phần mười con đường tới chiếc xe tăng Sheridan kia. Khung cảnh xung quanh tôi hoàn toàn hoang vu. Chiếc Humvee này trông thật bé nhỏ tại đây. Vẫn là tháng Giêng nên ít sương nhiệt, nhưng nhiệt độ vẫn rất cao. Tôi áp dụng phương pháp nằm ngoài sách hướng dẫn lái Humvee gọi là thao tác điều hòa 2-40, nghĩa là anh mở hết cả hai cửa sổ xe và lái với vận tốc bốn mươi dặm trên giờ. Nhờ đó mà đón được chút gió dễ chịu. Bình thường lái Humvee với vận tốc bốn mươi dặm trên giờ thì khá là nhanh vì động cơ của nó mạnh. Nhưng giữa nơi đồng không mông quạnh này thì lại thấy chẳng nhanh gì. Cả tiếng sau tôi vẫn đi vận tốc ấy, mà vẫn chưa tìm được đài quan sát kia. Khung cảnh này cứ mở rộng tới vô cùng. Trại Irwin là một trong những căn cứ quân sự lớn nhất thế giới. Chắc chắn là vậy. Có thể phe Xô Viết sở hữu nơi nào đó còn to hơn nữa, nhưng nếu đúng vậy thì tôi sẽ ngạc nhiên lắm. Biết đâu lão Willard đã có thể kể tôi nghe. Tôi mỉm cười và tiếp tục đi. Tôi vượt qua một ngọn đồi, và một miền đồng bằng hoang vu hiện ra trước mắt. Ở phía chân trời xuất hiện một đốm nhỏ, có vẻ là của chính đài quan sát kia. Một nhúm khói bụi ở chừng năm dặm về hướng Tây có vẻ là của xe tăng đang di chuyển. Tôi vẫn bám theo con đường mòn. Giữ vận tốc bốn mươi. Cát bụi theo sau xe tôi như một cái đuôi. Luồng gió thổi vào cửa Sổ nóng vô cùng. Miền đồng bằng này có vẻ rộng tới ba dặm bề ngang. Đốm nhỏ nơi chân trời kia hóa thành một vệt mờ, rồi càng lúc càng lớn lên khi tôi tới gần nó hơn. Sau một
dặm, tôi nhìn thấy ba hình dáng riêng biệt. Chiếc xe tăng cũ nằm bên trái, đài quan sát kia nằm bên phải, còn chiếc Humvee của Marshall nằm ngay giữa. Nó đậu ở phía Tây tòa nhà, tránh ánh nắng buổi sáng. Trông nó như loại bắnrồi-phắn mà tôi đã thấy ở trụ sở Quân đoàn XII tại Đức. Tòa nhà là một khối xi măng đơn giản. Có những lỗ lớn làm cửa sổ. Không lắp kính. Chiếc xe tăng là loại M551 cũ, một chiến xa bọc giáp nhôm hạng nhẹ, được sản xuất với mục đích làm phương tiện trinh sát. Nó nặng bằng một phần tư chiếc Abrams và chính xác là thứ mà những người như trung tá Simon đã tin là sự đổi mới của tương lai. Nó đã từng phục vụ trong vài sư đoàn dù phe ta. Nó không tệ. Nhưng chiếc trước mắt tôi trông tha hóa lắm. Nó được ốp thêm lớp ván gỗ thiết kế phỏng theo loại xe tăng đời trước của phe Xô Viết. Sẽ chẳng hiệu quả gì khi bắt lính ta tập bắn phá một thứ mà đồng đội mình vẫn đang sử dụng. Tôi bám theo đường mòn, và dần giảm tốc khi cách đài quan sát kia về hướng Nam chừng ba chục yard. Tôi mở cửa và trườn ra không khí nóng bên ngoài. Tôi đoán nhiệt độ ngoài trời chỉ tầm hai mốt độ, nhưng so với Bắc Carolina, Frankfurt, và Paris, thì nơi đây chẳng khác nào Ả Rập Xê Út vậy. Tôi thấy Marshall quan sát tôi từ một lỗ trong tòa nhà xi măng kia. Tôi mới chỉ thấy hắn một lần, mà cũng không phải gặp trực tiếp. Hắn ngồi trong chiếc Grand Marquis hôm mồng một, bên ngoài trụ sở chỉ huy trại Bird, trong bóng tối, đằng sau lớp kính che màu xanh lá. Tôi từng chắc mẩm hắn là một tay cao to, ngăm đen, và hồ sơ của hắn cũng xác nhận vậy. Giờ trông hắn y hệt thế. Cao lớn, vạm vỡ, da màu ô liu. Mái tóc dày màu đen được cắt ngắn. Hắn mặc đồ dã chiến ngụy trang sa mạc, và đang ló đầu xuống nhìn ra từ một cái hốc trong khối xi măng kia. Tôi đứng cạnh chiếc Humvee của mình. Hắn lặng lẽ quan sát tôi. “Marshall?” tôi gọi. Hắn không đáp. “Anh đang ở một mình chứ?”
Không tiếng trả lời. “Sĩ quan Quân cảnh đây”, tôi gọi, lớn giọng hơn. “Yêu cầu tất cả rời khỏi tòa nhà ngay lập tức”. Không ai lên tiếng đáp. Không ai ra khỏi tòa nhà. Tôi vẫn thấy Marshall từ cái hốc kia. Hắn vẫn thấy tôi. Tôi đoán hắn ở đó một mình. Nếu hắn có đồng đội trong ấy, người đó hẳn đã bước ra rồi. Đâu còn ai khác có lý do gì để sợ tôi chứ. “Marshall?” tôi gọi lại lần nữa. Hắn rúc đi mất. Như tan vào bóng tối bên trong tòa nhà vậy. Tôi rút khẩu súng mượn ra khỏi túi. Đó là một khẩu Beretta M9 mới toanh. Tôi nghe một câu thần chú khi thao tập vũ khí vang lên trong đầu: Không bao giờ tin tưởng thứ vũ khí mà anh chưa tự bắn thử. Tôi lên một viên đạn vào nòng. Tiếng lách cách vang lớn giữa sa mạc hoang vắng. Tôi thấy cụm khói bốc lên từ phía Tây. Trông nó có vẻ to hơn, và gần tôi hơn trước một chút. Tôi gạt khóa an toàn của khẩu Beretta sang bắn. “Marshall?” tôi gọi. Hắn không đáp. Nhưng tôi nghe một giọng trầm văng vẳng đâu đó, rồi tiếng nhiễu vô tuyến ngắn ngủi của sóng radio. Bên trên đài quan sát không hề có gắn ăng ten. Hắn chắc đã đem theo một đài radio di động. “Anh định gọi ai vậy, Marshall?” tôi nói thầm với bản thân. “Kỵ binh tiếp viên hả?” Rồi tôi giật mình: Kỵ binh. Một trung đoàn kỵ binh Thiết giáp. Tôi quay qua nhìn về hướng Tây nơi cụm khói bốc lên. Chợt nhận ra tình huống của mình. Tôi đang ở giữa nơi hoang vắng một mình, cùng một tay sát nhân đã xác định. Hắn trong đài quan sát, còn tôi đứng ngoài. Cộng sự của tôi là một cô gái nặng vỏn vẹn bốn mươi cân cách xa mình gần năm mươi dặm. Còn bạn hắn đang cười trên những chiếc chiến xa nặng bảy chục tấn ngay đường chân trời.
Tôi vội chạy khỏi con đường mòn. Vòng qua mặt Đông của đài quan sát. Lại thấy Marshall ở đó. Hắn nhảy từ hốc này sang hốc khác, và chỉ quan sát tôi. Chằm chằm nhìn tôi từ xa. “Bước ra khỏi đài quan sát ngay, Thiếu tá”, tôi gọi. Một thoáng im lặng. Rồi tiếng hắn vọng ra. “Tôi không làm thế đâu”, hắn nói. “Bước ra đây mau, Thiếu tá”, tôi gọi. “Anh biết vì sao tôi ở đây mà”. Hắn lại chui vào bóng tối. “Bây giờ anh đang kháng lệnh bắt giữ đó”, tôi gọi. Không tiếng đáp. Không tiếng động nào. Tôi tiếp tục di chuyển. Vòng quanh đài quan sát. Vòng tới mặt hướng Bắc. Mặt tường phía Bắc không có hốc cửa sổ nào. Chỉ có một cánh cửa sắt. Nó vẫn đang đóng. Tôi đoán nó không có khóa. Có gì trong đó để mà ăn cắp chứ? Tôi có thể bước tới mà mở tung cửa ra thôi. Hắn có vũ khí không? Có thể theo thủ tục thông thường thì hắn sẽ không trang bị vũ khí. Đi quan sát tập bắn thì có thể đụng độ kẻ thù hiểm ác nào chứ? Nhưng tôi đoán một kẻ thông minh trong tình huống của gã Marshall này sẽ chuẩn bị đủ các phương án phòng bị. Đất bị xới tung bên ngoài cánh cửa sắt, do người ta đánh xe ra khỏi đường chính và đỗ lại mà thành. Một tay kiến trúc sư sẽ gọi những chỗ đó là đường mòn tùy tiện. Không có con đường nào dẫn đến hướng Bắc tới tôi. Chúng chỉ dẫn tới đâu đó về hướng Tây hoặc Đông. Tránh ánh nắng, buổi sáng và buổi chiều. Nên tôi tiếp tục ở trên đất trống, và tiến tới cách cánh cửa sắt mười yard. Rồi tôi dừng lại. Một vị trí an toàn, trong tình hình trước mắt. Thà thế còn hơn là liều xông vào rồi bị mai phục. Tôi có thể đợi đó cả ngày. Chẳng vấn đề gì. Lúc ấy là tháng Giêng. Ánh nắng ban trưa sẽ chẳng hại được tôi. Tôi có thể đợi tới khi Marshall đầu hàng. Hoặc chết vì đói. Tôi vừa ăn một bữa gần đây hơn hẳn. Rõ ràng vậy. Mà nếu hắn định lao ra xả súng, tôi cũng có thể bắn hạ hắn trước. Vậy cũng chẳng phải vấn đề.
Nhưng vấn đề là các hốc tường trong khối xi măng này. Trên ba mặt tường còn lại ấy. Chúng to bằng cửa sổ thông thường. Đủ to để một người đàn ông có thể trèo ra. Kể cả một kẻ to lớn như Marshall đây. Hắn có thể trèo ra từ mặt tường hướng Tây chạy tới chiếc Humvee của mình. Hoặc qua hướng Nam, cướp lấy xe của tôi. Phương tiện quân sự không có chìa khóa. Chúng chỉ có một nút khởi động to đùng màu đỏ, để người ta tiện nhảy vào trong cơn hoảng loạn và phóng biến ra khỏi rắc rối. Mà tôi không thể trông chừng hướng Tây lẫn hướng Nam cùng lúc được. Từ một vị trí cho phép tôi ẩn thân, thì không. Tôi có cần ẩn thân không? Hắn có vũ khí không? Tôi có một cách để biết. Không bao giờ tin tưởng thứ vũ khí mà anh chưa tự bắn thử. Tôi nhắm vào giữa cánh cửa sắt và bóp cò. Khẩu Beretta hoạt động tốt. Cực kỳ ngon lành là khác. Nó khạc ra tia chớp cùng một tiếng nổ và giật lại, rồi một tiếng choang lớn vang lên, và viên đạn để lại một lỗ lõm nhỏ, rất rõ, trên mặt kim loại cách tôi mười yard. Tôi để tiếng vang lắng xuống. “Marshall?” tôi gọi. “Anh đang kháng lệnh bắt giữ đó. Nên tôi sẽ vòng qua và bắt đầu bắn lần lượt vào các ô cửa sổ. Hoặc đạn sẽ giết chết anh, hoặc sẽ văng tứ tung làm anh bị thương. Anh muốn tôi dừng lúc nào cũng được, chỉ việc bước ra ngoài đây với hai tay đặt lên đầu”. Tôi nghe tiếng nhiễu sóng radio lần nữa. Bên trong đài quan sát. Tôi di chuyển về hướng Tây. Cúi thấp người và đi thật nhanh. Nếu hắn có súng hắn sẽ bắn, nhưng sẽ trượt thôi. Nếu cho tôi quyền chọn ai đó bắn mình, thì tôi sẽ chọn ngay một tay cạo giấy chỉ biết tới kế hoạch và chiến lược. Nhưng nghĩ lại, hắn cũng đâu vô dụng lắm khi xử lý Carbone hay Brubaker. Nên tôi nới rộng khoảng cách một chút để có cơ hội trốn ra sau chiếc
Humvee của hắn. Hoặc chiếc xe tăng Sheridan cũ kia. Nửa chừng, tôi dừng lại và khai hỏa. Thật chẳng ra gì nếu chỉ biết hứa suông mà không dám làm. Nhưng tôi nhắm cao, vào mé trong mặt cạnh cửa sổ, như thế nếu viên đạn có trúng hắn thì trước đó cũng đã văng qua hai mặt tường và trần nhà rồi.