phần còn lại, chỉ mình mẹ biết. Vậy nên những phần đó không còn tồn tại nữa rồi. Từ bây giờ trở đi”. Chúng tôi hút thêm điếu thuốc nữa và ngồi trong yên lặng. Rồi chúng tôi đi bộ trở về, chậm rãi, bên cạnh nhau, thấy hơi kiệt sức, và một chút thanh thản. * * * Cỗ quan tài đã nằm trong chiếc corbillard khi chúng tôi trở về tòa nhà của mẹ. Hẳn họ đã phải dựng nó thẳng đứng trong thang máy. Cô lễ tân đang đứng ngoài vỉa hè, bên cạnh người đàn ông cao tuổi đeo huân
chương. Ông đang tựa vào gậy chống. Cô y tá cũng ở đó, nhưng đứng một mình. Nhóm hộ tang chắp tay trước người. Họ chỉ nhìn xuống đất. “Họ sẽ đưa bà đến dépôt mortuaire”, cô y tá nói. Nhà tang lễ. “OK”, Joe đáp. Tôi không nán lại. Tôi chào tạm biệt cô y tá, cô lễ tân rồi bắt tay với người đàn ông cao tuổi kia. Xong tôi gật đầu chào anh Joe, rồi bước đi tiếp. Tôi không ngoái lại. Tôi băng qua sông Seine trên cầu Pont de l'Alma, và đi dọc đường George V về khách sạn. Tôi leo lên thang máy tới phòng mình. Tôi vẫn kẹp trong tay chiếc hộp của người đàn ông kia. Tôi thảy nó lên giường rồi đứng lặng, hoàn toàn không biết mình phải làm gì tiếp theo. * * * Hai chục phút sau, tôi vẫn còn đang đứng đó thì điện thoại đổ chuông. Người gọi là Calvin Franz, từ trại Irwin ở California. Anh ta phải lặp lại tên mình tới hai lần. Lần đầu, tôi còn không nhận ra đó là ai nữa. “Tôi vừa nói chuyện với Marshall”, anh ta nói. “Ai cơ?” “Thằng cha ở Quân đoàn XII của cậu đó”. Tôi không nói gì. “Cậu ổn chứ?” “Xin lỗi”, tôi đáp. “Tôi ổn. Cậu vừa nói chuyện với Marshall”. “Hắn có tới đám tang của Kramer. Hắn lái xe chở Vassell và Coomer tới đó, cả đi và về. Rồi hắn quả quyết rằng suốt phần ngày còn lại hắn không chở họ nữa vì còn bận dự cuộc họp quan trọng nào đó ở Lầu Năm Góc cả buổi chiều”. “Nhưng sao?” “Tôi không tin hắn chứ sao. Hắn là một tay chạy việc mà. Nếu Vassell và Coomer muốn hắn làm tài xế, thì hắn phải chở họ đi, dù có phải họp hay không”. “Và gì nữa?” “Và biết cậu sẽ làm khó tôi nếu tôi không kiểm tra kỹ càng, nên tôi kiểm tra luôn rồi”. “Và sao?” “Chắc cuộc họp quan trọng nào đó hắn có là với cái toilet, chứ chẳng ai thấy hắn tới văn phòng hết”. “Vậy lúc đó hắn làm gì?”
“Chịu. Nhưng chắc chắn phải làm gì đó rồi. Cách hắn trả lời tôi quá trơn tru. Ý tôi là, tôi hỏi những việc từ sáu ngày trước lận. Có ai trên đời nhớ nổi mình đã dự cuộc họp nào từ sáu ngày trước đâu chứ? Nhưng thằng cha này rất quả quyết”. “Cậu bảo hắn là tôi đang ở Đức chứ?” “Có vẻ như hắn đã biết điều đó rồi”. “Cậu bảo hắn là tôi sẽ ở đây lâu chứ?” “Hắn có vẻ an tâm là cậu sẽ chẳng đến California trong thời gian sắp tới”. “Mấy tay này là bạn cũ của lão Willard”, tôi bảo. “Lão hứa với họ là sẽ cản tôi tới cùng. Lão điều khiển Đội 110 như nó là đội quân riêng của Thiết giáp vậy”. “Nhân tiện, tôi tự kiểm tra lý lịch bọn họ rồi. Nhất là Vassell và Coomer, vì cậu làm tôi tò mò quá. Không có gì trong hồ sơ cho thấy bọn họ biết đến một nơi tên là Sperryville, bang Virgina cả”. “Cậu chắc chứ?” “Như đinh đóng cột. Vassell quê ở Mississippi, còn Coomer ở Illinois. Cả hai chưa từng sống, hay trực tại nơi nào gần Sperryville cả”. Tôi lặng đi trong ít giây. “Bọn họ có vợ chưa?” tôi hỏi. “Vợ á?” Franz nói. “Có, có vợ con cả rồi. Nhưng toàn là người địa phương. Không có người thân bên vợ nào ở Sperryville”. “OK”, tôi bảo. “Vậy cậu tính làm gì?” “Lên đường tới California”. * * * Tôi cúp máy rồi đi dọc hành lang tới phòng Summer. Tôi gõ cửa và đợi. Cô mở cửa. Cô đã đi ngắm cảnh về. “Mẹ anh mất đêm qua”, tôi nói. “Em biết”, Summer đáp. “Anh trai anh vừa gọi em từ căn hộ. Anh ấy muốn em xem anh có ổn không”. “Anh ổn”, tôi bảo. “Em rất tiếc”. Tôi nhún vai. “Theo lẽ thường thì những việc thế này không nên làm ta ngạc nhiên”. “Khi nào vậy anh?” “Nửa đêm. Mẹ cứ thế buông xuôi”. “Em thấy có lỗi lắm. Đáng lẽ hôm qua anh nên ghé thăm bà. Anh không
nên mất thời gian đi với em. Ta chẳng nên đi mua sắm vớ vẩn làm gì”. “Anh gặp mẹ tuần trước rồi. Mọi người đều vui. Để tuần trước là lần cuối vẫn tốt hơn”. “Nếu là em thì em sẽ tranh thủ càng nhiều thời gian càng tốt”. “Ta sẽ luôn mong ước nhiều hơn nữa”, tôi bảo. “Hôm qua nếu anh ghé qua, vào buổi chiều, chẳng hạn. Thì anh nay sẽ ước mình đã ở lại đến tối. Nếu anh ở đến tối, anh sẽ lại ước mình đã ở đến nửa đêm”. “Nửa đêm qua anh đã ở cùng em. Em cũng thấy có lỗi vì điều đó”. “Đừng như vậy, tôi bảo: “Anh không thấy mình cần phải bận tâm. Vì mẹ anh cũng sẽ như vậy. Dù sao thì mẹ cũng là người Pháp. Nếu mẹ biết anh có những lựa chọn đó, mẹ sẽ bắt anh làm theo ấy chứ”. “Anh chỉ nói vậy thôi”. “Thật ra thì, mẹ cũng không hẳn là người nghĩ thoáng như thế. Nhưng mẹ luôn muốn hai anh em anh được hạnh phúc”. “Có phải bà buông xuôi vì thấy cô độc không?” Tôi lắc đầu. “Mẹ muốn được ở một mình, để có can đảm buông xuôi mới đúng”. Summer không đáp. “Ta đi thôi”, tôi bảo: “Ta bắt chuyến bay đêm về”. “Về California?” “Bờ Đông trước đã”, tôi bảo. “Có vài việc anh cần kiểm tra”. “Việc gì thế?” cô hỏi. Tôi không trả lời. Nếu tôi nói ra, hẳn cô sẽ bật cười, mà ngay lúc đó tôi không chịu nổi tiếng cười nào cả. * * * Summer dọn đồ rồi cùng tôi về phòng. Tôi ngồi trên giường, vân vê sợi dây thắt trên chiếc hộp của Monsieur Lamonnier. “Cái gì vậy?” cô hỏi. “Có ông già mang cho anh. Bảo là vật gì đó nên được ở cùng đồ đạc của mẹ”. “Có gì bên trong thế?” “Anh chịu”. “Anh mở ra đi”. Tôi đẩy nó qua giường. “Em mở đi”. Tôi nhìn ngón tay nhỏ nhắn của cô cởi nút thắt trên hộp. Nước sơn móng tay trong suốt của cô lấp lánh dưới nắng. Cô tháo nút thắt, rồi nhấc nắp hộp lên. Một chiếc hộp khá nông, làm bằng thứ các tông dày mà thời
nay hiếm thấy. Bên trong có ba món. Một chiếc hộp nhỏ hơn, như để đựng nữ trang vậy. Nó làm bằng các tông, phủ giấy màu xanh đậm có chữ in chìm. Rồi một cuốn sách. Và đồ cắt phô mai. Chỉ là một sợi dây thép có chuôi ở hai đầu. Chuôi làm từ loại gỗ cũ tối màu nào đó. Anh có thể tìm thấy nó ở bất cứ tiệm thực phẩm nào ở Pháp. Chỉ có điều là con dao này đã được thay dây. Sợi dây thép quá dày để cắt phô mai. Trông như dây đàn piano vậy. Trông nó cong queo và hoen gỉ, như thể đã cất từ rất lâu rồi. “Cái gì vậy?” Summer hỏi. “Trông như dây thít cổ vậy”, tôi bảo. “Cuốn sách viết tiếng Pháp”, cô nói. “Em không đọc được”. Cô đưa nó cho tôi. Một cuốn sách có bìa ngoài mỏng. Không phải tiểu thuyết. Mà là một dạng hồi ký. Góc trang giấy đã bị ố theo thời gian. Cả cuốn sách thoang thoảng mùi mốc. Tựa đề có ghi gì đó về đường sắt thì phải. Tôi mở ra đọc thử. Sau trang tựa đề là tấm bản đồ đường sắt của nước Pháp những năm 1930. Chương đầu tiên hình như mô tả cách các tuyến đường từ phía Bắc xuống đều dồn lại khi vào Paris rồi tỏa ra khi về Nam. Anh không thể đi tới những nơi khác mà không chuyển trạm ở thủ đô. Tôi thấy cũng dễ hiểu thôi. Pháp là một quốc gia khá nhỏ, với rất nhiều thành phố lớn. Nhiều quốc gia khác cũng làm vậy. Thủ đô luôn là trung tâm của lưới nhện. Tôi lật tới cuối cuốn sách. Có ảnh tác giả trên tay gấp thứ hai của cuốn sách. Tấm ảnh ấy chụp chính Monsieur Lamonnier hối bốn mươi năm trước. Tôi dễ dàng nhận ra ông. Dòng giới thiệu viết bên dưới ghi rằng ông đã mất cả hai chân trong các trận đánh vào tháng Năm năm 1940. Tôi nhớ lại cách ngồi cứng ngắc của ông trên sofa nhà mẹ. Và hai gậy chống nữa. Chắc ông đã phải dùng chân giả. Bằng gỗ. Cái tôi tưởng là đầu gối trơ xương hẳn là đầu nối cơ học phức tạp nào đó. Dòng giới thiệu kể tiếp rằng ông đã xây Le Chemin de Fer Humain. Đường ray Nhân loại. Ông được thưởng Huân chương Kháng chiến từ chính Tổng thống Charles de Gaulle, Huân