1 Kẻ Thù

phần lớn dân thường khi

phần lớn dân thường khi

phần lớn dân thường khi nhìn thấy tấm thẻ đó cũng đều có phản ứng y hệt. “Sáng sớm mồng năm tháng Giêng”, tôi nói. “Vào tầm hơm ba giờ sáng, các anh có nhận một bệnh nhân vào viện này”. Tay hộ lý lần trong một chồng bảng kẹp hồ sơ bằng nhôm trên chiếc bàn bên phải anh ta. Rồi kéo ra hai cái. “Bệnh nhân nam hay nữ nhỉ?” anh ta hỏi. “Nam”. Anh ta đẩy một tấm bảng trở lại chỗ cũ. Rồi rút cái kia hẳn ra ngoài. “Vô danh”, anh ta nói. “Bệnh nhân thuộc diện nghèo khó, không căn

cước, không bảo hiểm, nhận tên mình là Pickles. Cảnh sát tìm thấy anh ta trên đường”. “Người của bọn tôi đấy”, tôi bảo. “Người của anh à?” anh ta hỏi, nhìn đồng phục tôi mặc. “Bọn tôi có thể thanh toán viện phí của anh ta”, tôi đáp. Nghe vậy tại anh ta dỏng cả lên. Rồi liếc qua chồng bảng kia, như đang nghĩ Xong một tên, còn hai trăm nữa thôi. “Bệnh nhân nằm ở phòng hồi sức”, anh ta nói. Rồi chỉ tới thang máy. “Ở tầng hai”. Anh ta nán lại sau quầy. Ba chúng tôi đón thang máy đi lên. Rồi hướng theo bảng chỉ dẫn đến khu hồi sức. Một nữ y tá trực ngoài cửa chặn chúng tôi lại. Tôi giơ thẻ ngành ra. “Tìm anh Pickles”, tôi nói. Cô ta chỉ về một phòng riêng đóng kín cửa, đầu kia hành lang. “Chỉ năm phút thôi nhé”, cô nói. “Anh ta còn yếu lắm”. Trifonov mỉm cười. Chúng tôi đi dọc hành lang rồi mở cửa phòng riêng đó. Bên trong để đèn mờ. Một người đàn ông đang nằm trên giường. Y đang ngủ. Không biết vóc dáng y to bé thế nào. Tôi không thấy được mấy. Y bị bó bột kín người. Chân y được nâng lên còn hai đầu gối quấn loại băng khá to để chữa vết thương súng bắn. Đối diện giường của y đặt một bảng đèn ngay tầm mắt đính toàn hình chụp X-quang. Tôi bật nó lên và kiểm tra một chút. Tấm hình nào cũng ghi ngày và cái tên Pickles dọc theo mép. Chúng là hình chụp tay, ngực và chân y. Cơ thể con người có hơn hai trăm mười xương, và có vẻ như xương của Pickles đây đã gãy gần hết. Ngân sách chụp X-quang của bệnh viện này hẳn đã thụt đi không ít chỉ vì một mình y. Tôi tắt đèn tấm bảng và đá vào chân giường hai cái. Gã nằm trên giường cục cựa, tỉnh giấc. Y căng mắt nhìn trong ánh sáng mờ và vẻ mặt của y khi thấy Trifonov là đủ để làm chứng cho hắn. Vẻ mặt kinh hoàng tột độ. “Hai người đợi bên ngoài”, tôi nói. Summer dẫn Trifonov ra ngoài cửa còn tôi bước tới đầu giường. “Khỏe không, thằng chó?” tôi hỏi. Mặt thằng cha có tên Pickles kia trở trắng bệch. Mồ hôi túa ra đầm đìa, cả người run lên bần bật dưới lớp bó bột. “Nó đó”, y nói. “Cái thằng đúng kia kìa. Nó hành tao ra thế này đây”. “Anh ta làm gì mày?” “Nó bắn vào chân tạo”.

Tôi gật đầu. Rồi nhìn xuống lớp băng bọc vết thương súng bắn. Xương bánh chè của y đã bét nhè. Hai đầu gối, hai viên đạn. Súng bắn hai viên. “Bắn vào mặt trước đầu gối hay bên mé?” tôi hỏi. “Bên mé”, y đáp. “Nếu là mặt trước thì còn tệ hơn đấy”, tôi nói. “Mày may mắn lắm. Dù mày không xứng đáng nhận chút vận may đấy đâu”. “Tao có làm gì chứ”. “Vậy đó hả? Tao mới vừa gặp vợ mày này”. “Con chó ngoại quốc cù bơ cù bất”. “Đừng nói vậy”. “Lỗi tại nó cả. Nó không chịu nghe lời. Đàn bà phải biết nghe lời đàn ông. Trong Kinh Thánh viết vậy còn gì”. “Câm mồm”, tôi nói. “Thế mày không định làm gì hả?” “Có chứ”, tôi nói. “Làm đây. Xem này”. Tôi giơ tay như vừa phẩy một con ruồi đậu trên chăn. Rồi lấy mu bàn tay vỗ nhẹ vào mé đầu gối phải của y. Y gào thất thanh còn tôi bỏ ra ngoài cửa. Nữ y tá kia nhìn về hướng tôi. “Anh ta bệnh nặng lắm”, tôi nói. * * * Chúng tôi xuống thang máy rồi đi thẳng ra cửa chính để né mặt tay hộ lý. Cả ba bước ra chiếc Humvee trong im lặng. Tôi mở cửa sau cho Trifonov nhưng chặn hắn lại. Tôi bắt tay hắn. “Cho tôi xin lỗi”, tôi nói. “Tôi đang gặp rắc rối gì sao?” hắn hỏi. “Với tôi thì không, tôi nói. “Tôi ưa người như anh đấy. Nhưng anh may mắn lắm. Anh mà bắn trúng vào động mạch đùi thì thằng kia có khi đã chết rồi. Lúc đó tình hình sẽ khác”. Hắn khẽ mỉm cười. Mặt rất điềm tĩnh. “Tôi được GRU huấn luyện năm năm”, hắn nói, “Tôi biết cách giết người. Và tôi biết cách để người ta không chết”. (Untitled) (Untitled) (Untitled) (Untitled) MƯỜI SÁU (Untitled) Chúng tôi trả khẩu Steyr lại cho Trifonov và đưa hắn tới trước cửa khu

Delta. Chắc hẳn sẽ ký trả lại khẩu súng rồi lê về phòng với cuốn sách của mình. Và tiếp tục trang đọc dở dang ban nãy. Chúng tôi trả chiếc Humvee về bãi rồi trở lại văn phòng. Summer nhào ngay tới bản ghi chép ra vào trại. Nó vẫn nằm dính trên tường, ngay bên cạnh bản đồ. “Vassell và Coomer”, cô nói. “Chỉ có hai người họ rời trại đêm đó”. “Họ đi về hướng Bắc, tôi bảo. “Nếu cô nghĩ chính họ đã ném chiếc cặp táp kia ra khỏi xe, thì cô phải đồng ý với tôi rằng họ đã đi về hướng Bắc. Chắc chắn không xuống Nam đến thành phố Columbia rồi”. “OK”, cô nói. “Vậy hung thủ giết Carbone và Brubaker không phải bọn họ. Hai bên không có liên kết nào cả. Ta vừa phí cả đống thời gian”. “Đời là vậy đó”, tôi đáp. * * * Đời chợt trở nên tệ hại hơn nữa khi điện thoại của tôi reo lên hai mươi phút sau. Nữ trung sĩ của tôi gọi. Bà mẹ trẻ có đứa con trai ấy. Cô đang giữ máy cho Sanchez, anh ta gọi từ doanh trại Jackson. Cô liền nối máy cho chúng tôi. “Willard đến và đi rồi”, anh ta nói. “Không thể tin nổi”. “Tôi bảo rồi mà”. “Lão làm nhặng xị hết cả lên”. “Nhưng cậu vô can mà”. “Ơn Chúa là vậy”. Tôi khựng lại. “Cậu có kể lão nghe về hung thủ của tôi không?” Đến lượt anh ta khựng lại. “Cậu dặn tôi kể mà. Lẽ ra tôi không nên làm vậy à?” “Tôi đụng phải ngõ cụt rồi. Ban đầu tưởng ngon ăn, hóa ra không phải”. “Chà, đằng nào lão cũng đang đến chỗ cậu đó. Lão đi cách đây hai tiếng. Biết tin chắc lão thất vọng lắm”. “Tuyệt ghê”, tôi nói. * * * "Sếp tính làm gì đây?" Summer hỏi. “Lão Willard là ai?” tôi hỏi lại. “Về bản chất ấy”. “Một tay tham chức tham quyền”. “Chính xác”, tôi bảo. Theo nguyên tắc thì quân đội có tổng cộng hai mươi sáu cấp bậc. Lính mới tò te là binh nhì cấp E-1, và nếu không làm trò gì ngu ngốc sẽ tự động được lên binh nhì cấp E-2 sau một năm, rồi đến binh nhất E-3 sau một năm nữa, có thể sớm hơn nếu anh ta có chút tố chất. Rồi vị trí cao

nhất nằm trên đỉnh hệ thống cấp bậc này là Thống tướng Lục quân năm sao, dù ngoài hai ông George Washington và Dwight David Eisenhower ra thì tôi chẳng biết ai khác đạt tới được cấp ấy. Nếu anh tính cấp thượng sĩ E-9 thành ba bậc riêng rẽ để phân biệt Thượng sĩ Cố vấn Chỉ huy trưởng và Thượng sĩ cố vấn Lục quân, và tính cả bốn cấp chuẩn úy, thì một tay thiếu tá như tôi có bảy cấp trên và mười tám cấp dưới. Vì nằm ở vị trí đó nên một thiếu tá như tôi có thừa kinh nghiệm kháng lệnh, đi kháng lệnh và bị kháng lệnh, với cấp trên và từ cấp dưới. Với một cái thang hai mươi sáu bậc chia ra cho cả triệu người, thì thái độ bất tuân quân lệnh là một trò chơi đòi hỏi đẳng cấp. Và trò chơi này chỉ dành riêng cho hai người * * * Vậy là tôi bảo Summer tránh đi để một mình tôi đón tiếp lão Willard. Cô khăng khăng cãi. Cuối cùng tôi cũng thuyết phục được cô rằng trong hai người phải có một người không bị để ý. Cô bỏ ra ngoài ăn bữa tối muộn. Nữ trung sĩ của tôi mang cho tôi một ổ bánh sandwich. Thịt bò nướng với phô mai Thụy Sĩ, bánh mì trắng, một chút xốt mayonnaise, một chút mù tạt. Miếng thịt bò hồng hồng. Ổ bánh rất ngon. Rồi cô mang cà phê cho tôi. Tôi uống đến nửa ly thứ hai thì lão Willard mò đến. Lão xông thẳng vào phòng. Không thèm đóng cửa. Tôi không đứng dậy. Không giơ tay chào. Vẫn nhâm nhi ly cà phê. Lão bỏ qua thái độ ấy, y như tôi đã đoán. Lão tinh quái lắm. Lão nghe rằng tôi tóm được một nghi phạm có thể giúp lão tước vụ Brubaker từ tay Sở Cảnh sát Columbia và loại bỏ hình ảnh một đại tá ưu tú đi dây dưa với đám buôn ma túy trong một con hẻm nghiện ngập. Nên lão có ý đi nước cờ đầu thân thiện và hữu nghị. Hoặc có thể lão đang cố tìm cớ gần gũi với thuộc cấp. Lão ngồi xuống và ngay lập tức mân mê ống quần. Lão cố tỏ ra thân tình, như thể tôi và lão vừa cùng nhau trải qua một chuyện gì đó. “Lái xe từ trại Jackson tới đây thích thật”, lão lên tiếng. “Đường sá êm ru”. Tôi không đáp. “Tôi vừa mua một chiếc Pontiac GTO cổ”, lão tiếp. “Xe tuyệt lắm. Tôi gắn thêm mấy cổ pô mới tinh, mấy cái ống xả to đùng ấy. Xe bay như tên lửa vậy đó”. Tôi không đáp. “Cậu không thích dòng xe cơ bắp à?” “Không” tôi bảo. “Tôi thích đi buýt”.

“Vậy chán òm”. “OK, để tôi sửa lại lời chút. Tôi rất hài lòng với kích cỡ của quý của mình. Không cần phải mua xe to để bớt tự ti đâu”. Mặt lão chuyển trắng bệch. Rồi đỏ au. Hệt như màu xe Corvette của Trifonov vậy. Lão trừng mắt nhìn tôi ra vẻ dữ dàn lắm. “Báo cáo về vụ Brubaker đi”, lão nói. “Tôi đâu có điều tra vụ đó”. “Sanchez bảo cậu bắt được hung thủ rồi mà”. “Báo động giả thôi”, tôi đáp. “Cậu có chắc không?” “Như đinh đóng cột”. “Cậu đã điều tra những ai?” “Chỉ vợ cũ của ông thôi”. “Cái gì?” “Tôi nghe đâu bà ta đã lên giường với nửa số đại tá trong quân đội rồi. Chỉ đại tá, như sở thích ấy. Nên tôi đoán trong số đó có cả Brubaker. Ý tôi là, cũng có khả năng đó lắm chứ”. Lão gườm tôi. “Nói vui thôi”, tôi bảo. “Tôi chẳng điều tra ai cả. Đâu có manh mối gì”. Lão quay ngoắt đi, vẻ giận dữ lắm. Tôi đứng dậy đóng cửa phòng lại. Rồi trở về bàn làm việc. Ngồi xuống. Đối mặt với lão. “Cậu xấc xược khó ai bằng” lão nói. “Vậy ông Willard đây cứ việc đệ đơn tố cáo tôi đi. Vác thân lên cấp trên mà than rằng tôi làm ông bị tổn thương. Xem có ai tin được ông. Hay người ta sẽ nghĩ ông lại bó tay trước việc cỏn con như vậy. Để họ lưu cái bất lực của ông vào hồ sơ. Xem họ có rút lại cái đề bạt lên một sao của ông không”. Lão vặn người trên chiếc ghế. Lão cựa quậy người hết bên này lại qua bên kia rồi nhìn khắp phòng. Xong lại nhìn lên tấm bản đồ của Summer. “Cái gì kia?” lão hỏi. “Bản đồ chứ gì nữa”, tôi đáp. “Bản đồ vùng nào?” “Bờ Tây Hoa Kỳ”. “Mấy cái đinh ghim để làm chi vậy?” Tôi không đáp. Lão đứng dậy bước tới bức tường. Rồi đặt ngón tay dò la từng cái đinh một. Thủ đô Washington, Sperryville và khu Green

Valley. Rồi đến Raleigh, trại Bird, Cape Fear và thành phố Columbia. “Những điểm gì đây?” lão hỏi tiếp. “Chỉ là đinh ghim thôi mà”, tôi đáp. Lão rút cây đinh trên Green Valley, bang Virginia ra. “Vụ bà Kramer”, lão nói. “Tôi bảo cậu không dính vào nữa rồi cơ mà”. Lão rút tiếp những cái đinh còn lại. Ném chúng xuống sàn nhà. Rồi lão thấy bản xuất nhập trại. Lướt từ trên xuống tới khi bắt gặp cái tên Vassell và Coomer. “Tôi cũng đã yêu cầu cậu để yên hai người này”, lão nói. Lão giật tờ giấy ra khỏi bức tường. Mẩu băng dính kéo theo một mảng son. Rồi lão giật luôn tấm bản đồ. Thêm mấy mảng sơn nữa tróc ra. Đống đinh ghim để lại những lỗ nhỏ trên ván ốp tường. Bản thân mấy cái lỗ trông cũng như một tấm bản đồ vậy. Hoặc một chùm sao nào đó. “Cậu cắm thủng cả tường rồi này, lão nói. “Ai cho cậu phá hoại tài sản quân đội như thế chứ. Rõ là thứ nghiệp dư. Rồi người ta nghĩ gì khi thấy căn phòng nhếch nhác thé há?" “Ai nhìn mà chả biết tường này từng treo một tấm bản đồ”, tôi đáp. “Chính tay ông giật xuống làm bừa ra chứ ai”. Lão thả đống giấy nhàu nát xuống sàn. “Cậu muốn tôi đi gặp đội Delta không?” lão nói. “Ông muốn ăn đòn không?” Lão im re. “Cậu nên nghĩ đến việc đề bạt sắp tới của mình, Thiếu tá ạ. Cậu nghĩ mình sẽ lên được trung tá khi tôi còn ở đây sao?” “Không” tôi bảo. “Tôi chẳng dám mơ tới. Cơ mà, tôi cũng không nghĩ ông sẽ ở đây lâu đâu”. “Nghĩ lại đi. Ta thấy cái tổ này ấm lắm. Quân đội lúc nào mà chẳng cần Quân cảnh”. “Cần ai chứ chẳng cần thứ khốn nạn vô dụng như ông đâu”. “Anh đang nói chuyện với cấp trên đấy nhé”. Tôi nhìn quanh phòng. “Nhưng tôi nói gì nhỉ? Có ai làm chứng?” Lão im bặt. “Ông bị ảo tưởng sức mạnh quá đấy”, tôi nói. “Nhìn ông lóng ngóng như gà mắc tóc cũng vui. Hay là ông với tôi vào phòng tập tỉ thí với nhau một trận cho rõ chuyện đi. Ông muốn thử không?” “Cậu có máy fax cố định chứ?” lão hỏi. “Lại còn hỏi”, tôi đáp. “Để phòng ngoài chứ đâu. Ông đi qua mà không

thấy à. Ông bị gì vậy? Đã đần lại còn đui sao?” “Cậu liệu mà đứng canh nó đúng chín giờ sáng mai đi. Tôi sẽ gửi cho cậu vài chỉ thị bằng văn bản”. Lão lườm tôi lần cuối. Rồi bước ra ngoài, đóng sầm cửa mạnh đến nỗi rung cả tường, làm tấm bản đồ và tờ đăng ký xuất nhập trại nẩy lên khỏi sàn nhà cả mấy phân. * * * Tôi nán lại bàn làm việc. Rồi điện cho anh trai tôi ở Thủ đô Washington, nhưng anh không nghe máy. Tôi toan gọi cho mẹ. Nhưng lại chẳng biết phải nói gì. Dù tôi nói gì chăng nữa, mẹ cũng thừa biết tôi chỉ gọi để hỏi một câu duy nhất đó là: Mẹ còn sống không? mà thôi. Mẹ đi guốc trong bụng tôi mà. Vậy nên tôi đứng dậy nhặt tấm bản đồ rồi vuốt cho thẳng thớm. Xong thì dán nó lên tường. Tôi nhật bảy cái đinh ghim cắm lại chỗ cũ. Dán tờ xuất nhập trại bên cạnh bản đồ. Nhưng rồi tôi lại giật nó xuống. Vì nó chẳng hữu ích gì cả. Tôi vo nó lại rồi thảy vào thùng rác. Trên tường chỉ còn tấm bản đồ. Cô trung sĩ của tôi đem vào thêm cà phê. Tôi chợt nghĩ đến cha của đứa bé. Anh ta là ai? Liệu có phải từng là một kẻ ưa bạo hành? Nếu thật vậy, chắc anh ta đang nằm dưới đáy cái đầm nào đó rồi. Hoặc nhiều cái đầm, mỗi nơi chôn một mảnh chẳng hạn. Điện thoại chợt reo lên và cô đáp máy giùm tôi. Rồi đưa tôi ống nghe. “Thanh tra Clark gọi”, cô nói. “Từ bang Virginia”. Tôi vòng dây điện thoại quanh bàn rồi ngồi xuống. “Bọn tôi có tiến triển”, anh ta nói. “Thanh xà beng từ Sperryville chính là hung khí, chắc chắn vậy. Chuyên viên khám nghiệm xác nhận thanh xà beng mẫu giống hệt chúng tôi mượn từ tiệm dụng cụ đó khớp với các dấu vết”. “Khá lắm, tôi bảo. “Nên tôi mới gọi báo là chúng tôi không tìm tiếp được đâu. Chúng tôi tìm thấy chứng cứ mình cần rồi, nên không thể tìm giúp anh được nữa. Tôi không giải thích vụ ngân sách phát sinh ngoài giờ cho cấp trên được”. “Được thôi”, tôi nói. “Bọn tôi cũng đoán vậy mà”. “Nên từ giờ anh tự lo liệu nhé, bồ tèo. Chúng tôi lấy làm tiếc lắm”. Tôi không đáp. “Phía anh thế nào rồi? Đã cho tôi một cái tên được chưa?” Tôi mỉm cười. Quên cái tên đi, tôi nghĩ thầm. Bồ với chả tèo. Không

qua, không lại, sao toại lòng nhau. Mà từ đầu làm gì có cái tên nào đâu. “Có sẽ nhắn sau”, tôi đáp. * * * Summer trở lại và tôi cho cô nghỉ tự do tối nay. Dặn cô gặp tôi tại phòng ăn sĩ quan vào bữa sáng. Chính xác chín giờ, khi Willard fax chỉ thị mới. Tôi định là cả hai sẽ ung dung tận hưởng bữa ăn đó, với nhiều trứng, và nhiều cà phê, rồi thủng thỉnh về văn phòng chừng mười giờ mười lăm. “Sếp làm xê dịch tấm bản đồ rồi”, cô nói. “Willard giật nó xuống đó. Tôi phải dán nó lại”. "Lão nguy hiểm đấy”. “Có thể vậy”, tôi đáp. “Có thể không. Rồi sẽ biết thôi”. Chúng tôi trở về phòng riêng. Phòng tôi nằm ở dãy dành cho sĩ quan độc thân. Nhìn cũng giống một quán trọ. Một con đường mang tên thằng cha nào đó chết lâu rồi từng nhận Huân

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 139

Đang tải bình luận...