1 Kẻ Thù

hồi lâu.

hồi lâu.

hồi lâu. “Mẹ mệt”, mẹ đáp. “Mẹ mệt gì cơ?” Joe hỏi. “Mệt cuộc đời này á?” Mẹ mỉm cười. “Không, Joe ơi, ý là mẹ mệt thôi. Bây giờ muộn rồi và mẹ muốn đi ngủ, ý mẹ là vậy đó. Mai mình nói chuyện thêm nhé. Mẹ hứa. Đêm nay ta đừng làm lớn chuyện nữa”. Chúng tôi để mẹ đi ngủ. Vì đâu còn cách nào khác. Khó ai tưởng tượng nổi tính cố chấp của mẹ. Chúng tôi tìm thấy đồ ăn trong bếp. Mẹ đã để sẵn cho hai anh em. Rõ ràng là như vậy. Vì tủ lạnh của mẹ chất đầy những món vốn chẳng hấp dẫn gì đối với một người phụ nữ chán ăn. Chúng tôi ăn phần pâté với phô mai rồi ngồi xuống bàn uống cà phê. Bên dưới cửa sổ phòng mẹ năm tầng lầu, đường Rapp vẫn im lìm và vắng người. “Chú nghĩ sao?” Joe hỏi tôi.

“Em nghĩ mẹ không sống được bao lâu nữa”, tôi đáp. “Rốt cuộc thi, mình đến đây vì vậy mà”. “Mình thuyết phục mẹ đi chữa trị được không?” “Trễ rồi anh ạ. Chỉ tốn thời gian thôi. Mà mình làm sao thuyết phục nổi mẹ. Trước giờ có ai ép được mẹ làm điều mẹ không muốn chứ?” “Sao mẹ lại không muốn đi chữa bệnh nhỉ?” “Em không biết”. Anh chỉ nhìn tôi. “Mẹ là người chấp nhận số phận anh ơi”. “Mẹ mới có sáu mươi tuổi thôi mà”. Tôi gật đầu. Khi sinh ra tôi mẹ đã ba mươi tuổi, năm mẹ bốn mươi tám tuổi thì tôi rời nơi mình gọi là nhà. Từ ấy tôi không để ý đến tuổi mẹ nữa. Mẹ bốn mươi tám trông còn trẻ hơn tôi lúc hai mươi tám tuổi. Lần gần nhất tôi gặp mẹ là cách đây một năm rưỡi. Khi ấy tôi ghé lại Paris hai ngày, trên đường từ Đức đến Trung Đông. Lúc đó trông mẹ vẫn khỏe. Rất khỏe là khác. Khi đó mẹ vừa thành góa phụ được hai năm, và với nhiều người thì cái ngưỡng hai năm ấy đã là một chuyển biến lớn trong cuộc đời. Trông mẹ lúc đó vẫn còn khỏe mạnh lắm. “Sao mẹ không báo cho mình nhỉ?” Joe hỏi. “Em không rõ”. “Ước gì mẹ nói cho mình biết”. “Đời mà anh”. Joe chỉ gật đầu. * * * Mẹ đã dọn sẵn phòng cho khách, chuẩn bị chăn ra gối với khăn tắm mới và sạch sẽ, cũng không quên cài vài nhánh hoa vào chiếc bình sứ cạnh tủ đầu giường. Một căn phòng thơm tho với hai giường đơn. Tôi tưởng tượng cảnh mẹ chật vật một tay chống khung nhôm, tay còn lại xếp chăn gối, cho mọi thứ thẳng thớm. Joe và tôi không trò chuyện với nhau nữa. Tôi treo quân phục vào tủ và rửa ráy trong phòng tắm. Xong xuôi tôi đặt đồng hồ báo thức lúc bảy giờ sáng và trèo lên giường ngắm trần nhà trong khoảng một tiếng. Rồi tôi ngủ thiếp đi. * * * Tôi trở dậy đúng bảy giờ sáng. Joe cũng đã thức rồi. Có lẽ anh còn không ngủ. Có lẽ anh quen với nếp sống bình thường hơn là tôi. Có lẽ chuyến bay dài khiến anh mệt nhiều hơn tôi. Tôi dậy tắm rửa rồi lấy áo

thun với quần thụng dài cất trong túi đồ mặc vào. Sau đó gặp Joe trong phòng bếp. Anh đang pha cà phê. “Mẹ còn đang ngủ”, anh nói. “Chắc do thuốc”. “Để em đi mua bữa sáng” tôi bảo. Tôi mặc áo khoác vào rồi đi bộ tới tiệm bánh quen thuộc trên đường Rue St. Dominique. Tôi mua vài cái bánh sừng trâu với bánh xếp nhân sô cô la rồi đem về nhà. Mẹ vẫn đang trong phòng mình khi tôi về đến nơi. “Mẹ đang muốn chết đấy”, Joe nói. “Mình không để mẹ làm thế được”. Tôi không nói gì. “Sao thế?” anh hỏi. “Nếu mẹ nhặt súng lên tự gí vào đầu, thì chú có định ngăn không?” Tôi nhún vai. “Mẹ đã tự gí súng vào đầu sẵn rồi mà. Mẹ còn bóp cò từ cả năm trước rồi cơ. Mình đã đến quá trễ. Mẹ cố tình để vậy mà”. “Vì sao?” “Ta phải đợi mẹ tự nói ra thôi”. * * * Mẹ trình bày lý do của mình trong một cuộc trò chuyện kéo dài gần cả ngày với chúng tôi. Mẹ tiết lộ từng mẩu từng chút một. Chúng tôi bắt đầu trong lúc ăn sáng. Mẹ bước từ trong phòng ra, tắm rửa sạch sẽ và trông tươi tỉnh hết mức có thể đối với một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối bị gãy chân phải chống khung nhôm. Mẹ pha thêm cà phê rồi để mấy cái bánh sừng trâu tôi vừa mua lên đĩa sứ và trịnh trọng đặt lên bàn. Cách mẹ điều hành bữa sáng lôi chúng tôi về ngày xưa. Joe và tôi hóa thành hai đứa nhóc gầy nhẳng còn mẹ trở lại phong thái nữ tướng vốn có. Vừa là vợ quân nhân vừa là bà mẹ nội trợ thật không dễ dàng gì, một số chịu đựng được, một số thì không. Mẹ luôn là nhóm đầu. Nơi nào chúng tôi ở, nơi đó cũng là nhà. Mẹ luôn xoay xở để được như thế. “Nơi mẹ sinh ra cách chỗ này ba trăm mét đấy”, mẹ nói. “Trên đường Bosquet kia kìa. Từ cửa sổ đó mẹ nhìn thấy được cả điện Invalides lẫn trường quân sự. Năm mẹ lên mười tuổi thì quân Đức tiến vào Paris. Lúc ấy mẹ tưởng đã tận thế đến nơi rồi. Đến năm mười lăm tuổi thì họ rút đi. Lúc đó mẹ lại nghĩ một thời đại mới đã đến”. Anh Joe và tôi không đáp. “Bao tháng ngày sau đó tới nay là những món quà đối với mẹ”, mẹ nói tiếp. “Mẹ gặp bố, rồi có các con, rồi chu du thế giới. Mẹ nghĩ không có miền đất nào mà mẹ chưa từng ghé qua”. Chúng tôi vẫn im lặng.

“Mẹ là người Pháp” mẹ bảo. “Còn các con là người Mỹ. Giữa chúng ta là một trời khác biệt. Khi một người Mỹ bị mắc bệnh gì đó, cô ta sẽ tá hỏa. Tại sao điều đó dám xảy ra với cô ta chứ? Sai sót này cần được cô ta chỉnh đốn thật mau chóng, ngay và luôn. Nhưng người Pháp bọn mẹ hiểu đơn giản rằng đầu tiên ta sẽ sống, và sau đó ta chết. Đó nào phải việc gì đáng để tá hỏa. Từ cổ chí kim nó vốn là lẽ thường. Nó tất phải xảy ra, các con hiểu không? Nếu người ta cứ sống mãi không chết, thì thế gian này chật cứng người rồi”. “Nhưng thời điểm ta chết quan trọng chứ mẹ”, Joe nói. Mẹ gật đầu. “Phải”, mẹ đáp. “Ta chết khi đến lúc phải chết thôi”. “Thế thì tiêu cực quá”. “Không đâu, đó là thực tế, Joe ạ. Ta phải biết lượng sức mà tranh đấu. Đương nhiên ta sẽ chữa trị những bệnh lặt vặt rồi. Nếu bị tai nạn, ta phải chữa trị. Nhưng có những cuộc đấu tranh mà ta không thể thắng. Con đừng tưởng mẹ chưa suy nghĩ tường tận sự việc. Mẹ đã đọc sách báo. Mẹ đã hỏi bạn bè. Khả năng chữa trị sau khi đã xuất hiện các triệu chứng vô cùng thấp. Sống thêm năm năm, hay mười, hai mươi phần trăm khả năng gì đó, ai cần đâu? Mà đó là phải qua một cuộc điều trị kinh khủng nữa chứ”. Thời điểm ta chết mới quan trọng. Chúng tôi dành cả buổi sáng xoay quanh câu hỏi trọng tâm của Joe. Chúng tôi nói hết nước, từ góc độ này, đến góc độ kia. Nhưng vẫn chỉ ra một kết luận đó. Có những cuộc đấu tranh mà ta không thể thắng. Và đó cũng là một đề tài đáng thảo luận. Một đề tài chúng tôi đáng lẽ phải bàn từ mười hai tháng trước. Đến bây giờ nó đã mất hết ý nghĩa rồi. Joe và tôi cùng ăn trưa. Mẹ tôi thì không. Tôi đợi Joe hỏi tiếp câu hiển nhiên tiếp theo. Nó cứ lửng lơ ở đó. Cuối cùng thì anh cũng chịu hỏi. Joe Reacher, ba mươi hai tuổi, cao một mét chín tám, nặng một trăm ký, tốt nghiệp trường quân sự West Point, một tay máu mặt của Bộ Tài chính, úp hai tay lên bàn và nhìn vào mắt mę mình. “Mẹ không nhớ bọn con ư?" anh hỏi. “Con hỏi nhầm câu rồi đó”, mẹ đáp. “Lúc đó mẹ chết rồi. Còn nhớ gì nữa. Chỉ có các con nhớ mẹ ấy. Như các con nhớ đến bố vậy. Như mẹ nhớ bố nữa. Như mẹ nhớ ông ngoại, bà ngoại, và ông cố bà cố vậy. Tưởng nhớ người chết, đó là một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 115

Đang tải bình luận...